Thứ bảy, 05/12/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Tìm hiểu về cội nguồn
Phả dòng họ các nơi
Nghiên cứu về lịch sử
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay38
mod_vvisit_counterHôm trước975
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Đại Việt Sử Lược - Quyển III E-mail
11/08/2020

98 Đại Việt Sử Lược - Quyển III

Bọn Lại Linh và Phan Lân nắm cương ngựa, cúi đầu xin nhà vua ở lại, vua mới thôi. Ngày hôm sau Chương Thành hầu là Trần Tự Khánh đóng quân ở bến Đông Ngạn đón vua. Rồi khi trở về lại dừng xe giá ở bến Từ Điệu. Trần Tự Khánh sai người rửa ráy quét dọn cung Thánh Nghi, xa giá ở tại cung ấy. Nhà vua cùng với Thái hậu đến trước di tượng đức Phật mà thề rằng: "Trẫm ít đức, thẹn mình nối cái cơ nghiệp lớn lao làm cho đưa tới cái cảnh loạn ly, sắp phải sụp đổ cái sự nghiệp của tiền nhân, đến phải luôn luôn xa giá trốn đi chỗ khác!
Nay trẫm muốn lánh cái ngôi vua để nhường cho người hiền đức". Nói xong, nhà vua đưa dao lên muốn cắt tóc của chính ngài. Trần Tự Khánh và quần thần đều cúi đầu rơi lệ, nhà vua mới thôi.
Ngày Canh Ngọ xa giá trở về cung.
Chương Thành hầu Trần Tự Khánh đóng ở Hạc Kiều (cầu Hạc). Ngày ấy ra lệnh cho trăm quan văn võ đều phải nghe mệnh ở Chương Thành hầu.
Mùa hạ, tháng 4 Trần Tự Khánh đánh người Hồng ở ấp Trì.
Mùa đông, tháng chạp bọn Đàm kinh Bang đem những tội trạng của quan Nội minh tự là Doãn
Tín Dực trình bày với Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh giận phát binh mà rao truyền ra khắp Long Thành.
Đồng thời sai quan Điện tiền Chỉ huy sứ là Nguyễn Ngạnh đem các quan chức đô (quan võ) vào trong cung cấm hô to lên rằng: "Doãn Tín Dực a dua nịnh hót theo ý của chúa thượng, làm rối loạn việc cai trị quốc gia, ra vào nơi cung cấm không rõ danh phận. Tôi xin trừ bỏ đi, chớ để những lời khen chê bàn tán". Doãn Tín Dực sợ lắm mới chạy trốn ở trên Hương Các. Nguyễn Mạnh đột nhập vào bắt đưa cho Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh dùng dây thép trói Doãn Tín Dực năm vòng rồi đưa về nhà ở Mỹ Lộc.
Năm Quí Dậu (năm 1213- ND) là năm Kiến gia thứ 3:
Mùa xuân, tháng giêng Thái hậu ngầm sai tên Tiểu thị vệ Hỏa đầu là Vương Thường đi mời viên tướng đạo Phù Liệt và Phan Thế về. Bọn Ngô Nãi ở đạo Bắc Giang ước hẹn với nhau đến ngày Giáp dần
tháng ấy thì cùng phát binh đánh lén Trần Tự Khánh. Ngày Giáp dần bọn Vương Thường và Phan Thế tiến đánh úp quân của Trần Tự Khánh ở ngoài cửa Đại Hưng và muốn nhân đó vào hậu cung bắt người
mẹ là Tô thị1. Phạm Thị biết được cái mưu ấy bèn ngầm đem Tô thị leo qua thành rồi lên ghe mà đi trốn.
Lúc bấy giò trong quân không có phòng bị nên vừa thấy quân của Vương Thường và Phạn Thế mới đến là đều thua chạy. Trần Tự Khánh ở tại bến Đại Thông không hay biết gì cả.
Ngày Tân Dậu Trần Tự Khánh dẫn quân vào cung cấm đốt cầu Ngoạn Thiềm rồi kéo về bến Đại Thông.
Trần Tự Khánh sai người sang Bắc Giang mời viên tướng của y là Nguyễn Nộn về. Nguyễn Nộn2 về đến nơi, Trần Tự Khánh dùng dây thép trói lại năm vòng.
Ngày Nhâm Tuất nhà vua ra lệnh cho quan Thái úy ở doanh Thượng khối là Đàm Dĩ Mông cùng tước Hầu vùng Hồng là Đoàn Thượng đều phải đến hội họp. Nhà vua sai Đoàn Thượng và Đàm Dĩ Mông đánh Trần Tự Khánh.
Tháng 3, nhà vua tự làm tướng đi đánh Trần Tự Khánh ở Mễ Sở3.
Trần Tự Khánh đánh châu Quốc Oai, châu này phải hàng.
1 Tô thị phải chăng đây là Tô thị, con gái Tô Trung từ và là vợ của Nguyễn Ma La. Nguyên trước kia Ma La bị Nguyễn Trinh giết để cướp Tô thị. Trinh lại bị Tô thị mưu giết.
2 Sách "Việt sử tiêu án" chép, Nguyễn Nộn nguyên là cư sĩ ở chùa Phù Đổng, bắt được vàng và ngọc bích không dâng vua nên có chiếu bắt. Tự Khánh lấy cớ Nộn đương mạnh muốn dùng lực lượng của y, tâu xin tha cho Nộn, cho tòng quân đánh giặc chuộc tội.
Lúc bấy giờ đất nước nhiễu loạn. Nộn chiếm cứ Phù Đổng tự xưng Hoài Đạo Vương. Đến thời vua Thái Tông nhà trần. Nộn chiếm cứ Bắc Giang. Đoàn Thượng chiếm Hồng Châu, quyền chính triều đình cả trong ngoài đều do một tay Trần Thủ Độ cầm giữ. Thủ
Độ tự nghĩ, mình không biết chữ phải mời thúc phụ mà cũng là nhạc phụ Trần Thừa nhiếp chính. Thủ Độ đem binh đánh Nộn và Thượng bất thành bèn tâu vua xin cắt đứt Bắc Giang và Đông Ngạn cho Nộn. Sau Nộn đem binh đánh chiếm Đồng Dao của Thượng. Thượng bị thua và chết. Thanh thế Nộn lừng lẫy, Thủ Độ lo sợ bèn sai người mang thư đến mừng Nộn, lại tâu vua, đem Ngoạn Thiên Công chúa gả cho Nộn. Ý Thủ Độ là nhờ Công chúa dò xét động tĩnh của Nộn, nhưng Nộn lại lập nhà riêng cho Công chúa ở, thành ra không được biết tin tức gì. Lúc bấy giờ Nộn tự xưng là Đại Thắng Vương.
3 Mễ Sở: Nay thuộc Đan Phượng (Hà Tây).


99 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Tháng 3, nhà vua cùng Thái hậu trở lại cung Thánh Nghi.
Ngày Ất Sửu, Trần Tự Khánh thả Doãn Tín Dực trở về kinh sư. Rồi nhân đó, Trần Tự Khánh đem nhiều của đút lót cho Doãn Tín Dực mà bảo Dực rằng: "Ông về đấy hãy khéo vì ta mà tâu trình cho ở vương cung được rõ cái lòng chung thủy, cái khí tiết của ta để ở đấy đừng có nghe theo lời sàm siểm của kẻ tiểu nhân, khiến cho tôi được bảo toàn tính mệnh nhé".Doãn Tín Dực về đến kinh sư, nhà vua hỏi đến Trần Tự Khánh. Doãn Tín Dực tâu rằng là, Trần Tự Khánh có lòng soán nghịch1 nhà vua cùng Thái hậu càng oán ghét Khánh.
Ngày Canh Ngọ nhà vua và Thái hậu trở về đại nội.
Mùa hạ, tháng 4 nhà vua sai Đàm Dĩ Mông đến sông Tam Đái thuộc châu Tỉnh đốc xuất các đội quân để đánh Trần Tự Khánh.
Tháng 5, ngày Đinh Mão cửa Việt Thành rung chuyển.
Tháng 6 điện Chánh Nghi rung chuyển.
Mùa thu, tháng 7 nhà vua cho Đoàn Tín Dực lại làm chức Thái phó và cất lên tước Hầu.
Người Nam Sách là bọn Phạm Dĩ đánh Đinh Khôi. Khôi thua chạy.
Tháng 9, Trần Tự Khánh mở trói dây thép cho Nguyễn Nộn. Nguyễn Nộn là người có gương mặt đẹp lạ lùng, lại có lòng bao dung, có tính bình thản thanh thoát. Tuy ở trong cái cảnh ngục tù mà thần sắc vẫn tự nhiên. Khi thấy bọn dũng sỉ nhảy, đối lại, ông mang theo cả cái dây xích sắt (vì đang bị trói- ND) mà nhảy, nhưng lại nhảy hơn bọn dũng sĩ. Trần Tự Khánh thấy, lấy làm lạ, lại cho làm tướng và đem người con gái của bà dì mà gả cho. Rồi lại trao cho hai ấp là Trần Khê và Cả Lũ (Nay thuộc tỉnh Thái Bình- ND).
Tướng của Trần Tự Khánh là Đinh Khôi làm phản, Tự Khánh bắt được rồi giết đi.
Năm Giáp Tuất (năm 1214- ND) là năm Kiến gia thứ 4:
Tháng giêng, Chương Thành hầu là Trần Tự Khánh hội họp các đạo binh lại mà thề nguyền tại miếu thờ Đỗ Thái úy ở Đông Phù Liệt để sắp muốn đánh kinh sư. Trần Tự Khánh chia quân ra làm hai đạo là thủy quân và lục quân. Sai Phan Lân và Nguyễn Nộn đem binh ở Quốc Oai theo con đường Bình Nhạc tiến đánh theo Lục Lộ. Trần Tự Khánh tự lãnh binh thuyền đóng ở sông Tha Mạc (còn đọc là Đà Mạc- ND). Thái Tổ ta và Trần Tự Khánh đánh mặt hữu ngạn sông Lô. Trần Thủ Độ2, Trần Hiến Sâm và Nguyễn Ngạnh đánh mặt tả ngạn sông Lô. Vương Lê, Nguyễn Cải đánh cầu Nổi3 thuộc bến Triều Đông.
Nhà vua tự làm tướng đi đánh Trần Tự Khánh. Gặp lúc có sương mù lớn, trời đất đen tối, người ở trong thuyền không phân biệt được nhau. Nhà vua tiến quân đến Mễ Sở thì gặp quân của Vương Lê và Nguyễn Cải đánh trống reo hò để làm núng lòng quan quân của nhà vua. Rồi quân nhà vua tự nhiên tan vỡ. Quân sĩ đều phải bỏ thuyền, lên bộ mà chạy. Vương Lê, Nguyễn Cải bắt được thuyền rồng (thuyền của nhà vua). Thái Tổ ta muốn tiến đánh mặt hữu ngạn sông Lô mới kéo binh đi. Khi đến bến An Duyên thì gặp (tướng quân phía nhà vua) Đàm Dĩ Mông và An Nhân Vương lãnh đạo Bắc Giang. Các đạo quân kéo lại, đều đem hết những lính tinh nhuệ ra nghinh chiến. Quân hai bên đều tổn hại.
Bọn Trần Thủ Độ, Trần Hiến Sâm (đánh mặt tả ngạn sông Lô- ND) nhân vì thắng trận mới tiến
đến đánh bến Từ Đông, lại thắng nữa.
Bọn Phan Lân nhân khi đến chợ Dừa (chợ cây dừa- ND) gặp tướng vùng Hồng là Đoàn Cẩm, Võ Hốt đều bị thua phải chạy, vượt sông qua Phù Kiều (Cầu nổi) thuộc bến (Triều) Đông mà về.
1 Soán, nghịch: Người tôi chống lại vua, lấn quyền vua, cướp ngôi vua.
2 Bản chử Hán chép: "Trần Thủ Đạt", sang trang 123b lại chép: "Trần Thủ Độ". Vậy ở đây đã chép nhầm nên phải phiên âm là Độ.
3 Nguyên bản là Phù Lương, nhưng tên nôm Cầu Nổi thông dụng hơn.


100 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Lúc bấy giờ, nhà vua ở trại Trà Đình nghe các đại quân đều thua to mới sợ mà sai đưa xa giá
vào trong cung cấm để đón Thái hậu lên thuyền muốn chạy sang Lạng Châu. Đương lúc qua Đại Thất ở Thiên Đức (Bắc Ninh) , Đàm Dĩ Mông gào khóc thảm thiết, rồi lại ngăn lại thưa rằng: "Lạng Châu, đường
xá xa xôi, đất đai nhiều chướng khí, không phải là chỗ yên thân. Nay bệ hạ lánh nạn mà đi đến cái xứ ấy để lánh thì chẳng khác nào chạy trốn chỗ nóng bức mà đi vào trong lửa, như vậy có ích lợi gì! Xin bệ hạ
hãy tạm lưu lại đây, rồi sai bọn tôi đốc xuất người vùng Hồng lại cùng với kẻ kia giao chiến để làm cái kế lo liệu cho về sau. Rủi như không lợi thì sau đó nhà vua hãy đi cũng chưa phải là muộn". Vua nghe theo.
Đàm Dĩ Mông triệu người vùng Hồng. Người vùng Hồng không đến. Vì vậy mà chạy về vùng Hồng. Nhà vua lấy làm lo lắm.
Ngày Kỷ Mão, nhà vua đi Lạng Châu, cho xa giá đến trọ nhà Nguyễn Thuận ở làng Nhuế Duệ1.
Tạm nghĩ ngơi ở đó một đêm rồi lại đi đến nhà của Trịnh Nông ở làng Đa Cảm. Trịnh Nông dâng cơm, món ăn rất chu tất. Nhà vua lại đi và trú ngụ tại nhà của Đào Niên ở động Chu Ma.
Trần Tự Khánh ở Hạc Kiều (cầu Hạc) phân chia như sau: Sai tướng soái đi vỗ về các đạo để tập hợp nên các đội binh mới. Lại Linh giữ Nghĩa Trụ. Phan Lân giữ Siêu Loại. Trần THủ Độ giữ Lạng Ải.
Nguyễn Nộn giữ Bắc Giang2. Lúc bấy giờ Trần Thủ Độ gặp binh của người Hồng là Đoàn Thượng, Đoàn Văn Lôi và Đoàn Khả Như mới cùng nhau giao chiến. Người ở vùng Hồng thua chạy về Bắc.
Nhà vua nghe Nguyễn Nộn giữ Bắc Giang bèn sai An Thiết tướng là Thân Trường, Thân Cải v.v...
đem quân chống cự lại ở cánh đồng Nhuế Duệ. Nhưng tất cả đều bị Nguyễn Nộn giết chết. Nhà vua mới cùng với Thái hậu chạy đi ngụ tại nhà Quan nội hầu là Vương Thượng ở Châu Lạng. Vài ngày sau Trần Tự Khánh cắt tóc sai người dâng cho nhà vua và tâu rõ ý mình rằng là: "Tôi thấy bọn tiểu nhơn ở cạnh vua, chúng che lấp ngăn cản các bậc trung lương, dân tình thì uất ức không biết theo đâu mà chuyển đạt thấu lên trên. Cho nên nhân đó mà (tôi tụ họp) người trong nước khởi binh đánh bọn này, cắt bỏ gốc rể của sự hiểm họa để làm yên lòng dân. Và, đến phận mệnh của vua tôi thì không dám một tí xúc phạm,
lại há có cái ý quá ỷ vào việc chăm đánh dẹp đó hay sao! Chẳng ngờ là tôi đã khiến cho xa giá phải lẫn tránh chỗ khác. Tôi tự lượng biết thân tôi. Tội tôi thật đáng muôn chết. Xin bệ hạ hãy tạm nguôi cơn giận mà đưa xa giá trở về kinh sư".
Trần Tự Khánh lại sai Đàm Kinh Bang đốc xuất trăm quan chuẩn bị pháp giá3 để đón vua trở về kinh. Nhà vua muốn theo về, quần thần đều mừng rỡ. Doãn Tín Dực nói với Thái hậu rằng: "Kẻ kia từ lâu đã chứa sẵn cái lòng khác, nay muốn bày kế để bắt đấy thôi, chứ ai bảo đón rước đó? Xin bệ hạ hãy nghĩ lại ba lần đã". Bà Thái hậu cho là phải. Ngày hôm sau nhà vua sai cho xa giá đi vào để thưa với Thái hậu. Thái hậu đáp rằng: "Vua phải lấy nước nhà làm trọng không được trở về. Mẹ già này làm tướng đánh giặc được hay sao mà về". Nhà vua biết Thái hậu không có cái ý trở về bèn cùng với Thái hậu đi Cổ Lộng. Bạn Đàm Kinh Bang đều ra ngăn chận vua ở giữa đường, ghì đầu ngựa lại sụt sùi thưa rằng: "Kinh
sư là nơi mà bốn phương xem xét trông đợi, giờ lại bỏ đó, không về! mà sắp muốn đi đâu". Đàm Kinh Bang lại thưa tiếp: "Tôi xét thấy cái lòng của Trần Tự Khánh thật trung thành chứ không có nhị tâm phản trắc. Bệ hạ còn nghi ngờ cái nổi gì". Nhà vua thất vọng xuống xe bảo quần thần rằng: "Nước nhà không may gặp buổi lắm việc như thế này. Nay Thái hậu đi xa, sang qua cái chỗ gian ác hiểm độc, Trẫm không dám rời xa Thái hậu sớm tối được. Xét cho kỹ thì hỏi ai là người nỡ giục xa giá đi".. Lúc bấy giờ những viên hộ vệ4 phần nhiều đã tản mát đi mất cả. Chỉ có quan Nội thị Phán thủ là bọn Trần Hân 30 người đều cùng với vua và Thái hậu lên thuyền đi về núi Tam Trĩ, ngụ ở nhà của Hoàng Ngũ, Ở đó một thời gian
1 Nhuế Duệ cólẽ là Nội Duệ (Bắn Ninh).
2 Nghĩa Trụ, Lạng Ải đều thuộc Hải Hưng (ngày nay). Siêu Loại, Bắc Giang nay đều thuộc Hà Bắc.
3 Pháp giá: khi vua đi, có ít xe theo hầu gọi là Pháp giá. Trái lại, đại giá là nói về chuyến đi của vua có nhiều xe theo hầu. Nhưng người ta thường gọi tắt là giá để chỉ xe cộ của vua đi.
4 Nguyên bản là hỗ tất. Hỗ: theo sau, như hỗ giá là theo hầu sau xe vua. Tất: dọn dẹp đường sá để vua đi.
Hỗ Tất: người theo sau vua, có bổn phận dọn dẹp ngăn cấm đường sá cho vua đi.
101 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
lâu, thấy thủy thổ bất tiện, nhà vua bèn lui về đóng bến Thang. Đêm đó, cho tháo xe nghĩ ngơi ở thôn Tượng Nô1.
Tháng 2, ngày Tân Tỵ xa giá vào núi Phượng2. Hơn một tuần (hơn 10 ngày) lại trở về Nam Sách.
Ngày Mậu Thân, Chương Thành hầu Trần Tự Khánh triệu tập các bậc Vương tước và trăm quan để nghị bàn về việc cải lập. Rồi sai người đi đón con của vua Anh Tông là Huệ Văn Vương ở Hạc Kiều (cầu Con hạc) lập làm vua. Ngày đó Trần Tự Khánh sai bắt người trong gia tộc của Thái hậu là bọn Đàm Kinh Bang. Tất cả đều bị trói thêm bằng dây thép rồi cầm tù ở Mỹ Lộc (Nay thuộc Nam Hà- ND).
Ngày Quí Hợi (Bọn Trần Tự Khánh, Huệ Văn Vương- ND) thề với người trong nước tại Long Trì.
Tháng 3, Huệ Văn Vương lên ngôi vua ở điện Thiên An. Đổi niên hiệu là Càn Ninh và lấy hiệu là nguyên Vương. Ngày đó trời mưa to sấm dữ.
Người vùng Hồng là Đoàn Nhuyễn đánh núi Đông Cứu thuộc Bắc Giang. Người ở Đông Cứu
không có phòng bị, thấy Đoàn Nhuyễn đến với đoàn quân hùng hậu tề chỉnh nên sợ mà thua to. Đoàn Nhuyễn vốn là người mạnh mẽ mà hung hăng nên khi thắng được lại càng sinh kêu ngạo. Rồi thì đốt phá nhà cửa, giết hại sinh vật, bắt cướp gà, chó gần hết. Sau đó lại cởi áo giáp lên chùa trên núi đánh chuông làm vui. Lúc bấy giờ những lính thú ở nơi chùa đều đánh chuông. Nguyễn Nộn nghe tiếng chuông đem binh đón đánh, giết chết bọn Đoàn Nhuyễn. Nguyễn Nộn thừa thắng đuổi theo đến Pháp Kiều (cầu Pháp) thì bị người Hồng là Đoàn Nghi núp ở dưới cầu cầm cái mác đâm thủng cái áo giáp sắt, Nguyễn Nộn bị thương ở lưng dẫn binh rút lui. Lúc trước Nguyễn Nộn thấy Đông Cứu và vùng Hồng hai cõi liền nhau sợ người vùng Hồng đánh úp Đông Cứu thì có đến cứu cũng không kịp. Cho nên mới sẵn sàng phòng bị. Bọn lính thú nói rằng: "Chúng tôi thấy người Hồng thì đánh chuông ở trong chùa để báo
tin nguy cấp, khiến Nguyễn Nộn nghe mà sang cứu. Đến lúc ấy Đoàn Nhuyễn lầm mà đánh chuông ở trong chùa cho nên mới bị thua"
Mùa hạ, tháng 4 tướng quân ở Cam Giá (xứ Mía- ND)3 là Phan Cụ làm phản. Trần Tự Khánh bắt cầm tù ở Mỹ Lộc.
Tướng quân ở Cam Giá là Đỗ Bị làm phản, Trần Tự Khánh sai Phan Lân đi bắt, nhưng bị Đỗ Bị đánh thua. Trần Tự Khánh sai Lại Linh đi cứu Phan Lân, lại cũng thua nữa.
Thái Tổ thấy hai vị tướng quân đều thua bèn tự làm tướng đánh Đỗ Bị, nhưng đánh không nổi
phải rút lui.
Nguyễn Nộn ở Bắc Giang làm phản. Trần Tự Khánh nhân đó mà đi về nhà vợ y.
Trần Tự Khánh giết Nghĩa Tín Vương ở Diêu Đàm vì ông ấy cùng với Nguyễn Nộn thông đồng âm mưu với nhau.
Ngày nọ Trần Tự Khánh phát binh đi cướp vàng bạc và tài vật ở trong phủ đường của các quan.
Nhân đó mới đón Nguyễn Vương đi đến hành cung Lị Nhân4. Rồi sai Lại Linh đốt cung thất ở kinh đô, gồm có 19 sở.
Trần Tự Khánh đóng quân ở bến Đại Thông, đắp lũy ở Nghĩa Trụ.
Trần Tự Khánh làm tướng.
Phan Lân muốn cất binh hưởng ứng thao Nguyễn Nộn. Âm mưu bị tiết lộ, Trần Tự Khánh chém Phan Lân ở châu Đại Thông.
Tháng 6, Trần Tự Khánh đánh Nguyễn Nộn ở cung Thánh Nghi, rồi đốt cung ấy.
1 Bến Thang và Thượng Nô ở vùng sông Thượng.
2 Núi Phượng tức là núi Phượng Hoàng ở Hải Dương.
3 Cam Giá ở Hà Tây.
4 Bản chữ Hán chép Lợi Nhân là chép nhầm.


102 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Ngày Bính Ngọ, nhà vua cùng với Thái hậu từ Nam Sách trở về tạm trú ở Đại Thất. Ngày đó, nhà vua phong cho tướng quân ở đạo Bắc Giang là Nguyễn Nộn tước Hầu.
Ngày Đinh Tỵ thì đến đại nội, bà Thái hậu ngầm hạ chiếu cho tướng quân ở đạo Phù Nhạc là
Phan Thế dụ Ô Kim hầu là Nguyễn Bát để giết đi. Nhưng rồi việc không xong chỉ đánh Bát bị thương nơi má, nhờ có quân sĩ vội vàng đến cứu mới tránh khỏi.
Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Thìn nhà vua xuống chiếu đắp lũy từ cửa thành Vạn Xuân đến chợ Cái để ngăn cản Trần Tự Khánh.
Tháng 8, Hầu tước ở Bắc Giang là Nguyễn Nộn đánh Ô Kim hầu Nguyễn Bát ở cầu Tây Dương.
Ngày Kỷ Dậu, Trần Tự Khánh sai Đàm Bật dâng thổ vật.
Tháng 9, Trần Tự Khánh sai Nguyễn Ngạnh đưa Đàm Kinh Bang về kinh sư tâu rõ rằng mình
chẳng có ý gì khác. Nhà vua nghe Nguyễn Ngạnh đến lại càng sợ mới sang nhà Doãn Bá ở ngõ Phiên Cầm. Nguyễn Ngạnh đi rồi nhà vua mới trở về cung.
Ngày Nhâm Dần mở khoa thi cho con em của các bậc tăng quan thi.
Ngày Quý Tỵ, quan Tả phụ Nguyễn Chánh Lại chiếm lấy khí giới ở trong võ khố. Nhà vua hạ
chiếu bắt Lại. Nguyễn Chánh Lại sợ hãi chạy sang Bắc Giang.
Ngày Đinh Hợi, Trần Tự Khánh dẫn binh xâm phạm cửa khuyết. Nhà vua cùng với Thái hậu may mắn được hội quân để chống giữ. Ngày đó Trần Tự Khánh thả quân sĩ đi cướp lấy các tài vật trong phủ của nhà vua. Rồi lại đốt phá gần hết cung thất và nhà dân ở trong kinh thành.
Ngày Kỷ Tỵ, nhà vua cùng với Thái hậu trở về kinh sư thấy cung thất bị thiêu hủy hư hỏng hết cả mới trọ lại ở đền Chúa Thánh bên cạnh cầu Thái Hòa. Nhà vua sai dựng ngôi nhà tranh để ở.
Năm Ất Hợi là năm Kiến gia thứ 5 (năm 1215- ND):
Tháng giêng nhà vua hạ chiếu rằng: "Trần Tự Khánh tụ tập đảng tặc hung bạo cướp phá trộm
cắp chốn kinh sư. Dưới nước, trên cạn đều có quân tiến đánh làm phương hại đến tông miếu xã tắc mà trong mùa đông qua, cái khí thế mạnh lại càng bốc mạnh hơn. Trần Tự Khánh đốc xuất lũ buông tuồng
tham tàn bạo ngược. Chúng cướp bóc tài vật của ta. Chúng đốt sạch cung thất của ta. Cho đến nỗi các khu xóm ở kinh thành hóa thành đống tro tàn. Trẫn nhân vì cái nỗi căm giận của ức triệu thần dân lại nhờ cái linh thiêng của một ông tổ và sáu ông tông1. Đem cả sáu quân, thân hành đánh dẹp chúng. Vậy tướng soái sĩ tốt các ngươi khi đã đều được nghe lời chiếu này thì mỗi người phải đem hết tâm lực ra mà dùng làm cho đầy đủ theo ý trẫm".
Trần Tự Khánh đóng quân ở Cứu Liên, phân chia cho các tướng sĩ của y đóng quân ở Cửu Cao và Cửu Ông2 để ngăn ngừa Nguyễn Nộn. Rồi sai tướng quân ở Khoái Lộ là Nguyễn Đường và Nguyễn Giai lại giữ dân đất ấy. Nguyễn Đường và Nguyễn Giai lại cùng với Nguyễn Nộn thông đồng mưu sự với nhau để đánh Trần Tự Khánh. Trần Tự Khánh sai Lại Linh giữ An Duyên Phù Liệt, để từ đó đến đánh Đường, Giai và Nguyễn Nộn.
Nhà vua sai người đánh An Duyên Phù Liệt và thắng được.
Tháng 2, vua phong Hầu tước ở Bắc Giang là Nguyễn Nộn làm tước Vương.
Người ở Nghĩa Trụ là Châu Đình đem cái ấp của ông cho phụ theo Nguyễn Nộn.
Tháng 3, Trần Tự Khánh đánh làng Khoái, san bằng làng nầy.
Nguyễn Đường và người con của ông tên là Thổ ra hàng ở đó.
1 Một ông Tổ: Thái Tổ (Lý Công Uẩn).
Sáu ông tông: Thái Tông (Phật Mã), Thánh Tông (Nhật Tôn), Nhân Tông (Càn Đức), Thần Tông (Dương Hoán), Anh Tông (Thiên Tộ) và Cao Tông (Long Cán).
2 Cứu Liên, Cửu Cao và Cửu Ông nay thuộc vùng tiếp giáp giữa Hưng yên và Bắc Ninh.


103 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Trần Tự Khánh sai Nguyễn Đường và Nguyễn Giai, đắp lũy Hoàng, An Lợi đắp lũy An Giá, Dương Từ đắp lũy Công chúa.
Nguyễn Nộn lại đánh An Lợi, Nguyễn Đường và cùng Nguyễn Giai và đều thắng được cả.
Trần Tự Khánh nghe tin Nguyễn Đường bị thua bèn dẫn binh đi tiếp cứu, đồng thời sai các viên tướng của y là trần Thủ Khánh, Trần Hiến Sâm và Đào Phán đóng quân ở Lan Kiều để đánh tướng của Nguyễn Nộn là Phí Thám và thắng được.
Tháng 5, Trần Tự Khánh đem người em gái của y là Trần Tam Nương gả cho Nguyễn Đường.
Nhà vua bảo quần thần rằng: "Trẫm muốn nhường ngôi, các khanh thấy như thế nào?" Quần
thần đều ứa lệ mà ngăn cản vua. Nhà vua không nghe mới cùng với Thái hậu lấy dao cắt tóc. Ngày ấy nhà vua từ dinh Thái Hòa đi đến nhà của Trương Canh và Đặng Lão rồi cho xa giá trở về nhà của nội Ký Ban là Đỗ An ở trong ngõ Chỉ Tác thuộc vùng cầu Tây Dương.
Trần Tự Khánh đánh quân Đại Hoàng, đánh bị thua. Viên tướng của Khánh là Nguyễn Đường bị chết đắm.
Mùa thu, tháng 7, Trần Tự Khánh đốt cung Động Nhân. Nhà vua sai rước thần chủ Thái Hậu Linh Nhân về đền Chúc Thánh.
Mùa đông, tháng 10 nhà vua nghe xử án ở viện Thượng Lâm.
Tháng 11, Trần Tự Khánh đưa trả cái mũ Bình Thiên.
Tháng chạp, dựng ngôi điện bằng cỏ ở khu vườn nhà của Đỗ An.
Năm Bính Tý (năm 1216- ND) là năm Kiến gia thứ 6:
Tháng giêng, nhà vua cùng với Thái Hậu ngự ở thảo điện (điện bằng cỏ-ND) để thị triều. Trần
Tự Khánh trả lại cái ghế bằng vàng.
Tháng 3 có mưu đá.
Nhà vua sai bắt kẻ trộm ở ngõ Cơ Xá. Những người đi bắt ấy bị tướng quân là Đỗ Ất người đất Cảo1 đánh. Nhà vua sai người đi triệu Đỗ Ất về. Ất không nghe theo. Vua sai Hiển Tín Vương là Nguyễn Bát đánh Ất. Rốt cuộc Ất cũng không phục.
Tháng 5, tướng quân Đỗ Nhuế người đất Cảo đánh nhà vua.
Ngày Mậu Thìn, vua đi thăm ngoài trại, nhân đó sai sứ xin binh của Trần Tự Khánh để đánh Đỗ Nhuế. Đỗ Nhuế chạy về với Nguyễn Nộn.
Ngày Kỷ Tỵ, vua đày Liệt hầu Đỗ Nhuế, bắt làm Cảo giáp.
Ngày Giáp Thìn, nhà vua cùng với phu nhân là Trần thị, ban đêm sang trại quân Thuận Lưu để
theo về với Trần Khánh. Ngày hôm sau nhà vua gặp viên tướng của ngài là Vương Lê đem thuyền đến đón. Lúc bấy giờ Thái hậu và con của nhà vua là Công chúa đều lẫn tránh ở Ô Kim.
Trần Tự Khánh thấy nhà vua thì mừng rỡ lắm. Các tướng sĩ đều đánh trống, nhảy múa hoan hô nhà vua.
Từ đó nhà vua cùng với Trần Tự Khánh có ý cương quyết đánh Vương tước ở Bắc Giang là
Nguyễn Nộn, Hiển Tín Vương là Nguyễn Bát cùng người vùng Hồng là Đoàn Văn Lôi, và người Qui Hóa là Hà Cao v.v...
Ngày Giáp Thân Thái hậu đến An Xưởng. Lúc bấy giờ Nguyễn Nộn và Hà Cao lấy mệnh lệnh của Thái hậu đánh Từ Liêm. Các ấp ở đó đều đánh đổ hết cả.
1 Cảo: Tức Cảo Xã, nay thuộc Hà Đông.


104 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Ngày Canh Tuất, Trần Tự Khánh dựng điện cỏ ở Tây Phù Liệt, khuôn mẫu của điện nhất nhất
đều bắt chước theo như ở trong đại nội.
Hiển Tín Vương là Nguyễn Bát đầu hàng.
Nhà vua hạ chiếu cho quan Minh tự Phùng Tá Chu làm Chiêu thảo sứ.
Ngày giáp Thìn nhà vua đóng ở Từ Liêm, sai Trần Tự Khánh đánh Nguyễn Nộn.
Nhà vua hạ chiếu đày Nguyễn Nộn làm lính thường.
Mùa thu, tháng 8, Hiển Tín Vương Nguyễn Bát làm phản, công hãm binh lính, tướng ở Hợp ấp là Đỗ Tế phải chạy sang Đan Phượng.
Mùa đông, tháng chạp tiến phong cho Thái Tổ (Trần Thừa) ta tước Liệt hầu, Phùng Tá Chu và
Lại Linh đều được phong tước Quan nội hầu. Dùng Trần Tự Khánh làm Thái úy, những lúc trều bái nhà vua thì không phải xưng tên.
Con trưởng của Thái Tổ (Trần Thừa) là Liễu làm Quan nội hầu. Con trưởng của Trần Tự Khánh là Hải làm tước Vương. Lại cho Thái Tổ làm Nội thị Phán Thủ. Mỗi khi có lễ tiệc lớn được cho ngồi dự ở điện Thiên An.
Năm Đinh Sửu (năm 1217-ND) là năm Kiến Gia thứ 7:
Mùa hạ, tháng 4, Thái Tổ úy chia quân ra làm sáu đạo để đánh Nguyễn Nộn. Nguyễn Nộn dẫn
binh ra, vào lúc không có phòng bị, đánh Phạm Ân. Quân Phạm Ân bị hãm ở cửa đầm Lãnh Kinh và bị Nguyễn Nộn giết hơn 50 người. Nguyễn Nộn thừa thắng lại đánh úp Ải Đạo. Lúc bấy giờ gặp quân của Thái úy (Trần Tự Khánh-ND) và đánh nhau, quân của Nguyễn Nộn mới thua tan.
Nhà vua ngự ở tòa Lương Thạch để nghe bại quân Phạm Ân biện bạch. Nhà vua giáng Phạm Ân xuống làm tên Tiêu thị vệ và bị phạt 8o trượng.
Giữa mùa (tháng 5) người vùng Hồng là Đoàn Thượng đem quân chúng ra hàng. Đoàn Thượng được phong tước Vương.
Thái úy Trần Tự Khánh dẫn binh đánh Chân Na thuộc Phong Châu. Xứ ấy đều bị đánh tan hoang cả.
Ngày Đinh Mão, các thuộc ấp ở Phong Châu đều ra hàng.
Thái úy lại dẫn quân đánh Hiển Tín Vương Nguyễn Bát và hương ấp đều được bình yên.
Làm núi Vạn Tuế năm chỏm.
Điên Vĩnh Thọ cháy.
Đầu mùa đông, ngày Giáp Dần ban đêm có động đất.
Năm Mậu Dần (năm 1218- ND) là năm Kiến Gia thứ 8:
Mùa xuân, cho quan Minh tự tên là Bạch Lãng, người Sơn Lão ở sách Ma Luân làm Liệt hầu.
Đầu Mùa hạ, nhà vua đi châu Cứu Liên xembắt cá.
Ngày Mậu Dần nhà vua đi thăm kinh đô cũ ăn trái vải.
Nhà vua hạ chiếu, các bản án đã xét xử xong rồi, trước hết phải khiến trao cho các quan ở viện Thẩm hình dự xét để sửa đổi thêm, sau đó mới tâu lên vua xét. Ngày Kỷ Tỵ động đất.
Thái Tổ ta (Trần Thừa) lãnh các đạo binh bao vây Nguyễn Nộn ở Bắc Giang, đồng thời sai mở đê để đưa nước vào các làng ấp. Lại Linh theo cái thế nước ấy mà đánh. Quân của Nguyễn Nộn thua to. Vợ con của Nguyễn Nộn đều bị bắt. Nguyễn Nộn đem hơn một trăm người lui về giữ Phù Ninh (nay thuộc
tỉnh Bắc Ninh- ND).


105 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Ngày đó Thái úy (Tự Khánh-ND) dẫn binh đến trạm Nỗ (Nõ) ngồi nghĩ. Thái úy giỡn chơi, chỉ cái cành nhỏ trên cây mà bảo kẻ tả hữu rằng: "Như ta làm vua, bọn các ông xem ta bắn cái cành cây nhỏ kia một phát thì trúng". Thấy vậy, quân tướng đều vừa sợ, vừa phục. Nhưng một lát sau cái trạm ấy sụp đổ, đè phủ lên người Thái úy. Quân sĩ sợ lắm, vội lo tìm bới mãi mới thấy Thái úy. Vậy mà Thái úy vẫn không hề gì.
Cho Lại Linh làm Tri châu Nghệ An là để theo giúp Thái Tổ vậy.
Quan Thái úy (Trần Tự Khánh-ND) đem người em gái của y là Trần Tam Nương1 gả cho Hầu
tước ở vùng Hồng là Đoàn Văn Lôi. Đoàn Văn Lôi là người dũng cảm có trí lược, có tài năng và được lòng dân chúng, cho nên người vùng Hồng, đa số theo về với ông.
Tháng bảy lụt lội.
Năm Kỷ Mão (năm 1219- ND) là năm Kiến Gia thứ 9:
Mùa xuân, tháng 2 có mưa đá.
Ngày Ất Sửu nhà vua nghe việc kiện tụng ở Đô hộ phủ.
Giáng quan Sĩ sư ở viện Thượng Lâm là Nguyễn Tuyên và người con của ông là Đặng Phân Thịnh xuống làm Thư gia.
Tháng 6, cho Lưu Viêm làm chức Sĩ sư ở viện Thượng Lâm.
Ngày Ất Sửu nhà vua đi bến Triều Đông thuộc khu kinh đô cũ để xem xét các đạo quân đánh
Nguyễn Nộn, đánh không thắng.
Phạm Dĩ ở Nam Sách từ trần.
Lúc trước Thái úy sai bọn Vương Lê đem binh về Nam Sách để cùng họp nhau mà mưu đánh
Nguyễn Nộn. Gặp lúc Phạm Dĩ đau nặng, Trần Tự Khánh sai thầy thuốc là Thạch Chương đến trị bệnh.
Nhưng thầy thuốc chưa đến thì Phạm Dĩ đã lìa trần.
Trần Tự Khánh đem binh đến Nam Sách, thì gặp Vương Lê trên đường đang trở về. Tự Khánh giận Lê sao không ở lại. Rồi Tự Khánh muốn dứt bỏ Vương Lê, sai tướng quân là Nguyễn Cải, Nguyễn Mộc đem binh theo đường tắt đến Bình Cảo. Lúc bấy giờ Nguyễn Nộn đã chiếm cái ấp ấy (Bình Cảo)
trước rồi. Cho nên quyết đánh để giành lại cái ấp ấy với Nguyễn Nộn. Thái úy (Tự Khánh- ND) từ Lục Lộ kéo quân hướng về phía cầu An Đinh thì gặp tướng quân là Tự Thao bảo rằng quân của Nguyễn Nộn đã qua ở động An Đinh. Thái úy sai đánh động ấy, không thắng. Thái úy lại đánh Bình Cảo.
Tướng Nam Sách là Hoàng Cá lìa trần, bọn Nguyễn Lợi đều ra hàng. Nam Sách được yên.
Tháng 8, vua ngự ra cửa Trường Quảng xem lễ Thư xã (Lễ sau tiết lập thu-ND).
Mùa đông, tháng chạp Nguyễn Nộn bệnh nặng. Quân của Thái úy ở bến Triều Đông mà Nộn đã chết rồi2.
Ngày Canh Ngọ, tướng của Nguyễn Nộn là Phí Thám đưa Thái hậu và các người con của vua là bọn Công chúa ra hàng nơi Thái úy.
Đại tướng của Nguyễn Nộn là Nguyễn Doanh chạy trốn trong khu rừng hiểm trở ở Thị hàng hơn năm ngày, rồi tìm cách tự cứu lấy mình, nhưng cái Ké đã cùng bèn đem con doanh mã (ngựa hay có tiếng) ra dâng mà xin hàng. Bắc Giang được yên.
1 Trần Tam Nương phải chăng là họ và tên hay chỉ là cô nương thứ ba họ Trần? Trần Tam Nương trước đã gả cho tướng Nguyễn Đường, rồi Nguyễn Đường bị tử trận, nay lại đem gả cho Đoàn Văn Lôi.
2 Sách "Việt sử tiêu án" chép, sau khi thôn tính quân Đoàn Thượng (1228), Nguyễn Nộn tự xưng là Đại Thắng Vương, nhưng tự biết thế không đứng vững được. Năm sau, tháng 10, hẹn sẻ vào chầu vua Thái Tông nhà Trần, nhưng rồi đau nặng. Vua sai người đến
thăm. Nộn làm ra vẻ khỏe mạnh, ăn cơm và phóng ngựa chạy. Sau đó không lâu thì Nộn mất (năm mất là Kỷ Sửu- 1229). Sách
này chép là mất năm Kỷ Mão (1219).
106 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Năm Canh Thìn (năm 1220- ND) là năm Kiến Gia thứ 10:
Tháng giêng nhà vua cho quan Thượng phẩm Phụng ngự là Trần Báo làm quan Nội hầu. Trần
Hiến Sâm làm Liệt hầu. Nguyễn Tá Thời coi việc ở Thẩm hình viện.
Tháng ba mưa đá.
Hậu cung bị động đất.
Mùa thu, tháng 4 Thái úy Trần Tự Khánh cùng với Thái Tổ (Trần Thừa) v.v... phát binh đánh trại Hà Cao ở Qui Hóa. Thái úy chia quân ra làm hai đạo. Thái úy và Thái Tổ theo đường sông Quy Hóa. Lại Linh và Phan Cụ theo đường sông Tuyên Quang, quân của Hà Cao đều tiến đánh, Phan Cụ bị hãm ở nơi
cái đầm và bị tướng của Cao là Nguyễn Nải chém. Hà Cao nghe quân của Thái úy bốn mặt bao vây mới vội vàng cùng với vợ và con của ông đều thắt cổ mà chết. Từ đó Lộ Thượng Nguyên1, sông Tam Đái2
v.v... đều được yên ổn cả.
Thái úy thấy Phan Cụ chết vì nước nên xin truy phong làm Minh Tín Vương.
Tháng 6, ngày Kỷ Tỵ là ngày mùng một, hai mặt trời cùng hiện.
Giữa mùa thu (tháng 8) cung mới xây cất hoàn thành.
mùa đông, tháng 11 nhà vua đi bến Phù Liệt xem đua thuyền.
Năm Tân Tỵ (năm 1221- ND) là năm Kiến Gia thứ 11:
Tháng 6, Huệ Văn Vương tức là Nguyễn Vương từ trần, nhà vua cho bãi triều năm ngày, ăn chay ba ngày.
Mùa thu, tháng 9, Ngày Mậu Thân nhà vua đi thăm chơi nhà Thái úy ở Mỹ Lộc.
Năm Nhâm Ngọ (năm 1222- ND) là năm Kiến Gia thứ 12:
Mùa thu, tháng 8 sao chổi xuất hiện ở Phương Tây Nam.
Tháng mười, mùa đông, nhà vua cùng Thái hậu ngự ở điện Thiên An xem con của Thái úy là
Hiển Đạo Vương tên Hải dâng nạp lễ vật cầu hôn3.
Năm Quý Tỵ (năm 1223- ND) là năm Kiến Gia thứ 13:
Tháng giêng, Thái úy Trần Tự Khánh sai người bắt Bảo Tín hầu là Lại Linh. Lại Linh tự thắt cổ mà chết.
Đầu mùa đông, Thái úy đánh quân Sơn Lão ở Sách Mông.
Tháng chạp, ngày Kỷ Mão. Phụ quốc Thái úy Trần Tự Khánh lìa trần trong ngôi nhà ở Phù Liệt.
Nhà vua cùng Thái hậu đến viếng tang rồi khóc hết sức thảm. Trần Tự Khánh được đặt cho tên thụy là Kiến Quốc Vương.
Mùa đông ấy có cọp vào trong các thôn ấp.
năm Giáp Thân (1224- ND) là năm Kiến Gia thứ 14:
Mùa xuân, tháng giêng, ngày Đinh Tỵ an tang Kiến Quốc Vương ở Mỹ Lộc.
Mùa xuân, năm ấy cho Thái Tổ (Trần Thừa) làm Phụ quốc Thái úy, Phùng Tá Chu làm Nội thị
Phán Thủ, cất cử quan Thượng phẩm hầu là Trần Báo làm tước Vương và thụy hiệu là Hiển Thành.
Giữa mùa thu từ Thượng Nguyên xuống đến kinh sư nước sông đỏ như máu1.
1 Lộ Thượng Nguyên nay thuộc Bắc Cạn và Thái Nguyên.
2 Tam Đái: Nay thuộc Vĩnh Phú.
3 Bản chữ Hán chép chữ "hôn" không có chữ nữ bên trái, tức là tối, buổi tối. Ngày xưa làm lễ cưới cứ đến tối mới đi rước dâu, nên dùng chữ "hôn" này. Về sau người ta thêm chữ nữ vào thành chữ "hôn" và nghĩa là lấy vợ.


107 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Mùa đông, táng chạp núi Phật Tích, một chỗ ở ngoài trại bị nứt nẻ dài 30 trượng.
Năm Ất Dậu (năm 1225- ND) là năm Kiến Gia thứ 15:
Nhà vua sai Thái Tổ (Trần Thừa) đánh Nghệ An, Nghệ An phải đầu hàng.
Nhà vua ngự ở cửa Đại Hưng xem bày hội lễ "Tàng câu"2. Nhà vua hạ chiếu cho thục nữ (gái dịu hiền trinh chính) ở trong cõi đến xem.
Tháng 6, nhà vua nhường ngôi cho con thứ hai là Công chúa Chiêu Thánh3.
Chiêu Thánh lên ngôi lấy thụy hiệu là Chiêu Vương, tôn vua Huệ Tông làm Thái Thượng Vương,
đổi niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo.
Ngày Kỷ Mão thề với người trong nước tại Long Trì.
Mùa đông, tháng 11, Thái Thượng Vương thấy nữ Vương còn nhỏ, lấy làm lo âu mới cho mời
Phùng Tá Chu đến mà định mưu nói rằng: "Trẫm vì không có đức, Trẫm mắc tội với trời, cho nên bị tuyệt hậu, không có con để nối dõi. Nay Trẫm truyền ngôi cho con gái, nhưng thấy một người đàn bà mà khiến bảo đám đàn ông, như có điều là bọn chúng không giúp cho, tất đến lúc hối hận lại thì cơ nghiệp đã mất rồi. Chi bằng Trẫm theo cái phép thuở xa xưa của Đường Nghiêu, cái thể thức gần đây là Nhân
Tổ4, để kén chọn người hiền mà trao ngôi cho. Nay có điều Trẫm thấy là mỗ5 người con thứ hai của Thái úy (Trần Thừa) tuổi hãy còn nhỏ mà tướng mạo khác thường, tất có thể giúp đời, yên dân. Cho nên, Trẫm muốn dùng làm con mà làm chủ cở nghiệp nước nhà. Vả lại, Trẫm thấy Chiêu Vương cũng xứng đôi với mỗ. Các khanh hãy vì Trẫm mà nói với quan Thái úy rõ".
Thái Tổ (Trần Thừa) cũng chưa tin điều ấy. Quan Tả phụ là Nguyễn Chánh lại bảoo rằng: "Họ
Nguyễn (tức họ Lý-ND) có nước đấy. Vua hiền thì có đến sáu, bảy người gầy dựng nên cơ nghiệp, mà cái đức của họ lại có thừa, để lại cái ơn trạch thấm nhuần vào lòng người đã lâu dài rồi. Một sớm, nhà vua sợ có người khác họ làm việc kế tự nên mới có ý thăm dò thử, để xem cái ý của ta như thế nào đấy.
Nếu ta nhân đó mà nhận lời, thiên hạ tất sẽ bảo Thái úy thực đã có ý soán nghịch".
Thái úy (trần Thừa) muốn nghe theo lời của Nguyễn Chánh Lại thì quan Thượng Phẩm Phụng
Ngự là Trần Thủ Độ nói rằng: "Lời Tả Phụ sai rồi! Nếu mà vươnh thượng có con trai mà lại nhường ngôi cho nhị lang6 thì việc trái nghĩa ấy ta không thể vâng chiếu được. Nay, Vương thượng không người kế tự, ý muốn chọn người hiền để phó thác ngôi cao. Đó là vương bắt chước việc nhường ngôi của nghiêu Thuấn thuở xa xưa. Vậy mà lo ngại nữa sao? Huống chi, ngôi chí tôn không thể để khuyết lâu, mà ý
thoái lui của vương thượng thì đã quyết, vương thượng đã dứt khoát chọn người khác họ để cho nối ngôi, liệu ta không muốn nghe theo mà được chăng? Nhị lang được vương thượng chọn cũng là ý trời, trời đã ban cho mà không nhận là có tội ấy. Xin quan Thái úy hãy xét kỹ".
1 Phải chăng những trận mưa lớn, nước từ các đồi cao cuồn cuộn chảy, xoi lở đất đá để tạo các khe, các suối thông xuống sông.
Nước chảy mạnh cuốn theo đất núi có màu đỏ gạch. Do đó mặt sông biến thành màu đỏ. Cũng vì thế mà một con sông lớn nhất miền Bắc Việt Nam được gọi là sông Hồng Hà.
2 Tàng câu còn gọi là Tàng Cưu, theo ông Nguyễn Khắc Thuần thì đó là một trò chơi, tiếng nôm là giấu thẻ. Cách chơi: lấy cái thẻ
(hoặc vật tượng trưng nào đấy) đem giấu đi rồi thi nhau tìm. Có khi, lấy giấy viết chữ, xong, gấp lại mọi người cùng nhau đoán.
Nếu vua tìm được thẻ, các quan phải dâng rượu mừng, sau đó, vua cũng ban rượu cho các quan.
3 Công chúa Chiêu Thánh tên là Phật Kim sau nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thấy Trần Cảnh lấy Chiêu Thánh đã lâu mà vẫn
chưa có con, Trần Thủ Độ bắt ép Trần Cảnh lấy người chị dâu là Thuận Thiên (vợ Trần Liễu). Thuận Thiên là chị ruột của Chiêu Thánh. Lúc bấy giờ đã có thai với Trần Liễu được ba tháng. Trần Liễu tức giận về cái việc loạn luân thường như thế mới đem quân
đi khử trừ, nhưng không đương nổi, phải hàng. Trần Thủ Độ lại lấy Thái hậu Trần thị là người chị họ làm vợ.
4 Nhân Tổ tức là Lý Nhân Tông. Lý Nhân Tông riêng trong hoàng tộc thì đối với Lý Huệ Tông cũng là hàng "Tổ". Nhân Tông (tức Nhân Tổ) không có con truyền ngôi cho cháu là Dương Hoán, tức là Lý Thần Tông.
5 Người chép sử ở vào triều nhà Trần nên kiêng tên húy của vua Trần Thái Tông là Trần Cảnh mà chép tên "mỗ".
6 Nhị Lang tức Trần Cảnh. Trần Cảnh con thứ hai của Trần Thừa.


108 Đại Việt Sử Lược - Quyển III
Mùa thu, tháng chạp nhà vua sai quan Nội thị Phán thủ là Phùng Tá Chu, quan Nội hành khiển
Tả ty Lang trung là Trần Chí Hoành, các tướng văn võ trong ngoài và các viên quan lại hãy quản lãnh thuyền rồng, chuẩn bị pháp giá1 đến phủ Cương Tinh mà đón Thái Tổ ta (Trần Thừa).
Đến ngày mùng môt tháng chạp năm đó (năm Ất Dậu- 1225- ND) con của Trần Thừa là Trần
Cảnh2 nhân việc nhường ngôi mà lên làm vua ở tại điện Thiên An. Rồi tôn Vương hậu Thuận Trinh làm Thái Hậu và giáng Chiêu Vương3 xuống làm Vương Hậu Chiêu Thánh. Đổi niên hiệu là Kiến Trung.
Thái Thượng Vương cùng với mẹ của ngài là bà Thái Hậu Đàm thị đi ra ở nơi chùa Phù Liệt, lấy hiệu là Huệ Quang Thiền Sư.
Đến năm Kiến Trung thứ 2 (năm Bính Tuất 1226-ND) tháng 8, ngày Bính Tuất Thái Thượng
Vương từ trần ở chùa Thiện Giáo4, miếu hiệu là Huệ Tông, ở ngôi 15 năm. Lập ra cái niên hiệu lạ là Kiến Gia dùng cho suốt 15 năm.
Thái Thượng Vương thọ 33 tuổi. Thi hài đặt ở chùa Bảo Quang5 thuộc phủ An Hoa.
Triều nhà Nguyễn, trên từ Thái Tổ xuống đến Huệ Tông, gồm có tám đời vua, bắt đầu năm Canh Tuất (năm 1010-ND) và chấm dứt vào năm Ất Dậu (năm 1225-ND) cộng tất cả là 216 năm thì mất6.
1 Pháp giá: Xem chú thích số (556).
2 Con của Trần Thừa là Trần Cảnh: Mấy chữ này là do dịch giả thêm vào, chứ nguyên bản chữ Hán không có. Vì kiêng tên húy nên khi soạn bộ sử này sử gia chép: "Thái Tổ" thay vì Trần Thừa, "Mỗ" thay vì Trần Cảnh.
3 Nhiều bộ sử khác chép là "Chiêu Hoàng". Bản chữ Hán sách này không thấy chép: Thái Thượng Hoàng, Hoàng Đế, Hoàng Hậu, Hoàng Tử v.v... Cả đến chữ "vua chết" không viết "đế băng" mà viết "vương hoăng". Có phải khi ở trong "Tứ khổ toàn thư", bộ sử
này đã bị người Trung Hoa với cái thủ đoạn chính trị lúc bấy giờ mà sửa khác đi chăng?.
4 "Đại Việt sử ký toàn thư", "Việt sử tiêu án" v.v... đều chép là chùa Chân Giáo. Chùa Chân Giáo được xây cất vào mùa đông năm Mậu Dần, tức là triều vua Lý Anh Tông (1158) theo bộ sử này. Vậy ta có thể nói rằng ở đây chép chùa Thiện Giáo là chép nhầm.
5 Có sách chép là chùa Bảo Nha.
6 Có sách chép Huệ Tông nhường ngôi cho Công chúa Chiêu Thánh vào tháng mười năm Giáp Thìn (1224). Sách "Lịch triều hiến
chương loại chí" chép nhà Lý bắt đầu từ Thái Tổ cho đến Chiêu Hoàng (tức Chiêu Vương gồm có chín đời vua).
109 Đại Việt Sử Lược - Phụ Bản
Phụ Bản
CHÉP VỀ NIÊN HIỆU CÁC TRIỀU VUA
THÁI TÔNG1
(1225 - 1257 - ND)
Niêm Hiệu: - Kiến Trung (1225-1231-ND) gồm bảy năm.
Năm Kiến Trung thứ nhất là năm Ất Dậu (T. L năm 1225-ND).
Thiên Ứng Chính Bình (1232- 1250- ND), gồm 19 năm.
Năm Thiên Ứng Chính Bình thứ nhất là năm Nhâm Thìn (T.L năm 1232- ND).
Nguyên Phong (1251- 1257- ND) gồm 7 năm.
Năm Nguyên Phong thứ nhất là năm Tân Hợi (T.L năm 1257- ND).
Thánh Tông2
(1258- 1278- ND)
Niên Hiệu: Thiệu Phong3 (1258- 1272- ND), gồm 15 năm.
Năm Thiệu Phong thứ nhất là năm Mậu Ngọ (T.L năm 1258- ND).
Bảo Phù (1273- 1278- ND) gồm 6 năm.
Năm Bảo Phù thứ nhất là năm Quý Dậu4 (T.L năm 1273- ND).
DỰA THEO "LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ" VÀ "VIỆT SỬ TIÊU ÁN"
1 Bản chữ Hán sách này chép Thái Tổ là chép nhầm. Thái Tổ tức Trần Thừa (thân phụ của Trần Cảnh) không làm vua, nhưng được truy tôn là Thái Tổ.
Thái Tông tên Trần Cảnh, con Trần Thừa, người ở làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường. Tổ Tiên vốn là người tỉnh Phúc Kiến nước Trung Quốc. Đến đời ông Tổ là Trần Kinh sang ở nước Nam ta. Trần Kinh sinh ra Trần Hấp, Trần Hấp sinh ra Trần Lý, Trần Lý
sinh ra Trần Thừa, Trần Thừa sinh ra vua Thái Tông.
Thái Tông nhận ngôi vua của Chiêu Vương ở ngôi 33 năm, làm Thái Thượng Hoàng 19 năm, hưởng thọ 60 tuổi.
2 Thánh Tông: Tên Hoảng con trưởng của vua Thái Tông. Thánh Tông lên ngôi, tôn Thái Tông làm Thái Thượng Hoàng Đế. Thánh Tông trị vị được 21 năm, nhường ngôi làm Thượng Hoàng 13 năm, hưởng thọ 51 tuổi.
3 Sách "Lịch triều hiến chương loại chí" chép là niên hiệu Thiệu Long.
4 Bản chữ Hán chép Kỹ Dậu là chép nhầm.
110 Đại Việt Sử Lược - Phụ Bản
Nhân Tông1
(1279- 1292- ND)
Niên Hiệu: Thiệu Bảo (1279- 1284- ND), gồm 6 năm.
Năm Thiệu Bảo thứ nhất là năm Kỹ Mão (T.L năm 1279- ND).
Trùng Hưng (1285- 1292- ND) gồm 8 năm.
Năm Trùng Hưng thứ nhất là năm Ất Dậu (T.L năm 1285-ND).
Anh Tông2
(1293-1313- ND)
Niên Hiệu: Hưng Long (1293- 1313- ND) gồm 21 năm.
Năm Hưng Long thứ nhất là năm Quý Tỵ (T.L năm 1293-ND).
Minh Tông3
(1314- 1328- ND)
Niên Hiệu: Đại Khánh (1314- 1323- ND), gồm 10 năm.
Năm Đại Khánh thứ nhất là năm Giáp Dần (T.L năm 1314- ND).
Khai Thái (1324-1328- ND) gồm 5 năm.
Năm Khai Thái thứ nhất là năm Giáp Tý (T.L năm 1324- ND).
Hiến Tông4
(1329- 1340)
Niên Hiệu: Khai Hữu (1329-1340- ND) gồm 12 năm.
1 Nhân Tông: tên Khâm.
(Khâu thậm thiết thâm, Thượng thanh minh giả)- Theo Ngự chế Việt sử tổng vịnh- vua Tự Đức. Ngài là con trưởng của vua Thái
Tông, ở ngôi 14 năm, nhường ngôi, làm Thượng Hoàng 5 năm, xuất gia đi tu 8 năm, hưởng thọ 51 tuổi.
2 Anh Tông: tên Thuyên, con trưởng của vua Nhân Tông. Sách "Lịch triều hiến chương loại chí" chép ngàii tại ngôi đến năm Giáp
Dần (1314) và số năm làm vua là 22 năm. Sách này chỉ có 21 năm. Ngài nhường ngôi cho con, làm Thượng Hoàng 7 năm, hưởng
thọ 45 tuổi.
Sách "Việt sử tiêu án" cũng chép ngài tại ngôi 21 năm 3 Minh Tông: tên Mạnh , con thứ tư của vua Anh Tông. Ngài ở ngôi được 15 năm, nhường ngôi, làm Thượng Hoàng 28 năm, hưởng
thọ 58 tuổi.
4 Hiến Tông: tên Vượng, con thứ của vua Minh Tông. Ngài làm vua được 12 năm thì băng, hưởng thọ 23 tuổi.
Sách "Lịch triều hiến chương loại chí" và "Ngự chế Việt sử tổng vịnh" chép vua Hiến Tông tại vị 13 năm tức ngài băng hà vào năm Tân tỵ (1341).
111 Đại Việt Sử Lược - Phụ Bản
Năm Khai Hữu thứ nhất là năm Kỷ Tỵ (T.L năm 1329- ND).
Dụ Tông1
(1341-1369- ND)
Niên Hiệu: Thiệu Hưng2 (1341-1357- ND) gồm 17 năm.
Năm Thiệu Hưng thứ nhất là năm Tân Tỵ (T.L năm 1341- ND).
Đại Trị (1358- 1368- ND) gồm 11 năm.
Năm Đại Trị thứ nhất là năm Mậu Tuất (T.L năm 1358- ND).
Thiên Định (1369) có một năm.
Năm Thiên Định thứ nhất là năm Kỷ Dậu (T.L năm 1369- ND).
Thái Vương3
(1370- 1372- ND)
Niên Hiệu: Thiệu Khánh (1370- 1372- ND) gồm 3 năm.
Năm Thiệu Khánh thứ nhất là năm Canh Tuất (T.L năm 1370- ND).
Duệ Tông4
(1373- 1376- ND)
Niên Hiệu: Long Khánh (1373- 1376- ND) gồm 4 năm.
Năm Long Khánh thứ nhất là năm Quý Sửu (T.L năm 1373- ND).
1 Dụ Tông: tên Hạo con thứ 10 của vua Minh Tông, ở ngôi 29 năm, hưởng thọ 34 tuổi.
2 Sách "Lịch triều Hiến chương loại chí" chép là niên hiệu Thiệu Phong.
3 Thái Vương: Nhiều bộ sử chép là Nghệ Tông. nghệ Tông, theo "Lịch triều Hiến chương loại chí" thì ngài tên Phủ, theo "Việt sử tiêu án" thì tên là Chân, là con thứ ba của vua Minh Tông. Ngài bình được nạn ở trong triều- Dương Nhật Lễ đại nghịch: tiếm vị và sát hại bà Lệ Thánh Hoàng Hậu (tức Hiến Tông Từ Thái Thượng Hoàng Hậu) khôi phục cơ đồ nhà Trần. Ngài ở ngôi 3 năm, nhường ngôi và làm Thượng Hoàng 27 năm, hưởng thọ 74 tuổi.
4 Duệ Tông: tên Kính, con thứ 11 của vua Minh Tông, em vua Nghệ Tông. Nhà vua cầm quân đi đánh Chiêm Thành bị tuẫn nạn, ở
ngôi 4 năm, hưởng thọ 41 tuổi.
112 Đại Việt Sử Lược - Phụ Bản Vua Đương Thời: Đế Nghiễn1
(1377-1388- ND)
Năm thứ nhất niên hiệu Xương Phù là năm Đinh Tỵ (T.L năm 1377- ND).
1 Sử gia soạn bộ sử này xong vào khoảng năm 1377, tức năm Đinh Tỵ đời vua thứ 10 nhà Trần. Trần Đế Nghiễn, nên gọi là vua đương thời. Vua Duệ Tông tử trận tại thành Đồ Bàn, con trưởng của Duệ Tông là Nghiễn được Thượng Hoàng Nghệ Tông lập làm
vua, tức là Phế Đế. Phế Đế (vua bị bức phải thoái vị) là cháu gọi Duệ Tông bằng bác. Lúc bấy giờ Thượng Hoàng yêu dùng họ ngoại, Quý Ly muốn gì được nấy. Bọn Quý Ly, Cự Luận tâu với Thượng Hoàng rằng: "Chưa thấy ai bán con nuôi cháu", và sau đó Đế Nghiễn bị giáng, lập Chiêu Định Vương tên Ngung con út của Nghệ Tông lên ngôi. Phế Đế làm vua 12 năm, bị giáng làm Linh Đức Vương và sau bị Quý Ly giết chết.


                                                        HẾT


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn