Thứ sáu, 04/12/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay969
mod_vvisit_counterHôm trước983
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Đại Việt Sử Lược - Quyển III E-mail
06/08/2020

83 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Mùa thu, có vị tăng sư ở sứ Tây Vực (vùng phía Tây nước Tàu) đến. Nhà vua mới hỏi vị sư ấy có điều gì làm được. Vị tăng sư thưa rằng: "Có thể hàng phục được loài cọp". Nhà vua sai quan Chi hậu Phụng ngự là Lê Năng Trường lưu tăng sư nơi nhà khách trọ rồi sai người bắt cọp để thử xem cái thuật ấy. Hơn mười ngày sau vị tăng sư bảo Lê Năng Trường rằng: "Cọp có thể khiến quì phục xuống được rồi". Lê Năng Trường tâu lên. Vua sai làm cái chuồng ở nơi khu gác Vĩnh Bình rồi sai vị tăng sư vào trong chuồng. Vừa bước vào, vị tăng sư niệm chú1 mà hướng về phía trước con cọp, dùng gậy khỏ lên đầu nó.Con cọp vồ cây gậy ấy. Vị tăng sư, vì thế, mà tâu rằng: "Có kẻ nào xấu giải mất cái linh thuật của thần chú. Xin luyện thêm lại rồi sau mới làm được. Nhà vua chịu cho theo lời xin ấy. Vị tăng lại luyện thêm ít lâu. Nhà vua muốn xem thử cho biết cái pháp thuật đến cùng. Một hôm vua lại sai vị sư vào chuồng. Cọp
bèn chạy nhẩy chụp cắn. Vị sư khiếp sợ thối lui, rồi thì không biết điều gì đã làm cho vị sư tựa vào chuồng mà chết.
Giữa mùa đông sao Huỳnh Hoặc (Hỏa tinh) hiện ra.
Năm Mậu Thân (năm 1188- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 3:
Mùa xuân, tháng 2 ngày mồng một có nhựt thực.
Mùa hạ, dựng cung Thánh Nghi.
Cuối mùa hạ có động đất.
Gió dữ dội.
Quan Thái sư là Đỗ An Thuận từ trần, nhà vua cho quan Thái phó là Ngô Lý Tín làm phụ chánh.
Mùa thu, người ở giáp Cổ Hoành làm phản2.
Năm Kỷ Dậu (năm 1189- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 4:
Mùa xuân, tháng 2 ngày mồng một có nhựt thực.
Mùa hạ, mặt trời, mặt trăng có sắc đỏ như máu.
Nhà vua sai Thái phó là Ngô lý Tín, Đô quan lang trung là Lê Năng Trường xét xử về cái vụ tranh tụng quan Thiếu sư là Mạc Hiển Tích. Bọn Lê Năng Trường sợ Mạc Hiển Tích nên không dám tìm tòi tra xét. Người trong nước cười giễu rằng: Ngô Phụ Quốc3 là Lan, Lê Đô quan4 là Kích.
Xét xử một vụ kiện tụng Mạc Hiển Tích mà chỉ bàn loanh quanh rồi thôi. Lúc bấy giờ vua thì còn nhỏ tuỗi, Mạc Hiển Tích lại tư thông với bà Thái hậu. Cho nên đương thời bấy giờ người ta sợ Hiển Tích là như vậy.
Lan, Kích là tên hai người cuồng5.
Các bậc tăng sư nước Đại Lý là Huệ Minh, Giới Nhựt v.v... sang chầu.
Năm Canh Tuất (năm 1190- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 5:
Mùa xuân, tháng 2 bà Thái hậu từ trần. Bà được đặt tên thụy là Linh Đạo.
Tháng 3 động đất.
1 Chú: Một lối văn trong kinh sách của Phật giáo, như chú Đại bi, chú Chuẩn đề, Tiêu tai kiết tường thần chú v.v... Theo nghĩa của
nhà Phật thì "chú" là lời chúc nguyện. Các tôn giáp khác như Đạo giáo đều có "chú". Xưa, các bậc đạo sĩ, thuật sĩ ẩn cư nơi thâm sơn cùng cốc để luyện thuật thần tiên cũng đều có "chú" riêng. Về sau, những kẻ phàm phu tục tử học đòi tu luyện mà tâm không
chính, ý không thành lại hay lợi dụng thuật huyền diệu để làm việc tà vạy, mưu cầu tư lợi; hoặc là sức học non kém nên hiểu sai lệch cái nghĩa cao thâm kỳ bí của Tổ sáng lập. Do đó mà "chú" không linh nghiệm và nạn mê tín dị đoan xảy ra.
2 Cổ Hoành tức là Cổ Hoằng, nay thuộc Thanh Hoá. Sách "Việt sử tiêu án" chép: Người giáp Cổ Hoằng thấy có vết chân trâu ở trên cây am la, trông lên là con trâu trắng, người xem bói toán nói: "con trâu là vật ở dưới đất, mà lại ở trên cây, đó là hiện tượng kẻ dưới được ở trên", nhân vì thế người giáp ấy mới làm phản (cây am la tức cây muỗm, quả như quả xoài, nhưng nhỏ và rất chua).
3 Ngô Phụ Quốc tức là Ngô Lý Tín làm phụ chánh nghĩa là làm việc giúp đở ấu chúa trông coi việc nước.
4 Lê Đô quan tức là Lê Năng Trường làm chức Đô quan lang trung.
5 Đã tra cứu cổ thư, nhưng không thấy chép về hai người cuồng này. Vả lại, theo đoạn văn trên chép là, người trong nước ví Ngô Lý Tín và lê Năng Trường là tên Lan tên Kích. Người trong nước là nói gồn cả vua quan và thứ dân. Lan, Kích: hai người cuồng mà
được cả hạng dân thường nước ta vào thời ấy biết đến thì có lẽ là người đương thời bấy giờ và là người của nước An Nam (?) mà ta chưa biết đích thực lai lịch vậy. Vì rằng, nếu là hai danh sĩ cuồng ngạo của Trung Hoa như Nể Hành chẳng hạn thì có nhiều lý
do khiến người dân thường bên ta khó biết đến, như là: Sách vở ít oi, người đọc được sách Nho lại hiếm, phương tiện phao truyền từ nước này đến nước khác khó khăn v.v...


84 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Nhà vua xuống chiếu lưu đày Mạc Hiển Tích1 ở trại Qui Hóa.
Quan Thái phó là Ngô Lý Tín từ trần, nhà vua dùng quan Thái phó là Đàm Dĩ Nông làm phụ
chánh. Năm Tân Hợi (năm 1191- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 6:
Nước Chân Lạp sang cống.
Dùng Đô quan lang trung là Lê Năng Trường làm Tả phụ, Đặng Tú Phụ làm Tham tri Chính sự.
Mùa đông, tháng chạp sao Huỳnh Hoặc phạm vào khu vực sao Thái Bạch2.
Năm Nhâm Tý (năm 1192- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 7:
Mùa xuâ, tháng giêng giáp Cổ Hoành thuộc Thanh Hóa làm phản. Trước kia, người ở trong giáp, đầu tiên thấy dấu chân trâu leo ở nơi cây am la (xem chú thích 485). Dò tìm theo dấu chân trâu mà coi thì thấy con trâu trắng ở trên cây, nó lại theo lối khác trèo xuống rồi vào trong sông. Nhưng bỗng nhiên
nó biến mất. Người trong châu bói quẻ cho rằng trâu là loài vật ở dưới mà lại ở trên cây rồi xuống, trâu ở trên cây là cái hiện tượng, theo đó, thì có viên tướng quản lãnh mưu phản. Đến lúc có sự làm phản thì vào mùa hạ, nhà vua xuống chiếu sai Đàm Dĩ Mông phát binh ở phủ Thanh Hóa đánh giáp Cổ Hoành.
Đàm Dĩ Mông sai chặt nhiều cây cối quăng xuống sông để ngăn chận thuyền giặc. Thuyền giặc chạy
ngang, chạy dọc nên không lập thành trận thế được. Đàm Dĩ Mông đánh cấp tốc, phá hại quân giặc dữ dội rồi bắt được tên trưởng quân phản nghịch là bọn Lê Vãn nhốt vào cũi đưa về Kinh sư. Nhà vua xuống chiếu cho bọn Lê Vãn lên ngựa gỗ3.
Mùa đông, tháng chạp cung Nghinh Thiềm phát hỏa (cháy).
Khơi (đào) sông Tô Lịch.
Xây bờ đê bằng đá.
Hồ Điệp4 ở Diễm Châu làm phản, Đàm Dĩ Mông đánh và bắt được.
Năm Quý Sửu (năm 1193- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 8:
Năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 9: (năm Giáp Dần- 1194- ND):
Mùa xuân, viên Thủ lãnh châu Chân Đăng là Hà Lê làm phản. Vua sai Đàm Dĩ Mông đi đánh và bắt được.
Giữa mùa hạ, nơi đầu con rồng bằng vàng ở điện Vĩnh Thọ phát ánh sáng.
Mùa thu, tháng 7 dùng vàng và bạc mạ tượng Phạn Vương5 và tượng Đế Thích6 rồi đem đặt tại hai ngôi chùa.
Thiết bày cuộc đua thuyền và ở hậu cung lại bày lễ yến tiệc.
Mùa đông, vua xem đánh cá ở Hối1. Ngày ấy trời đổ trận mưa đá, từng tảng đá lớn như đầu
ngựa rơi xuống, dân chúng đi xem rất đông.
1 Mạc Hiển Tích: người xã Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc tỉnh Hải Dương. Năm Bính Dần (1086) đời Lý nhân Tông Mạc Hiển
Tích đỗ đầu khoa thi chọn người văn học vào Hàn lâm viện, được bổ Hàm lâm học sĩ.
2 Thái Bạch tức là Kim Tinh thuộc phương Tây. Huỳnh Hoặc tức là Hỏa Tinh thuộc phương Nam mà phạm vào Thái Bạch là gặp Ngũ
hành tương khắc (hỏa khắc kim). Ấy là mắc phải hình kỵ.
3 Lên ngựa gỗ: Một hình phạt rất nặng. Xem chú thích số 400 quyển II. Lê Vãn là thủ lãnh của cuộc khởi nghĩa lớn, chống triều đình
nhà lý. (Ông Nguyễn Khắc Thuần chú thích).
4 Có sách chép là Hồ Đồ.
5 Xem chú thích số (323) và (324) quyển II.
6 Xem 493.


85 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Chiêm Thành và Chân Lạp sang cống.
Năm Ất Mão (năm 1195- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 10;
Mùa xuâm, tháng 2 vua ngự ở Đại Hưng, mở hội Quảng Chiếu Hoa Đăng.
Ngày Kỷ Tỵ vua ngự ở điện Thiên An và cho thiết bày lễ tiệc mùa xuân.
Động đất (mùa xuân- ND).
Tháng 5 lại có trận động đất nữa.
Chân Lạp sang cống.
Có nạn dịch lớn.
Năm Bính Thìn (năm 1196- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 11:
Ngày Mậu Dần cái gác Minh lý rung chuyển.
Đầu mùa đông mở khoa thi tam giáo (Nho, Phật, Lão- ND). Hàng con em thì viết bài thơ của
người xưa và làm các môn: toán, thơ, phú, kinh nghĩa.
Vua cho hạng Cập đệ2 và hạng Xuất thân3 có sự sai biệt nhau.
Năm Đinh Tỵ (năm 1197- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 12:
Mùa xuân, tháng 3 vua đi chơi cửa biển Long Thủy.
Xây cất cung Nghinh Thiềm và hành cung hơn 100 sở.
Mùa thu nhà vua xuống chiếu cho con cháu các bậc công khanh và các bậc đại thần (quốc tử)
vào học.
Thăng tước cho Đàm Dĩ Mông lên làm Liệt Hầu.
Năm Mậu Ngọ (năm 1198- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 13:
Đàm Dĩ Mông tâu với vua rằng: "Nay tăng đồ và phu dịch số lượng chẳng kém gì nhau. Bọn tăng đồ tự kết làm bè đảng, lập càn người lên làm chủ, tụ họp thành từng nhóm làm nhiều việc dơ bẩn. Hoặc ở giới trường, tịnh xá thì công khai ăn thịt, uống rượu. Hoặc nơi thiền phòng, tịnh viện thì kín đáo tự gian dâm với nhau. Ban ngày thì ẩn núp, ban đêm thì làm như chồn như chuột. Những hành vi làm bại hoại mỹ tục, làm thương tổn danh giáo dần dần sẽ thành thói quen, như thế mà không cấm thì lâu ngày tất sẽ càng thêm lên hơn nữa". Nhà vua nghe theo lời tâu ấy rồi cho Đàm Dĩ Mông triệu tập các tăng đồ ở trong cõi lưu lại ở chỗ vựa thóc mà giúp đỡ những kẻ còn biết đến danh giá, được vài chục người cho làm tăng. Số còn lại, thảy đều đánh dấu vào tay và bắt hoàn tục.
Nhà vua đi chơi ở Cẩm Đàm4 xem đánh cá.
Mùa thu mái hiên tòa Tả Võ Thắng rung chuyển.
Nhà vua ngự ở điện Thiên Khánh để cân nhắc phán xét các tội ngục hình ở viện Thượng Lâm.
Đầu mùa đông quan Thái phó Phụ quốc là Đàm Dĩ Mông phán xét những vụ ngục hình thuộc Đô hội phủ ở ngoài Trú quan.
Ở Lạng Châu sản xuất thiếc trắng, đồng màu xanh biếc và cây đại thanh5.
1 Hối: Chưa rõ ở đâu. Hoặc là biển, nguyên tác là Hải mà người chép lại sách viết ra chữ Hối chăng (?).
2 Cập đệ và xuất thân ở đây chưa phải là tiến sĩ cập đệ và Tiến sĩ xuất thân, vì triều nhà Lý chưa đặt học vị Tiến sĩ.
3 Xem 496.
4 Cẩm Đàm: có lẽ là Dâm Đàm.
5 Đại thanh: Một loại cây có củ, tính nó hàn. Người ta dùng củ này để làm thuốc chữa trị các bệnh cảm nhiệt.


86 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Năm Kỷ Mùi (năm 1199- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 14:
Mùa xuân, tháng 2 nhà vua đi phủ Thanh Hoá xem bắt voi.
Mùa hạ động đất.
Mùa thu xem khoa thi của học sinh.
Hậu cung bị bốc cháy.
Đàm Dĩ Mông dâng chim sẻ trắng, quạ trắng.
Năm Canh Thân (năm 1200- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 15:
Giữa mùa xuân, nhà vua đi trại ở núi Ngọc Sơn xem bắt voi.
Cuối mùa hạ động đất.
Mùa thu bày cuộc đua thuyền và lễ tiệc.
Năm Tân Dậu (năm 1201- ND) là năm Thiên Tư Gia Thụy thứ 16:
Năm Nhâm Tuất (năm 1202- ND) là năm Thiên Tư Bảo Hựu thứ nhất:
Mùa xuân, tháng giêng đổi niên hiệu. Quần thần xin vua đặt thêm tôn hiệu.
Mùa hạ, tháng 6 động đất.
Mùa đông, tháng 10 vua đi chơi ở hành cung Hải Thanh. Ở đấy đêm nào cũng sai nhạc công
khảy đàn Bà Lỗ, xướng điệu hát phỏng theo nhạc khúc Chiêm Thành, âm thanh ai oán thảm thiết buồn bả oán hờn. Những kẻ tả hữu nghe đến đều nghẹn ngào rơi lệ. Có Vị tăng phó là Nguyễn Thường thưa:
"Tôi thấy lời tự trong kinh Thi1 rằng, âm thanh lúc nước loạn thì ai oán, để tỏ ý căm giận cái chính trị bạo ngược; âm thanh hồi nước mất thì đau thương, để tỏ ý lo cho dân trong cảnh khốn cùng cơ cực. Nay
chúa thượng đi tuần du không có chừng mực, chế độ chính trị và việc giáo hoá thì trái ngược, dân chúng ở dưới thì sầu khổ. Sự nguy khốn đến thế thì thật là tột mức, mà ngày nay nghe cái âm thanh ai oán thì
không phải đó là cái điềm loạn ly vong quốc hay sao? Tôi muốn xa giá2 từ đây trở về đừng đi chơi nơi cái cung ấy nữa vậy".
Sau, ở trong cõi loạn lạc lớn đúng như lời nói ấy.
Năm Quý Hợi (năm 1203- ND) là năm Thiên Tư Bảo Hựu thứ 2:
Tháng giêng, xây cất cung mới ở phía tây tẩm điện (điện vua nghĩ ngơi- ND). Ở giữa dựng điện Thiên Thụy. Bên tả dựng điện Thiên Minh. Bên hữu dựng điện Thiềm Quang. Phía trước là điện An Chánh Nghi. Ở trên lại dựng điện Kính Thiên. Bậc thiềm (điện) gọi là Lệ Diêu. Nơi giữa mở cửa Vĩnh Nghiêm.
Bên hữu mở cửa Việt Thành. Bậc thiềm (cửa) gọi là Ngân Hồng. Đằng sau xây điện Thắng Thọ. (Trên điện Thắng Thọ- ND) dựng cái gác Thánh Thọ. Bên tả dựng gác Nhựt Kim. Bên hữu dựng gác Nguyệt Bảo. Chung quanh làm mái hiên. Bậc thiềm nhà ở giữa gọi là Kim Tinh. Bên hữu cái gác Nguyệt Bảo dựng cái gác Lương Thạch. Phía tây dựng nhà tắm. Đằng sau làm cái gác Phú Quốc. Bậc thiềm gọi là Phượng Tiêu. Phía sau dựng cửa Thẩu Viên. Đào hồ nuôi cá, trên hồ dựng đình Ngoạn Y. Đình ba mặt là cây cối, có những thứ hoa lạ, những loài cây khác thường. Nước hồ thông ra sông. Hồ được chạm trỗ
1 Kinh Thi là quyển sách thơ gồm những bài ca dao ở nơi thôn quê và nhạc chương ở nơi triều miếu của nước Trung Quốc, tự đời nhà Thương đến đời nhà Chu. Kinh Thi là một trong năm kinh. nguyên trước đó có đến 3000 thiên, sau đức Khổng Tử san định, chọn lọc lấy 305 thiên.
Bài học cốt yếu trong kinh Thi mà cũng là chủ ý của đức Khổng Tử khi san định kinh ấy là, không nghĩ đến điều xằng bậy dâm tà, đức Khổng Tử lại nói: "Người xem kinh Thi, có thể hứng khởi được chí khí, xem xét được việc chính, việc tà, hòa hợp với mọi
người. Bày tỏ nổi ai oán, gần thì học việc thờ cha, xa thì học việc giúp vua, lại biết được nhiều tên chim, muông, cây cỏ. Ngoài cái
ích lợi đó, kinh Thi còn là một kho điển tích, một nguồn thi hứng đã giúp các văn thi sĩ nước ta rất nhiều trong việc sáng tác văn chương.
2 Xa giá: Xe vua đi.


87 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
sửa sang rất công phu. Cái công việc kiến trúc đẹp đẽ này buổi xưa chưa có. Lúc cái gác Kính Thiên vừa mới hoàn thành, có con chim khách đến làm tổ ở trên ấy mà sinh ra chim con.
Quần thần nhân đó mới khuyên can vua rằng: Xưa, Ngụy Minh Đế1 mới dựng cái gác Lăng Tiêu,
có con chim khách đến làm tổ.
Ông Cao Đường Long thấy vậy mới thưa rằng: "Trong kinh Thi có câu:
Duy thước hữu sào
Duy cưu cư chi.
Tạm dịch:
Tổ con chim khách
Tu hú ở rồi.
Nay cung thất mới hoàn thành mà chim khách đến làm tổ, tôi ngu dốt cho là có người họ khác ở.
Tôi xin bệ hạ hãy soi xét cho xa".
Lời nói của Cao Đường Long, trước là cốt ở sự đè nén của lòng mình, tu sửa cho có cái đạo đức, rồi sau mới khởi xướng lên những công tác thì có thể được. Nhà vua vẫn cứ mặc nhiên.
Ít lâu sau, nhà vua đem việc ấy hỏi viên hoạn quan2 là Phạm Bỉnh Di. Phạm Bỉnh Di thưa rằng:
"Cái gác làm hoàn thành mà chim khách đến làm tổ, lại sanh ra chim con, như thế là trời cho bệ hạ cái điềm tốt vẫn giữ trăm đời". Nhà vua vui lòng rồi sai sửa sang gấp những cái sở ấy, trăm họ do đó càng khốn đốn hơn.
Mùa thu, tháng 7 quan Tri Châu Nghệ An là Điện tiền Chỉ huy sứ Đỗ Thanh và quan Châu Mục là bọn Phạm Diên tâu lên vua việc chúa nước Chiêm Thành là Bố Trì bị người chú của y là Bố Do đánh đuổi.
Bố Trì phải dùng hơn 200 chiếc thuyền Bị Lan chở vợ con của y đến ngụ ở cửa biển Kỷ La, muốn sang cầu cứu. Tháng 8, nhà vua sai quan Thái phó phụ quốc là Đàm Dĩ Mông, quan Xu mật sứ là bọn Đỗ An sang bàn nghị về việc ấy. Đàm Dĩ Mông đến kỷ La, Đỗ An nói rằng: "Bố Trì có đến 200 chiếc thuyền3, cái thằng lang sói dã tâm ấy, ta không thể hoàn toàn tin nó được.
Ngạn ngữ có câu rằng:
Nghị khổng hội đê,
Thốn yên liệu ốc,
Dịch nghĩa:
Cái lỗ kiến mà làm vỡ đê,
Chút khói mà làm cháy nhà.
Nay bọn Bố Trì thì đông, chớ há có phải riêng cái lỗ kiến, cái chút khói mà ta nói ấy đâu. Xin ông hãy xét kỹ". Đàm Dĩ Mông đem lời ấy nói với Đỗ Thanh và Phạm Diên. Đỗ Thanh và Phạm Diên thưa rằng: "Kẻ kia gặp nạn mới sang cầu cứu ở ta, ta nên đem lòng thành thực mà cứu giúp nhau. Nay, ngược lại ta ngờ vực họ hai lòng thì như vậy có đáng không?". Đàm Dĩ Mông giận bèn dẫn quân trở về.
1 Ngụy Minh Đế: Vua Minh Đế nhà Ngụy, tên Tào Duệ là cháu nội của Ngụy công Tào Tháo, cha là Ngụy Văn Đế Tào Phi, mẹ là Kiên
Thị nguyên là vợ của Viên Hy, tức là dâu Viên Thiệu, nhân hồi đi đánh Ký Châu, tiến binh vào Nghiệp Thành, Tào Phi bắt ép lấy
Kiên Thị làm vợ. Tào Duệ lên ngôi năm Bính Ngọ (226) và mất vào tháng giêng năm Kỷ tỵ (239) thọ 36 tuổi, ở ngôi 13 năm.
Tào Duệ, trong khi tại vị đã có những hành vi giống hệt Tần bạo chúa, như là bắt hơn 30 vạn dân phu ngày đêm xây cất điện đài, cầu thuật trường sinh v.v... khiến trăm họ lầm than... Hiền thần dâng biểu can ngăn, họ Tàu vẫn không đổi ý. Đến đời Tào Phương, Tào Hoán thì bị hiếp bức đủ cách rồi cuối cùng Tư Mã Chiêu phế đi mà lập nên nhà Tấn đúng như lời dẫn kinh Thi ở trên.
2 Hoạn quan tức là quan Thái giám, chỉ người đàn ông không có bộ phận kín, hoặc có mà tự hủy đi để làm việc hầu trong hậu cung
của vua. Xưa, người nước ta gọi là hoạn quan là ông "Bõ" hay ông "Giám".
3 Thời bấy giờ, khi bị đuổi bỏ mà dùng nhiều thuyền đến thế để chở vợ con đi lánh nạn thì đáng nghi lắm.


88 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Đỗ Thanh và Phạm Diên nóu với nhau rằng: "Bọn ta đã trái ý quan Phụ quốc (Đàm Dĩ Mông), tất không thoát điều chẳng lành, chi bằng hãy bí mật đem quân đánh Bố Trì, lấy đó làm kế vẹn toàn. Âm mưu bị
tiết lộ, cái kế phản lại ấy bị Bố Trì phát giác. Bố Trì sợ hãi bèn nói quân lính rằng là, bọn ta gặp nạn mới đến cầu cứu ở nước lớn. Nước lớn đã không có cái điều nghĩa thương xót mà trái lại còn muốn bắt tội làm tù nữa, đau đớn quá chừng. Rồi nhân đó Bố Trì dò xét tìm cách dụ Đỗ Thanh và Phạm Diên. Đỗ Thanh và Phạm Diên sai người ở Nghệ An buộc thuyền (của triều đình) vào với thuyền Bị Lan của Chiêm Thành để giữ. Người Chiêm Thành ban đêm lấy đuốc bằng tre có đặt đồ binh khí mà giấu vào trong thuyền. Một đêm, lính giữ thuyền mệt mỏi mới bỏ việc phòng bị mà đi nằm. Quân Chiêm Thành nhân đó đốt đuốc ném vào thuyền ấy. Lính giữ thuyền kinh sợ vùng dậy không biết lẽ gì đã gây ra, rồi tất cả đều nhảy xuống nước. Số người bị quân Chiêm Thành giết và bị chết đuối hơn 200 quân Đỗ Thanh và Phạm Diên thua to1, rồi Bố Trì quản lãnh dân binh trốn về nước hắn.
Tháng 9 có người ở Đại Hoàng2 là Phí Lang làm phản. Trước đó người ở Đại Hoàng xây cửa Đại Thành, nghe Lâm Ấp, Đà Mỗ Ấp đã làm phản, bèn đốc xuất quần chúng trốn về mà làm phản.
Thượng tướng quân là Nguyễn Bảo Lương và quan lại bộ Thượng thư là Từ Anh Nhị tâu ngay lên vua rằng Đàm Dĩ Mông là tên mọt quốc hại dân, không có chi tai hại bằng. Nhà vua xuống chiếu giáng Đàm Dĩ Mông xuống hàng đại liêu3.
TRước kia Nguyễn Bảo Lương (chậm trể công việc)4 xây cái gác Thánh nhựt, Đàm Dĩ Mông giận, sai đánh Lương. Nguyễn Bảo Lương giả vờ đau quá không thể ngồi dậy được. Đàm Dĩ Mông kêu dậy.
Nguyễn Bảo Lương thưa rằng: "Lấy gậy đánh đau như thế này, há có thể dậy được sao?". Trong lòng Nguyễn Bảo Lương chứa đựng mối căm giận từ đó.
Ngày Ất Tỵ, nhà vua dùng quan Chi hậu Phụng ngự là Trần Hinh làm Lãnh binh Nguyên soái để đánh Đại Hoàng. Vua lại sai luôn quan Lại bộ Thượng thư là Từ Anh Nhị đem binh ở Thanh Hóa đi đánh Đại Hoàng.
Ngày Giáp Dần Từ Anh Nhị đóng quân ở cửa sông Lộ Bái5.
Trần Hinh và Phí Lang gặp nhau, quân hai bên giao chiến. Từ Anh Nhị đến cứu Trần Hinh, nhưng đều thất bại và bị Phí Lang giết.
Năm Giáp Tý (năm 1204- ND) là năm Thiên Tư Bảo Hựu thứ 3:
Nhà vua sai quan Thái bảo Phụ quốc là Đỗ Kính Tu6 đánh Đại Hoàng.
Kính Tu hèn nhát không dám vào sâu trong vùng địch mới dừng binh ở Việt Loan mà chia quân tiến đánh vào các đạo. Nhưng rồi Kính Tu chỉ qua lại trong khoảng An Lão thuộc Chương Sơn mà thôi,
Kính Tu lại dâng thư lên vua nói rằng là, đang lúc tháng hạ vô cùng oi bức, trời nắng, nóng sốt, lính thì già yếu mà lương thực lại hết... Nhà vua bèn triệu về.
Tháng 5 vua lại sai quan Quan nội hầu là Đỗ Anh Doãn đi đánh Đại Hoàng, nhưng cũng lại
không đánh nỗi phải kéo quân về.
Rồng vàng hiện ra ở nơi gác Thánh Nhựt.
1 "Việt sử tiêu án" chép, người trục xuất Bố Trì là Bố Điền, chứ không phải là Bố Do. Có lẽ chữ Do chép nhầm ra chữ Điền. Và cũng
sách "Việt sử tiêu án" chép, trong trận này Phạm Diên bị tử trận. Nghệ An tan vỡ.
2 Đại Hoàng là nơi sanh trưởng của Đinh Tiên Hoàng đế, tức thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ngày nay.
3 Đại Liêu ban: Hàng quan lớn nhưng thấp hơn Tam công. Tam công là ba chức quan lớn nhất của triều đình (chính phủ): Thái sư,
Thái phó, Thái bảo. Đàm Dĩ Mông nguyên trước giữ chức Thái phó Phụ chánh.
4 Bốn chữ trong ngoặc đơn nguyên bản không có, chúng tôi căn cứ vào bản sử khác mà thêm vào, vì nghĩ là, có lẽ người chép lại
sách chép sót.
5 Lộ Bái tức Lộ Bố, tên sông ở Ý Yên- Nam Hà.
6 Bộ "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú, quyển 6, phần nhân vật chí chép: Lý Kính Tu, nguyên giòng họ Đỗ, được vua nhà Lý cho lấy họ tôn thất. Vậy "Đại việt sử lược" chép Đỗ Kính Tu là chép đúng họ thật. Phan Huy Chú đã liệt Đỗ Kính Tu vào bậc công thần phò tá có công lao và tài đức của thời Lý.


89 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Tháng 8 rồng lại hiện ra ở điện Thánh Thọ, bay vòng quanh nơi cửa phòng ngủ của vua và ở chỗ vua ngồi trong điện Thiên Thụy, để lại dấu móng chân gần hơn một trăn chỗ.
Rồng lại hiện ra ở hậu cung ba lần, dẫn người cung nữ ở hậu cung ấy là Lê nương (cô nàng họ Lê) để ở nơi đầu điện.
Tháng 10, sai Đàm Dĩ Mông đem binh ở các đạo đi đắp bờ lũy từ con kinh bà Câu về phương Bắc dọc theo con đường chạy tới cửa sông đến trại Văn Lôi để ngăn chặn người Đại Hoàng.
Có trận gió lớn.
Năm Ất Sửu (năm 1205- ND) là năm Thiên Tư Bảo Hựu thứ 41:
Trước kia, Đàm Dĩ Mông đắp lũy xong, lại đóng vài chục chiếc thuyền lầu (thuyền có lầu ở trên-
ND) rồi sai Phú Lương là tay cung nỏ ở trên đấy. Dùng dây dài buộc đuôi thuyền và ra lệnh rằng: "Hễ giặc đến thì chèo thuyền qua sông mà bắn. Nếu như có sự bất lợi thì chèo thuyền trở về". Và Đàm Dĩ
Mông bị triệu về kinh. Người Đại Hoàng đem phe đảng của chúng đóng ở nơi bờ sông phía Bắc. Lính thú
(bên triều đình- ND) đã làm theo như lời Đàm Dĩ Mông dạy. Người Đại Hoàng đổ lên bờ, đánh trống, kéo thuyền reo hò ầm ỹ. Lính thú rốt cuộc thấy cái thế quá lớn nên người nào cũng tự nhiên kinh sợ bỏ dây mà chạy. Thuyền đậu nơi bờ giặc đóng, mà những tay cung nỏ thì đã bị giết hết cả. Quan quân thua to.
Bọn Phí Lang ỷ vào vài cái chiến thắng ấy bèn cứ theo cái chủ trương sẵn có của chúng.
Rồi Thổ man rợ Lão là bọn Quan Sạn lại tiến đánh, san bằng một dãy xóm. Thiêu hủy hành cungỨng Phong, và kho thóc cùng nhà cửa ở trong bộ lạc gần hết. Sau đó chúng kéo đến Hiện Động thì bị người ở động ấy đón đánh giết phá chúng dữ dội.
Mùa thu, tháng 8 nhà vua sai quan Thị vệ đô Hỏa đầu là Nguyễn Vị sang chiêu dụ người Đại
Hoàng. Nguyễn Vị đến, Phí Lang cùng với bọn hào trưởng2 hơn 170 người ra hàng.
Tháng 9, ngày Nhâm Thìn đổi niên hiệu là Trị Bình Long Ứng năm thứ nhất.
Tháng đó núi Lãm sụp đổ.
Rồng vàng hiện ra ở điện Thắng Thọ.
Điện Thiên Thủy xây cất hoàn thành, nhà vua cho quần thần ba ngày dự yến tiệc để mừng về
công cuộc mới làm xong ấy.
Nhà vua lại rất tham về của lợi, bèn đem bán chức quan3 bán tội ngục.
Bán tội ngục là việc, như hai người tranh giành nhau, về ruộng đất hay sản vật mà một người
dâng nạp tiền của là điều lấy hết vào làm của công, mà chẳng hỏi đến cái tình lý phải trái ra sao. Cho nên kho đụn nhà nước thì tiền của chất chứa như núi mà trăm họ thì than thở oán trách, giặc cướp nổi lên như ong.
Năm Bính Dần (năm 1206- ND) là năm Trị Bình Long Ứng thứ 2:
Mùa xuân, tháng giêng vua ngự ở gác Kính Thiên để xem cuộc ném "phi đoàn"4.
Tháng 2, ngày Nhâm Tý nhằm ngày mồng một có nhật thực.
Tháng 3 cung Phụng Thiên bị cháy.
Mùa hạ, tháng 5 xây chùa Thánh Huân.
1 Sách này bản chữ Hán chép: "Thiên tư bảo Hựu nhị niên" là chép nhầm.
2 Hào trưởng: Cũng như hào mục là người đứng đầu, người tai mắt có thế lực trong làng.
3 Như thế thì những kẻ dốt nát tham lam độc ác mà có tiền bỏ ra là được làm quan, bậc hiền tài tất không thể chịu nổi cảnh đồng
sàng với bọn này. Mối nguy vong là ở đó.
4 Phi đoàn: Đoàn là hình tròn. Đây có lẽ là vòng kim loại tròn hoặc cái đĩa tròn, tấm kim loại dẹp tròn. Những vật này phóng lên
không thì bay đi xa hơn những vật có hình khối.


90 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Mùa đông, tháng 10 sửa sang lại chùa Chân Giáo.
Năm đó ở trong cõi đã loạn lạc mà nhà vua lại thích đi chơi, đường xá mắc nghẽn không còn chỗ nào có thể qua được. Nhà vua bèn ở lại nơi hồ Ứng Minh, sai lập riêng hai cái hành cung là Ứng Phong
và Hải Thanh. Rồi ngày ngày cùng bọn cung nữ và những cận thần vào xem chơi, mà lấy làm vui thú. Lại dùng thuyền to làm thuyền ngự, thuyền nhỏ thì chia làm hai đội, sai bọn cung nữ và phường trò chèo đi,
tả hữu nghiêm trang, cứ y như là vua ngự đi đâu xa vậy. Lại lấy xấp lụa có bao sáp ong ở ngoài cùng với các loài hải vật đem thả chìm vào trong hồ, xong sai người lặn vào trong nước mà lấy rồi cho là vật của Long cung1 dâng hiến.
Quần thần thấy việc vui chơi không có chừng mực như vậy đều sợ hãi mà không dám nói ra. Có tên hát xướng là Võ Cao nói dối với quan Thượng phẩm Phụng ngự là Trịnh Ninh rằng: "Vừa rồi Cao đi qua thấu bên hồ, thấy một người lạ nắm tay Cao men theo hồ mà đi đến cây am la. Bổng nhiên dẩn vào trong nước, Cao sợ chết chìm nên không dám bước tới trước. Trong chốc lát thì nước thình lình tự rẽ ra, rồi đi (theo lối rẽ ấy- ND) đến một xứ, Cao thấy cung điện rực rỡ, thị vệ rất oai nghiêm, Cao mới hỏi, đó là nơi ai? Người ấy đáp rằng: "Ấy là nơi ta ở để quản lãnh cai trị cái hồ này. Rồi thì bày chén, bày mâm ra đặng cùng với Cao đối ẩm. Tàn cuộc rượu Cao cảm tạ để xin về. Người ấy ra ơn, đem cho quả cau và
đưa Cao về đến dưới cây am la. Nhưng bổng chốc không còn thấy người ấy đâu cả mà quả cau ở trong
tay Cao thì đã hóa thành viên đá rồi. Thế mới biết trong hồ có thần vật vậy. Trịnh Ninh đem tâu với vua.
Nhà vua tuy nghe lời nói ấy mà không sợ hãi chút nào, rồi sai lấy tiền2 để trấn yểm cái hồ.
Đến tháng đông hồ khô cạn. Nhà vua bảo kẻ tả hữu rằng: "Ai có thể làm nước sông dâng lên
chảy tràn vào trong hồ thì ta sẻ hậu thưởng cho". Có tên nịnh thần là Trần Túc thưa rằng: "Tôi làm được việc ấy". Nhà vua nghe nói làm được bèn sai thực hành cái phương pháp của hắn. Nhưng rồi chẳng có hiệu nghiệm gì.
Một hôm vua đi chơi ở nơi cái hồ ấy, nghe ngoài thành có kẻ bị đánh cướp mới kêu la lên, mà
nhà vua còn mê chơi một cách thong thả, nên giả vờ không nghe.
Nhà vua có tính sợ sấm, mỗi khi sấm động thì lấy làm kinh sợ lắm. Tên cận thần là Nguyễn Dư tự xưng là có cái thuật làm hành phục (làm im) được tiếng sấm. Gặp lúc sấm rền, nhà vua sai Nguyễn Dư làm phép. Nguyễn Dư ngửa mặt lên trời đọc "chú" mà tiếng sấm càng dữ hơn. Nhà vua vặn hỏi Dư.
Dư thưa rằng: "Tôi răn đe nó (tiếng sấm) lâu rồi, ngờ đâu nó lại còn mạnh dữ như thế".
Năm Đinh Mão (năm 1207- ND) là năm Trị Bình Long Ứng thứ 3:
Người ở Đại Hoàng là Phí Lang làm phản, đánh ấp Tạp Tự.
Tháng 3, giặc ở châu Quốc Oai là Đoàn Khả Liệt và Vương Mãn làm phản.
Mùa hạ, tháng 4 Đàm Dĩ Mông được phục chức Phụ chánh.
Mùa thu, tháng 3 Đoàn Thượng và Đoàn Chủ làm phản3.
Nhà vua sai đem đại binh đi đánh. Đàm Dĩ Mông xuất phát đạo Đại Thông. Bảo Trinh hầu xuất
phát đão Nam Sách. Quan Thượng phẩm Phụng ngự là Phạm Bỉnh Di xuất phát đạo Khả Liểu. Quan Chi hậu Hỏa đầu là Trần Hinh xuất phát đạo Phù Đái. Các đạo sắp sửa muốn hợp nhau để đánh. Đoàn Thượng đương khi ấy ngầm sai người đem của đút lót quan Thượng phẩm Phụng ngự là Phạm Du xin
hãy rút quân về. Phạm Du hết sức xin vua và được vua sai sứ triệu bọn Đàm Dĩ Mông. Rút quân về,
1 Long cung: Tục truyền rằng dưới nước có Long thần. Chỗ Long thần ở gọi là Long cung.
2 Nguyên tác là tiền. Có người bảo là chữ đồng, vì thuật thông dụng của đạo giáo dùng đồng để yểm tà, trừ yêu.
3 Theo "Đại Việt sử ký toàn thư" thì việc làm phản của Đoàn Thượng là vào năm 1212 đời Lý Huệ Tông. Sách "Việt sử tiêu án" chép:
Đời Lý Huệ Tông đâu đâu cũng có giặc cướp nổi lên không ngăn cấm nổi. Vua ủy nhiệm cho Đàm Dĩ Mông mà Dĩ Mông lại nhu
nhược không quyết đoán. Chính sự ngày thêm rối nát. Vua sai Đoàn Thượng mộ dân ở Hồng Châu đi bình giặc. Thượng thấy vua
còn nhỏ mới chuyên quyền tác oai, tác phúc, bị quần thần hạch tội, giam lại để tra xét. Thượng thoát chạy về Hồng Châu xây đồn
lũy, làm phản, tiếm hiệu xưng vương. Đến đời Trần Thái Tông, Thượng bị Nguyễn Nộn (cũng là phường phản tặc đối với triều
đình ta) đánh bại và bị giết chết.


91 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Đoàn Thượng mới thoát khỏi được trận ấy. Từ đó Đàm Dĩ Mông, Phạm Bỉnh Di và Phạm Du có sự hiềm khích nhau.
Năm đó, nhà vua thấy giặc cướp nổi lên như ong mới hối hận về những việc đã qua, những lỗi
lầm về trước. Vì thế, nhà vua mới xuống chiếu rằng: "Trẫm đang lúc còn nhỏ mà phải gánh vác cái sự nghiệp lớn lao, ở chỗ kín tầng sâu xa mà không biết được những việc gian khổ của dân, lại tin dùng lời tâu rỗi của kẻ tiểu nhân1 để rước lấy sự oán trách của lớp người ở dưới.
Nhân dân đã đều oán trách, Trẫm sẻ trông cậy vào ai? Bây giờ, Trẫm xin cái hối, Trẫm tự sửa
chữa lỗi lầm để bắt đầu sống cùng với dân2.
Những người có đất đai, sản nghiệp bị mất về tay các quan thì được trả lại tất cả.
Năm Trị Bình Long Ứng thứ 4 (năm Mậu Thìn- 1208- ND).
Có nạn đói lớn, người chết nằm gối lên nhau:
Mùa đông tháng 10 trời lụt lội.
Tháng chạp có người ở Lộc Châu thuộc nhà Tống là Vi Trí Cương đánh Lạng Châu.
Nhà vua dùng Phạm Du làm Tri Châu Nghệ An lãnh đạo việc quân. Phạm Du tâu với vua rằng:
"Nay thiên hạ nhiễu loạn, gian tặc nổi lên như ong. Hoặc có kẻ cùng với tôi mà lại có tính nghét thương theo cái tình riêng, rồi gây nên bạo loạn, đầu của tôi mà còn không có thể giữ được, huống chi là sự ơn đức của bệ hạ. Xin bệ hạ hãy nghĩ ngợi thêm một tí nữa mà cho tôi được chọn lựa kẻ cường tráng, dũng
mãnh để tự phòng bị một cách đầy đử, mong tránh được những mối lovề những hiểm họa". Nhà vua cho là phải. Do đó Phạm Du mới chiêu nạp bọn vong mệnh3, tụ họp lũ giặc cướp mà kêu gọi rằng: "Các anh công khai đi cướp bóc, không có điều gì kiêng sợ cả, bọn giặc cũng vì thế mà nổi lên như ong..." Mà quả vậy, Quốc Oai cũng đốc xuất đồ đảng của họ đến đóng ở Tây Kết. Người ở trại Văn Lôi ở sông Đà Mạc
(còn gọi là Tha Mạc)4.
Từ đó đường sá bị ngăn trở cắt đứt, ghe thuyền không đi lại được. Nhà vua sai quan Thượng
phẩm Phụng ngự là Phạm Bỉnh Di đem người ở Đằng Châu5 đến ngăn giặc, thì Phạm Du lại kéo về làng
Cổ Miệt6 rồi cùng với người ở vùng Hồng7 là bọn Đoàn Thượng, Đoàn Chủ hợp binh đánh Đằng Châu.
Người Đằng Châu xin Phạm Bỉnh Di đánh Du nhưng không thắng bèn rút quân về.
Năm Trị Bình Long Ứng thứ 5 (năm Kỷ Tỵ- 1209- ND):
Mùa xuân, tháng giêng, Phạm Bỉnh Di lại đốc xuất người ở Đằng Châu và Khoái Châu đánh
Phạm Du. Nhưng đánh bị thua mấy trận, Phạm Bỉnh Di tức giận chém chết những người nào bỏ chạy để răn bảo quân sĩ. Đến ngày khác lại giao chiến và Phạm Bỉnh Di thắng trận. Phạm Du chạy trốn ở vùng
1 Tiểu nhân: Theo xã hội phong kiến đời nhà Chu thì tiểu nhân là bọn người bình dân bé nhỏ ở dưới mà quân tử (con của vua) là lớp người quý tộc ở trên cầm quyền cai trị. Nhưng Nho giáo chủ trương lấy đạo đức làm nồng cốt cho chính trị, trị dân bằng đức,
kẻ cầm quyền là kẻ có đức. Cho nên quân tử là mẫu người hoàn hảo, chủ yếu lấy đường nhân ái, trung tín của thánh hiền làm
mục đích. Còn kẻ tiểu nhân tức là lớp người bị trị ở dưới là hạng tầm thường. Hạng này gặp lúc cùng thì làm điều xằng bậy (cùng tự lạm hỹ), hay ganh ghét những ai hơn mình. Lúc được thì vênh vang tự đắc, lúc thua thì tức giận, lại có tính a tòng, vào luồn ra
cúi, nịnh bợ người trên, suồng sã kẻ dưới v.v...
2 Lời vua vô cùng cảm động. Có lỗi và tự nhận lỗi là điều đáng kính.
3 Vong mệnh: kẻ bỏ nhà đi.
4 Đà Mạc hay Tha Mạc, nay là vùng Khoái Châu Hưng Yên.
5 Đằng Châu: Nay là Động Hưng Yên.
6 Cổ Miệt: Nay thuộc Hưng Yên.
7 Vùng Hồng tức là Thượng Hồng (nay là phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương) và Hạ Hồng (nay là phủ Ninh Giang).


92 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Hồng. Phạm Bỉnh Di tịch biên nhà cửa của hắn mà đem đốt phá đi. Phạm Du và Phạm Bỉnh Di càng thêm
oán ghét nhau1.
Nguyễn Phá Lân là người ở Trư Động hướng dẫn bộ hạ của hắn, ban đêm đến đánh cắp tài vật ở Đội Xá2.
Giờ tuất3 ban đêm mặt trời xuất hiện.
Tháng 3, mặt trời bổng mờ tối, qua một lúc thì chiếu sáng trở lại.
Ngày Đinh tỵ, Phạm Bỉnh Di lại đánh người ở vùng Hồng là Đoàn Thượng và Đoàn Chủ tại Vệ
Kiều. Người vùng Hồng thua tan, Đoàn chủ bị hãm ở chỗ bùn lầy và bị Hà Văn Lôi đâm chết.
Nhà vua sai quan Chi hậu Phụng ngự là Trần Hinh đi triệu Phạm Du về kinh sư.
Mùa thu, tháng 7 Phạm Bỉnh Di đến kinh sư, sắp vào dâng trình lên vua những sự việc. Có kẻ
ngăn cản Phạm Bỉnh Di lại mà nói rằng: "Nhà vua trước đã nghe lời tâu của Phạm Du nên giận ông chưa nguôi". Phạm Bỉnh Di nói rằng: "Tôi giúp chúa thượng hết lòng trung mà lại bị người ta gièm pha đấy
chăng? Huống chi có mệnh lệnh của vua, tôi còn biết chạy đi đâu!" Nói xong Phạm Bỉnh Di bèn đi vào, nhà vua sai bắt lại và bắt cả người con của Di tên là Phụ đem cầm tù ở thủy viện. Bộ tướng của Phạm Bỉnh Di là Quách Bốc đem quân đến phá cửa thành vào cứu Bỉnh Di. Nhà vua nghe sự việc gấp gáp mới cho triệu Bỉnh Di vào Lương Thạch xứ4 (chỗ tảng đá ngồi hóng mát- ND) ở trong thềm Kim Tinh.
Chốc lát thì Phạm Du cùng với em (trai) của hắn là bọn Kinh đều trong ngự đường đi ra, cầm đồ binh khí của vua giết Bỉnh Di và Phụ. Bọn Quách Bốc nghe Bỉnh Di chết bèn sai quân sĩ đột nhập vào
Lương Thạch xứ, lấy những đồ dùng của vua là xe Cân xa để khiêng thây Bỉnh Di, lấy chiếu của vua gói cái thây của Phụ rồi từ cửa Việt Thành đi ra và khiêng xuống bến Triều Đông. Xong rồi lại trở vào cung  Vạn Diên để đón Vương Tử Thẩm, Vương Tử Sam và mẹ là bà Nguyễn Phi Đàm thị với hai người em gái (em cùng mẹ) đem về nhà của Đoàn thị ở Hải Ấp.
Rồi thì ở tại ngôi nhà ấy. Bọn Quách Bốc tôn Vương Tử Thẩm lên làm vua. Lúa bây giờ có lẽ gia thần của Vương Tử Sam là Lưu Thiệu đi theo Nguyên Tổ5.
Đến khi Phạm Ngu là người ở Diêu Hào, nói rằng: "Thẩm tuy lớn nhưng là con thứ, Sam tuy nhỏ mà là con chính, chỉ có hai ông mới la liệu được vậy". Nguyên Tổ bèn cùng với Phạm Ngu đón Vương Tử Sam về Lỵ Nhơn lập làm vua, tôn xưng là Thắng Vương và giáng Vương Tử Thẩm xuống làm tước vương.
Ngay sau đó Vương Tử Sam lại trở về Hải Ấp cư ngụ trong một ngôi nhà ở thôn Lưu Gia. Ở đấy, Vương Tử Sam lấy người con gái thứ hai của Nguyên Tổ ta làm Nguyên phi. Dùng Đàm Dĩ Mông làm Thái úy,
Nguyễn Chánh lại làm Tham tri Chính sự, Nguyên Tổ làm Minh Tự, Phạm Ngu làm Thượng phẩm Phụng ngự, Tô Trung Tự6 làm Điện tiền Chỉ huy sứ. Số còn lại, mỗi người đều có chức vị sai biệt nhau.
Nhà vua (Cao Tông) sai Phạm Du đến Hồng Lộ7để huấn luyện quân sĩ sắp muốn đánh người ở Thuận Lưu.
1 Sau đó, Phạm Du cho người về kinh lấy vàng bạc đút lót với cá quan trong triều, để vu cho Bỉnh Di làm việc hung bạo giết người
vô tội, Phạm Du lại xin về triều để kêu oan. Vua Cao Tông tin lời, cho mời Du vào chầu và triệu Phạm Bỉnh Di về rồi truyền lệnh
giam giữ Di lại. Đến lúc Quách Bốc phá cửa vào để cứu Bỉnh Di, ấy là nguy biến xảy ra: Phạm Bỉnh Di chết, nhà vua chạy lên mạn
sông Qui Hóa, còn Thái tử Sam chạy về Hải Ấp.
2 Đội Xá: nay thuộc huyện Duy Tiên tỉnh Nam Hà.
3 Giờ tuất: khoảng từ 19 giờ đến 21 giờ.
4 Nguyên bản chép: Xứ. Có sách chép là Sứ (?).
5 Nguyên Tổ: Ông tổ khởi đầi cho các triều vua nhà Trần tức là Trần Lý, thân sinh của Trần thị. Trần thị sau này là Hoàng hậu của
vua Huệ Tông. Trần Lý: Người làng Tức Mạc (huyện Mỹ Lộc, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định) làm nghề đánh cá, nhà giàu có,
được nhiều người theo phục. Sau gặp buổi loạn cũng đem bè đảng đi cướp bóc.
6 Sách này nguyên bản chữ Hán chép là Tự. Tô Trung Tự. Các bộ sử khác đều chép là Tô Trung Từ. Từ, Tự chữ Hán mặt chữ gần
giống nhau. Có phải vì vậy mà có sự nhìn nhầm và chép nhầm chăng (?). Tô Trung Tự là cậu của Trần thị.
7 Hồng Lộ: Hồng tức là vùng sông Hồng- xem chú thích số (524) Lộ là tiếng chỉ khu vực hành chánh cũng như tỉnh, đạo.
93 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Biết đã đến lúc dân ở vùng Hồng đi đón rước mà Phạm Du còn cùng với Công chúa Thiên Cực tư thông, không ngờ qua khỏi cái giờ phút tư thông ấy thì đã sai hẹn nhau với người vùng Hồng rồi. Phạm
Du bèn lên thuyền theo đường sông mà đi, đi đến Cổ Châu mới dừng lại rồi theo đường bộ đến xã A Cảo
thuộc vùng Ma Lãng thì bị người ở Bắc Giang là Nguyễn Nậu và Nguyễn Nải bắt đưa cho Vương Tử Sam giết đi.
Mùa thu, tháng 8 bọn đồ đảng ở Thuận Lưu sung sướng về cái việc Phạm Bỉnh Di chết mới rầm rộ đốc xuất thuyền bè, quân lính tiến đánh kinh sư. Tiền quân cho thuyền đậu lại ở Đông Bộ rồi từ cái cửa hông (nách) ở phía bên tả mà tiến thẳng vào trong cung cấm đánh cấp các đồ vật quí báu. Còn đại quân đậu thuyền lại ở bến Thiên Hà, sắp muốn theo cửa Thiên Thu mà vào quán Vũ Sư, nhưng vì quan
Liệt hầu là Cao Kha núp ở cái khung xe bắn trúng vú một tên lính. Cao Kha vỗ tay cười la huyên náo.
Bọn sĩ tốt (bên Thuận Lưu- ND) chạy theo hướng Bắc mà trở về.
Người ở trên thuyền (bên Thuận Lưu- ND) ngờ là có quan quân đến đánh nên đều chèo thuyền rời bờ qua phía Bắc. Gió thổi mạnh, tất cả thuyền bè đều trôi giạt tản mát cả ra. Hai đội quân nghe tin
ghe thuyền đã thất lạc mới bỏ chạy tán loạn cả. Người ở kinh thành đuổi theo giết chết hơn 300 tên.
Năm Canh Ngọ (năm 1210- ND) là năm Trị Bình Long Ứng thứ 6:
Mùa xuân, tháng giêng ở nơi chùa Thắng Nghiêm có động đất.
Tô Trung Tự từ lúc kín đáo nhận lãnh cái tước do Vương Tử Sam phong cho thì sợ tội trạng sẽ đến với mình mới bắt ép binh lính đánh Khoái Châu. Nhân đó, tiến tới Hải Ấp bắt bọn Vương Tử Sam
đem về kinh sư.
Ngày Đinh tỵ, nhà vua sai quan Thượng phẩm Phụng ngự là Đỗ Quảng sang nhà Tô Trung Tự để đón Vương Tử Sam. Các quan viên tạm thời của Vương Tử Sam đều chạy trốn đi hết cả. Đàm Dĩ Mông chạy trốn ở làng An Lãng. Nhân đó, Dĩ Mông cùng với kẻ thuộc hạ của ông âm mưu bắt những người đã
nhận lãnh tước do Vương Tử Sam phong để chuộc lại cái tội ấy. Theo đó, Dĩ Mông truyền hịch chiêu mộ các đạo binh và chia làm năm đội để tiến đánh. Đàm dĩ Mông quản lãnh người ở vùng Gia và người ở Thanh Hóa tiến đánh làng Tức Mặc (huyện Mỹ Lộc, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định- ND) nhưng bị thua. Do đó các đạo binh khác nghe tin thất trận đều dẫn binh về.
Mùa thu, tháng 7 Đàm Dĩ Mông bắt những kẻ nhận chịu chức tước của Vương Tử Sam phong
cho được 28 người đem dâng nạp cho Đỗ Anh Doãn1 đang ở nơi cửa. Đỗ Anh Doãn kể rằng: "Ông là quan Đại thần của quốc gia, mà ôm giữ cái lòng không vua chúa. Ông đã kín đáo nhận lãnh tước của tên tặc tử phong cho. Nay, trái lại ông cùng với tôi đồng hàng đuợc nữa sao? Tôi tuy bất tài, nhưng lại mặt
mũi nào mà nhìn ông nữa". Đàm Dĩ Mông vừa thẹn vừa sợ rồi thì lui về.
Sao chổi xuất hiện.
Mùa đông, tháng 10 nhà vua không được khỏe. Ngày Nhâm Ngọ nhà vua nằm bệnh bổng thấy hai người mặt áo xanh, cầm gậy đứng bên cạnh. Nhà vua hỏi: "Người cầm gậy là ai?" Kẻ tả hữu thưa
rằng: "Không thấy gì cả".
Đêm đó nhà vua từ trần ở tại điện Thắng Thọ, thọ 37 tuổi. Miếu hiệu là Cao Tông. Ở ngôi được
36 năm2. An táng tại Thọ Lăng thuộc phủ Thiên Đức. Đổi niên hiệu bốn lần.
1 "Việt sử tiêu án" chép: "Đỗ Anh Kiệt". Kiệt chứ không phải Doãn và Đỗ Anh Kiệt kể tội Dĩ Mông: "Mày làm Đại thần mà lại nhận
ngụy chức của lũ nghịch, nay còn ở đây mà cũng hàng với chúng ta nữa sao?".
2 "Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú chép: "Lý Cao Tông ở ngôi 35 năm, hưởng thọ 38 tuỗi".


94 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Vua Huệ Tông
Vua Huệ Tông tên húy là Hạo Sam. Là người con thứ ba của vua Cao Tông mà mẹ là Nguyên phi Đàm thị.
Vào năm Trị Bình Long Ứng thứ 6 (năm Canh Ngọ- 1210- ND), tháng 10, ngài lên ngôi, trước linh cửu Cao Tông, quần thần dâng tôn hiệu là:
"Tự thiên thống ngự khâm nhân hoành hiếu hoàng đế".
Vua tôn mẹ là Đàm thị làm Thái hậu cùng được tham dự việc triều chính.
Tháng 11, liệm vua Cao Tông ở điện Sùng Dương. Vua và Thái hậu cùng quần thần đều trừ bỏ đồ tang phục.
Ngày Kỷ Dậu quan Minh tự ở Thuận Lưu là Trần Tự Khánh1 thống xuất thuyền bè và quân lính đóng ở bên Tế Giang2 để mời người cậu của y là Tô Trung Từ cùng đi viếng tang vua Cao Tông. Tô
Trung Từ cũng ngờ Trần Tự Khánh hai lòng. Trần Tự Khánh bèn kéo quân về (TôTrung Tự: chương này nguyên bản chép là Từ).
Tháng đó, nhà vua sai đón người con gái thứ hai họ Trần, nhưng Trần Tự Khánh không cho.
Nhà vua dùng quan Thái phó là Đỗ Kính Tu3 làm Thái úy.
Tháng chạp, quan Chi hậu Phụng ngự là bọn Đỗ Quảng bắt Kính Tu đưa cho Tô Trung Từ dìm xuống nước cho chết ở bến Đại Thông, vì Kính Tu mưu giết Trung Từ. Cái cớ là như vậy.
Ngày Đinh Tỵ, Tô Trung Từ nghe quan Quan nội hầu là Đỗ Thế Qui cùng quan Chi hậu Phụng
ngự là Đỗ Quảng; và tên Tiểu thị vệ là viên Hỏa đầu Phí Liệt4 âm mưu phát binh.
Do đó mới dẫn quân đến cái am5, Hưng Thánh gặp Quảng, Lệ và muốn đánh lén mấy ông này, nhưng vì quân lính của Quảng, Lệ đông đảo (sợ khó thắng), chúng mới cùng nhau lập mưu, giả vờ nói
rằng: "Chúa thượng mới vừa an táng, dân tình chưa yên, sao chẳng lui giáp binh đi, rồi tự về triều xem xét mà đồng mưu hiệp lực để khuông phò vương thất thì cũng không phải việc hay đó hay sao?" Quảng, Lệ cho là phải, bèn hứa- ừ, được. Gặp lúc ngày đã về chiều mới ước hẹn để sáng sớm hôm sau. Đêm đó, Tô Trung Từ bèn tănh thêm quân sĩ nhiều hơn ngày trước vvà sắp mưu giết Quảng, Lệ. Ngày hôm sau, Quảng, Lệ đúng như lời hẹn, trước tiên, họp lại ở Bí thư các để đợi Trung Từ. Tô Trung Từ đến đình Tứ
Đạt, trước, sai tỳ tướng là Đào Phán đem binh theo cái cửa hông (cửa nách) phía bên hữu mà vào đóng quân ở Sa Trì (thềm có trải sỏi con, trải cát- ND) và ở Long Trì (thềm rồng), lại sai Nguyễn Tự và Nguyễn Đà La (cũng đọc là Nguyễn Tha La- ND) đóng quân ở cửa Thiên Thu. Lúc bấy giờ, Quảng, Lệ vừa ăn cơm, thấy quan Liệt hầu và Cao Kha mới bảo Kha dùng cơm. Cao Kha thưa rằng: "Việc nguy cấp rồi, có thể ăn cơm được sao?" Quảng, Lệ hỏi nguyên cớ. Cao Kha đáp: "Quân sĩ của Tô Trung Từ đông hơn gấp hai ngày hôm trước va sắp giết ông rồi". Quảng, Lệ mới ném đũa mà đứng dậy cầm cái mác đến Long
môn dòm xem thì thấy quân lính của Đào Phán đánh trống, reo hò. Rồi bước vào, Quảng, Lệ tiến lên đánh, một người phải lui vào giữ bên trong cửa. Lại nghe ở cửa Thiên Thu có quân đóng giữ, Quảng, Lệ bèn theo cửa Việt mà ra đến cửa Diên Cụ thì bị quân lính của Đào Phán đuổi theo. Quảng, Lệ cầm mác
1 Trần Tự Khánh là em của Trần Thừa và là anh của Hoàng hậu Trần thị..
2 Tế Giang: nay thuộc Văn Giang Hưng Yên.
3 Đỗ Kính Tu xem chú thích số (510).
4 Nguyên bản chép "Phí Liệt". Có sách chép "Phí Lệ" không hiểu sao (?). Đến như tên vua mà cũng vướng phải tình trạng này! Tên
vua Cao Tông nhà lý: sách "Đại Việt sử lược" chép tên ngài là Long Cán. Sách "Lịch triều hiến chương loại chí" chép là Long Thao.
Sách "Việt sử tiêu án" chép là Long Hãn. Sách "Ngự chế Việt sử tổng vịnh" chép là Long Trát. Ở đây, đúng là Phí Lệ. Quảng, Lệ
tức Đỗ Quảng và Phí Lệ.
5 Am: Cái miếu nhỏ, ngôi nhà nhỏ thường lợp cỏ, lợp tranh để thờ Phật hoặc thần linh và người ở đó thường là Thiền sư hay đạo sĩ.
Am thường ở chỗ quạnh vắng, ít người tới lui hơn ở chùa.


95 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
đánh, lại giết chết một tên. Quân của Đào Phán vì ít nên phải thôi, không đuổi nữa. Quảng, Lệ chạy đến cửa Thiên Thu mới thoát được. Đào Phán đem quân đánh lén Đỗ Thế Qui. Đỗ Thế Qui chạy trốn ở dưới cái linh cữu của vua Cao Tông. Tìm kiếm không thấy, Tô Trung Từ bắt kẻ giữ thây người chết (thi thể vua Cao Tông- ND) là tên Yêm Thụ mà hỏi Thế Qui ở đâu. Yêm Thụ còn sợ Đỗ Thế Qui, bèn giả vờ đưa tay lên trán mà chỉ. Bọn Tô Trung Từ theo cái hướng chỉ ấy mà tìm thì bắt được Đỗ Thế Qui. Tô Trung Từ sai giết Đỗ Thế Qui ở chợ Đông. Trước hết sai chặt hai chân Đỗ Thế Qui, thứ đến là mổ ngực thấu đến tận xương sống và chặt tay. Nhưng thần sắc của Đỗ Thế Qui vẫn tự nhiên. Đến lúc mổ bụng thì Qui chết. Ngày đó Tô Trung Từ bắt tên tiểu Thị vệ là Đàm Nhập giết ở ngoài cửa Trường Quảng, vì cho là Đàm Nhập dựa vào Vương tử Thẩm. Đỗ Quảng cũng giết Ký Ban và Võ Lợi ở ngoài cửa.
Ngày Kỷ Tỵ, nhà vua cho Tô Trung Từ làm Chiêu thảo Đại sứ, Đàm Dĩ Mông làm Thái úy.
Ngày Tân Tỵ, nhà vua hạ chiếu chém Đỗ Anh Doãn, Doãn Đình, Nguyễn Nguyên, Nguyễn Nhân ởPhong Pha.
Tấn phong cho Đàm Dĩ Mông tước vương.
Năm Tân Tỵ (năm 1211- ND) là năm Kiến gia thứ nhất:
Mùa xuân, tháng giêng vua lại sai người đi đón người con gái thứ hai của họ Trần về. Nhưng
Trần Tự Khánh không cho.
Ngày Ký Sửu tuyển chọn các quan văn để cho làm Đô hộ phủ Sĩ sư.
Ngày Quí Dậu lại đi đón người con gái thứ hai họ Trần. Trần Tự Khánh sai quan túc trực ở nội
điện là Phùng Tá Chu cùng với viên tỳ tướng của y là Phan Lân. Nguyễn Ngạnh đưa người con gái ấy về kinh sư. Gặp lúc Tô Trung Từ cùng với Đỗ Quảng đánh nhau ở cửa Triêu Đông nên bọn Phùng Tá Chu
phải đậu thuyền ở bến Đại thông.
Ngày Kỷ Mão Tô Trung Từ cho Phan Lân và Nguyễn Ngạnh mượn binh. Rồi thì quân của Đỗ
Quảng thua to.
Tháng nhuận bắt được Đỗ Quảng.
Ngày Canh Dần lập người con gái thứ hai họ Trần làm Nguyên phi.
Ngày Tân Sửu nhà vua cùng với Thái hậu ngự ở cửa Cảnh Diên để xét án Đỗ Quảng. Bọn Đỗ
Quảng bảy người đều bị xử chém.
Tháng 3, dùng Chiêu thảo Đại sứ tức là Quan nội hầu Tô Trung Từ làm Thái úy.
Mùa hạ, tháng 4 an táng vua Cao Tông.
Viên Thiên tướng của Nguyễn Tự là Nguyễn Giai báo cho Tô Trung Từ biết rằng là, Nguyễn Tự muốn giết chồng của người con gái ông là Nguyễn Ma La, rồi nhân đó làm phản. Tô Trung Từ giận rồi tước đoạt binh quyền của Nguyễn Tự. Nguyễn Tự sợ chạy sang Quốc Oai.
Tháng 6, Tô Trung Từ ban đêm sang nhà ở Gia Lâm để cùng với Công chúa Thiên Cực tư thông bị chồng của Công chúa làm Quan nội hầu là Vương Thượng giết.
Lúc bấy giờ Nguyễn Tự nghe Tô Trung Từ đã chết bèn trở về kinh sư, ban đêm dẫn đồng đảng ra đánh cắp hóa vật ở trong phủ của nhà vua. Vua giận hạ chiếu bắt Nguyễn Tự rất gắt gao. Nguyễn Tự chạy trốn sang vùng Sơn Lão thuộc Khô Sách. Trong vài tháng thì áo cơm đều cùng quẫn thiếu thốn cả mới toan về với Trần Tự Khánh. Lúc đi vào trong ấp Than, các bậc phụ lão ngăn cản giữa đường, xin lưu lại mà thưa rằng: "Đất này khốn khổ với người Sơn Lão đã lâu rồi. Xin Minh Công, nếu có thể lưu lại trong ít lâu thì một giải ấp này nhờ ơn ngài mà sống được không phải là ít. Nguyễn Tự mới có ý quyết
định ở lại. Rồi thì mở cuộc hội họp lớn, người trong ấp giết trâu, uống máu mà thề ước với nhau. Nguyễn Tự đem những mối lợi hại ra phủ dụ, dân chúng trong ấp đều nghe theo rồi "vâng, dạ" hết cả. Nguyễn Tự thấy được lòng dân, chúng mới bèn dẫn binh đi đánh phá Sơn Lão, chém đầu giặc rồi trở về. Lại sai
  àm hơn vài chục hình người bằng cỏ, mỗi hình người có cầm đuốc, ban đêm đem đặt trong làng Sơn Lão. Sai người theo giữ mà răn bảo rằng: " Hễ các anh thấy nhà ở Sơn Lão cháy rực lên thì phải cấp tốc


96 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
đốt đuốc rồi kêu la huyên náo lên nhé!". Nửa đêm sai Nguyễn Cuộc đốt nhà bọn Sơn Lão. Người giữ (những hình nộm- ND) thấy lửa phát cháy cũng đốt đuốc mà la réo lên. Bọn Sơn Lão kinh sợ vùng dậy một cách gấp gáp và sắp muốn cự chiến, nhưng lại nghi ngờ là trước sau đều có binh lính đông nên không dám ra đánh. Rồi cả bọn đều hướng về cái làng ở phía trước mà bắn, nhưng lại sợ Nguyễn Tự dẫn
binh đến nên xin đầu hàng. Từ đó một giải quận huyện đều về tay Nguyễn Tự.
Nguyễn Ma La thấy Tô Trung Từ đã chết mới sang nói với Thái Tổ ta1 xin tiến binh dẹp yên ấp
Khoái.Nguyễn Ma La cùng với vợ của y là Tô thị lên thuyền sang Đạo Thuận Lưu để gặp tướng của Tô Trung Từ là Nguyễn Trinh thì bị Trinh giết chết rồi cướp lấy Tô thị đem về. Tô thị sai người tố cáo với Thái Tổ. Thái Tổ giận Trinh phi nghĩa bèn âm mưu giết Trinh.
Trần Tự Khánh an táng Tô Trung Từ ở làng Hoạch.
Thái Tổ đóng ở Hải ấp sai người đi triệu Nguyễn Trinh, Nguyễn Trinh không đến. Thái Tổ bèn sai Tô thị dụ Trinh để giết đi.
Người ở trong vùng Hồng đánh ải Quảng Điểm. Trần Tự Khánh sai Lại Linh đốc xuất binh lính
cùng với viên tướng ở Khoái Châu là Nguyễn Đường chống cự chúng.Nguyễn Đường bị người giữ ải bắt đem trao cho người ở vùng Hồng. Trần Tự Khánh tức giận, mở lối cho nước sông chảy vào các ấp (của
người Hồng- ND) rồi trở về.
Dân ở Khoái Châu thất vọng bèn kéo về nương tựa ở vùng Hồng.
Đoàn Thượng cùng với Đoàn Văn Lôi nói vu Trần Tự Khánh với vua rằng: "Trần Tự Khánh đem binh về kinh sư là muốn mưu đồ việc phế lập"2. Nhà vua giận. Mùa thu, tháng 7, vua hạ chiếu cho các đạo binh đánh Trần Tự Khánh, và giáng Nguyên phi Trần thị xuống làm Ngự nữ.
Người ở vùng Hồng là Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi đem binh về kinh sư.
Nhà vua hạ chiếu tấn phong tước hầu cho Đoàn Thượng.
Quan Thái phó là Hộ Dực bị bãi chức. Nhà vua hạ chiếu cho Đàm Dĩ Mông được phục chức, được mời tham dự việc triều chính.
Trần Tự Khánh đem binh đánh người ở vùng Ma La là Đinh Cảm, nhưng thua rồi rút quân về.
Mùa đông, tháng 10, Trần Tự Khánh lại đánh ấp ấy (Ma La- ND). Đầu tiên đánh núi Đội, giết và bắt được rất nhiều người, Đinh Cảm phải chạy sang Sơn Lão.
Người ở vùng Hồng đánh Nam Sách, Phạm Võ đầu hàng. Người ở vùng Hồng sai viên tướng của
họ là Đoàn Trì Lỗi giữ Nam Sách. Đoàn Trì Lỗi không có thể chiêu tập dân chúng ở nơi ấy được nên bị Phạm Võ đánh lén, giết Trì Lỗi ở bến sông. Người vùng Hồng lại đốc xuất binh lính qua sông đánh Nam
Sách. Người Nam Sách chạy trốn ở núi Kỳ Đặc, Phạm Võ mắc tai ách mà chết3. Dân Nam Sách sai người đi cầu cứu Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh sai tướng là Đinh Khôi đánh vùng Hồng. Quân vùng Hồng thua chạy. Trần Tự Khánh lại đi Kinh lược4. Lạng Châu đến núi Tam Trĩ. Lúc bấy giờ hết cả đất đai ở đấy
Trần Tự Khánh lấy được hết cả.
Tháng chạp Trần Tự Khánh rầm rộ kéo binh đến đóng ở bến Tế Giang. Thái hậu nghe quân đến, ngờ Trần Tự Khánh có ý mưu việc phế lập. Trần Tự Khánh bèn cắt tóc mà thề với trời đất rồi lại sai công
chúa Thiên Trinh tâu với bà Thái hậu rằng là mình không có ý chi khác. Thái hậu cũng không tin. Một đêm bà Thái hậu sai bắt Nhân Quốc Vương và hai Vương Tử là người con trai thứ sáu, người con trai thứ bảy, cả ba đều bị đem dìm xuống cái giếng trong khu nhà của vua, để vùi lấp cái manh mối của việc cải
1 Thái Tổ tức là Trần Thừa anh của Trần Tự Khánh và Nguyên phi Trần thị. Trần Thừa là thân sinh ra Trần Cảnh (vua Trần Thái
Tông). Trần Thừa không làm vua nhưng được truy tôn là Thái Tổ.
2 Phế lập: Bỏ vua này lập vua khác lên, cũng gọi là cải lập.
3 Có sách chép: Phạm Võ thắt cổ mà chết.
4 Kinh lược: Trù hoạch mọi vấn đề để cai trị.


97 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
lập. Xong rồi sai khiêng những cái thây ấy để ở ngoài cửa cung Lâm Quang. Các quan viên theo hầu vua đều sợ Thái hậu nên không dám nhìn. Chỉ có một viên quan nhỏ là Trịnh Đạo khóc than vô cùng thảm thiết rằng:
"Tiên quân đi đâu mà khiến cho ba người con bị hại như thế này!...Vua Cao Tông khi vừa mới
mất, có câu đồng dao1 rằng:
"Cao Tông táng vị tất,
Tam thi tích vi nhất".
Dịch nghĩa:
"Cao Tông mất chữa táng,
Ba thây một đống nằm".
Năm Nhâm Thân (năm 1212- ND) là năm Kiến gia thứ 2:
Mùa xuân, tháng giêng, vua và Thái hậu đi chơi bãi Lãnh Kinh2. Trăm quan đến bãi ấy đón rước xa giá vua trở về cung.
Quan Minh Tự ở Thuận Lưu là Trần Tự Khánh cùng với Nguyễn Tự hội họp nhau ở bến Triều
Đông thề là đến chết vẫn kết giao với nhau mà hết lòng giúp nước, cùng chung dẹp yên cho dân cái họa nhiễu loạn. Rồi chia theo hai bờ con sông lớn, mỗi người tự quản lãnh mọi việc một bên. Từ Thượng Khối đến Na Ngạn, con đường ven theo Bắc Giang và làng ấp ở Lục Lộ3 thì thuộc về Trần Tự Khánh.
Từ Kinh Ngạn đến Ô Diên thì thuộc về Nguyễn Tự. Hẹn nhau đến tháng 3 họp binh đánh người vùng Hồng.
Ngày Canh Tuất nhà vua phong Trần Tự Khánh lên tước Hầu với danh hiệu là Chương Thành.
Cho người em (trai) của Thái hậu là Đàm Kinh Bang tham dự vào triều chính.
Trần Tự Khánh trở về bến Tế Giang.
Đinh Khôi đánh Lạng Châu, làm hàng phục được Lạng Châu và cướp các tài vật trong nhà Công chúa Thiên Cực rồi kéo đi.
Tháng 2, Nguyễn Tự đánh người Cát Lợi là Ngô Thưởng Vu và Võ Cao, bị tên bắn trúng bèn trở về ở ngõ Tây Dương4. Hơn một tuần (hơn 10 ngày- ND) thì vì lầm lở ăn nằm cùng với đàn bà nên khí độc lại phát lên mà chết.
Nhà vua sai người đến vỗ về dân chúng ở đấy. Nhưng người vua sai ấy bị tên phó tướng ở đấy là Nguyễn Cuộc giết. Nhà vua giận lắm, mới tự làm tướng dẫn quân đi đánh Nguyễn Cuộc ở ngoài thành Tây Dương. Lúc tiến đến ngõ Phổ Hỷ, quan quân nhà vua thua to. Cây bảo kiếm nhà vua dùng cũng mất.
Vua phải ra roi giục ngựa mà chạy về đến ngõ Diêu Tắc mới thoát được.
Nhà vua cùng Thái hậu đi thăm chơi nhà viên quan trong hàng Đại Liêu ban ở Đông Ngạn5 là Đỗ Thưởng. Ở tại đấy, nhà vua lại sắp muốn đi Lạng Châu. Trần Tự Khánh nghe vậy mới dẫn quân đến kinh sư và sai các viên tướng của y là bọn Đại Linh, Phan Lân đem binh đến nhà của Thưởng để đón xa giá nhà vua về kinh. Nhà vua vừa sợ vừa nghi ngờ, đêm đó nhà vua đi Lạng Châu. Bọn Lại Linh và Phan Lân
1 Đồng dao: Đồng là trẻ con. Dao là bài hát không có chương khúc. Đồng dao là bài hát của trẻ con không chương khúc và chẳng
rõ ai đặt nên. Những bài hát của trẻ em như thế thường ứng nghiệm vào cái việc sắp phải xảy ra.
2 Lãnh Kinh nay thuộc Thái Nguyên.
3 Bản chữ Hán trang 123 có giòng chữ: "Phan, Lân, Nguyễn Nộn tương Quốc Oai binh do Bình nhạc đạo công Lục Lộ". Theo đó tôi
nghĩ "Lục Lộ ở đây và ở câu chữ Hán vừa dẫn là một và chỉ là địa danh, chứ không phải đường xá trên cạn.
4 Tây Dương là khu Cầu Giấy, Hà Nội ngày nay.
5 Đông Ngạn nay thuộc Bắc Giang.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn