Thứ năm, 29/10/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay545
mod_vvisit_counterHôm trước995
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
SÔNG TÔ – CỘI NGUỒN VÀ SỰ TỒN VONG CỦA NÓ E-mail
27/09/2020

SÔNG TÔ – CỘI NGUỒN VÀ SỰ TỒN VONG CỦA NÓ

Nguyễn Đức Tài
Thưa các bạn, vừa qua báo chí có nói đến một dự án của các bạn Nhật Bản giúp đỡ Hà Nội chúng ta, cải tạo sông Tô Lịch trở thành một công viên lịch sử văn hóa, tâm linh, và được sự quan tâm của những người yêu quý Hà Nội ngàn xưa.
Mùa thu năm ngoái, chúng tôi có dịp đi thăm vùng thủ đô Seoul của Hàn Quốc, trong chuyến đi đó chúng tôi được đến thăm con suối Cheonggyecheon – một con suối trước đây bị san lấp để làm đường, đến năm 1968, người ta xây dựng bên trên nó một xa lộ trên cao. Tuy nhiên, vào tháng 7 năm 2003, ngài Lee Myung-bak, khi ấy là thị trưởng Seoul ( sau này là tổng thống Hàn Quốc ) khởi xướng đề án phục hồi dòng suối. Đây là một đề án đầy tham vọng vì không chỉ phải gỡ bỏ con đường cao tốc trên cao mà còn phải tái sinh một thủy lộ vốn đã bị san lấp từ lâu, nay gần như đã cạn khô, cần phải bơm vào 120.000 tấn nước mỗi ngày. Mặc dù gặp phải nhiều sự chống đối và chỉ trích, cuối cùng đề án cũng hoàn thành vào tháng 9 năm 2005 và được tán dương như là một thành tựu lớn trong nỗ lực kiến tạo một đô thị xanh, sạch và đẹp.
Đó là một kỳ tích của lòng dũng cảm và trí thông minh, mang lại cho cư dân Seoul một con suối trong xanh , một diện mạo mới tươi trẻ, và tôi cũng mơ ước rằng Hà Nội sẽ có sự thay đổi làm sống lại con sông Tô ngàn xưa , chứ không phải là vùi lấp nó đi…
Nhân sự kiện công bố dự án cải tạo Sông Tô này, tôi xin đăng lại bài viết của tôi “ Sông Tô – Cội nguồn và sự tồn vong của nó”
Trân trọng giới thiệu cùng các bạn :
1. PHẦN MỞ ĐẦU.
Sông Tô sống trong lòng Thăng Long - Hà Nội, từ ngàn xưa, nó liên quan đến phong thuỷ Hà Nội, và nó có một cuộc sống tâm linh huyền thoại.
Là một người con Hà Nội, tôi yêu mến lịch sử thăng trầm của mảnh đất này, và tôi hiểu rằng cái niềm yêu thương vô bờ đó phải có căn nguyên, và mình phải tìm cho ra cội nguồn của sức sống đó, nó không phải chỉ cho riêng mình, mà nó còn là của nền văn hóa sâu đậm của người Việt xưa, nơi các thế hệ tổ tiên, ông bà mình đã sống và khai phá vùng đất thiêng liêng này từ ngàn năm trước.
Nếu bạn muốn hiểu lịch sử của Hà Nội nay, và thành Đại La ngàn xưa, thì con Sông Tô là một con sông huyền thoại chứa đựng trong nó dòng lịch sử huy hoàng, đau thương, và nay thì nó đã đang chết dần, trong dòng luân hồi sinh tử.
Sự tồn vong của nó là một trang sử bi thương, của cách con người đã xử sự với bà mẹ thiên nhiên. Con người đã mong muốn cải tạo thiên nhiên, và mặt khác cũng đã tàn phá nó một cách kinh khủng…
Sông Tô là một minh chứng về cách con người đã đối xử với nó - và Tôi gọi nó là con sông Mẹ của vùng đất Thăng Long - Hà Nội.
Theo các tư liệu lịch sử : Sông Tô Lịch (chữ Hán: 蘇瀝江) là một con sông nhỏ, chảy trong địa phận thủ đô Hà Nội. Sông Tô Lịch là một đường bao của kinh đô Thăng Long xưa, nó là những cạnh của tứ giác nước Thăng Long.

Dòng chính sông Tô Lịch khi chảy qua các quận huyện : Thanh Xuân, Hoàng Mai và Thanh Trì còn được gọi là Kim Giang
Tên sông Tô Lịch tương truyền lấy từ tên một vị thần tên là Tô Lịch sống vào thời nhà Tấn đô hộ xứ Giao Chỉ. Đến thời nhà Đường, thành Đại La đã được xây dựng tại đây.
Sông Tô Lịch vốn từng là một phân lưu của sông Hồng, đưa nước từ thượng lưu ở sông Hồng sang sông Nhuệ. Đến đoạn trung lưu, nó gặp hồ Tây (là dấu tích của đoạn sông Hồng cũ) và một phần nước từ hồ Tây được cung cấp cho đoạn sông từ đó đến hạ lưu.
Sách “ Đại Nam nhất thống chí ” đã viết: Sông Tô ở phía Đông tỉnh thành ( Hà Nội ) là phân lưu của sông Nhị, một dòng chảy xuôi theo phía Bắc tỉnh thành vào cửa cống thôn Hương Bài, tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương) một dòng ngược chạy sang phía Tây huyện Vĩnh Thuận đến xã Nghĩa Đô ở phía Đông huyện Từ Liêm và các tổng thuộc huyện Thanh Trì, quanh co gần 60 dặm, tới xã Hà Liễu chảy vào sông Nhuệ.
Như vậy, sông Tô khởi nguồn từ sông Mẹ ( Sông Cái ), nay gọi là sông Hồng.

Phần 2 . GIANG KHẨU – HỒ KHẨU
Theo tư liệu lịch sử thì thượng lưu - nơi bắt nguồn của sông Tô là Giang Khẩu, “ Khẩu ” tức là cái cửa sông. Giang Khẩu là nơi cửa sông Tô bắt nguồn từ sông Cái ( sông Hồng ), nay thì “ Giang khẩu ” đã mất tăm, chỉ còn di tích là cái cổng “ Đông Hà Môn ” chữ Hà đây là sông Hồng Hà, còn Môn là cửa, tức là Cửa sông Tô ở phía Đông ( Hà Nội ). Bây giờ dân dã gọi là Ô Quan Chưởng ( vì ở đó có ông quan Chưởng thu thuế của thuyền bè, dân buôn qua lại ). Còn một cửa sông của sông Tô nữa là “ Hồ Khẩu ” tại Hồ Tây, người ta cho rằng đấy là trung lưu của Sông Tô, và như vậy sông Tô nước chảy ngược dòng.

Tên “ Hồ khẩu ”. Hồ thì ai cũng hiểu đây là cái hồ - hồ Tây, nhưng nó còn có nghĩa nữa là Hồ Ly, tức là con cáo già ( đã thành tinh )

 .
Sự tích hồ Tây về Trâu Vàng có hai dị bản khác nhau, một bản liên quan đến Thiền Sư Không Lộ, còn bản kia liên quan đến Cao Biền. Còn sự tích con Hồ ly tinh ( Con cáo chín đuôi ) cũng có hai dị bản, một bản liên quan đến Huyền Thiên Trấn Vũ ( vị thánh hiện đang được thờ tại quán Chấn Vũ, bên gần hồ Trúc Bạch ngày nay ) còn bản khác lại nói về Long Quân. Trong “ Lĩnh Nam chích quái ” do Vũ Quỳnh và Kiều Phú soạn vào khoảng năm 1492 đã viết truyện Hồ tinh. Theo đó ở phía tây thành xưa có hòn núi đá nhỏ, có một cái hang con Hồ Tinh (yêu quái cáo, con quái sau Ngư Tinh, trước Mộc Tinh). Con Hồ ly tinh chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể biến hóa vạn trạng, khi thành người khi thành quỷ ở khắp dân gian, phá hoại dân lành. Thần Long Đỗ đem việc ấy tâu lên, Thượng Đế nổi giận sai Long Vương đi diệt Hồ Ly. Long Quân bèn ra lệnh cho sáu đạo quân của thủy phủ dâng nước lên công phá bắt cáo mà nuốt ăn. Sau đó, nơi này trở thành một cái vũng sâu và rộng thông ra tận sông Hồng. Do đó, hồ Tây trước đây có tên là đầm Xác Cáo. Nay vẫn còn các địa danh mà người ta đã đặt tên cho cánh đồng ở phía Tây đầm là Hồ Đỗng (hang cáo) và thôn xóm cạnh cánh đồng đó là làng Cáo (Xuân Tảo), làng Hồ Thôn (nay là Hồ Khẩu) "Hồ" là con cáo đồng âm với "hồ" (hồ nước), hòa quyện với nhau trong những địa danh Hồ Khẩu, Cáo Đỉnh.
Sách “Tây Hồ chí ” ghi rằng : “ Hồ Tây có từ thời Hùng Vương, bấy giờ nơi đây là một bến nằm giáp sông Hồng thuộc động Lâm Ấp, nên được gọi là bến Lâm Ấp thuộc thôn Long Đỗ., phía tây là động Già La ( nay là quán La ) phía bắc liền sông Nhị Hà hàng năm nước dâng lên, khi hồ thông với sông thì muôn khoảng mênh mông chẳng khác màu xanh ngắt của hồ Động đình. Trong đó có các ngọn núi như Nùng sơn, Bút sơn , Phục Tượng, Phục Hổ, nhấp nhô trong sóng nước khác nào con rồng ẩn dài nghìn trượng đang cất mình bay lên…”
Theo những nhà phong thủy thì Hồ Tây chính là rốn của một con Rồng. Đầu con Rồng này ( Long Mạch ) bắt nguồn từ dãy núi Hymalaya, qua phía tây nam Trung Quốc, rồi xuống bắc Việt Nam và cái đuôi của nó nằm trong vịnh Bắc Bộ. Hồ Tây trước có tên là Lãng Bạc, nhưng có người lại cho rằng tên Lãng Bạc thuộc một cái hồ khác ở vùng Bắc Ninh. Vào thời Lý - Trần hồ Tây có tên là Dâm Đàm ( hồ Sương Mù ). Vào năm 1573 để tránh tên húy của Vua Lê Thế Tông là Duy Đàm, người ta đổi tên hồ Dâm Đàm thành Tây Hồ. Cái tên Tây Hồ có từ đó. Tây Hồ là cách đọc Hán Việt, nhưng dân ta thì vẫn quen gọi là Hồ Tây. Đến thời Nhà Hậu Lê cho đắp một con đê nhỏ ngang ở phía đông hồ, từ Yên Phụ đến Yên Quang, từ đó gọi phần hồ phía đông là hồ Trúc Bạch. Sử sách ghi rằng : Năm 1514, Lê Tương Dực đã bắt đầu lấp Hồ Tây, tạo nên một con đường cắt ngang hồ, đó là con đường Cổ Ngư ( có tài liệu cho rằng con đường này do dân ba làng Yên Phụ, Trúc Yên, và Yên Quang đắp, để giữ cá ).
Từ thời Lý -Trần, các vua chúa đã lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thuý Hoa đời nhà Lý, tức điện Hàm Nguyên đời nhà Trần ( nay là khu chùa Trấn Quốc), cung Từ Hoa đời nhà Lý ( nay là khu chùa Kim Liên ), điện Thuỵ Chương đời nhà Lê ( nay là khu trường Chu Văn An ), chùa Tào Sách, phủ Tây Hồ, đền Đồng Cổ, đền Quán Thánh , đền Cẩu Nhi…. Theo lời GS Trần Quốc Vượng : Đền Cẩu Nhi là di tích duy nhất còn lại ghi dấu ấn của cuộc dời đô của nhà Lý từ Hoa Lư về thành Đại La.
“ Khi ấy thuyền vua vào đến Hồ Tây, ( lúc đó hồ thông với sông Hồng ) thì vua chợt nhìn thấy một đàn chó con trên hòn đảo nhỏ. Ông vua này tuổi Giáp Tuất, nay thấy đàn chó con, cho đó là điềm lành, mang lại sự thịnh vượng, vua bèn cho lập bia trên hòn đảo này để ghi lại sự tích, gọi là Cẩu Nhi ( cẩu là chó, nhi là bé ) ”.Vua Lý Công Uẩn là người sinh năm Giáp Tuất ( Lý Thái Tổ 8 tháng 3 năm 974 – 31 tháng 3 năm 1028) tên thật là Lý Công Uẩn (李公蘊), là vị hoàng đế sáng lập nhà Lý trong lịch sử Việt Nam)
Cũng có một bản khác chép rằng : Có con chó mẹ bơi theo thuyền vua đến đây… Nay thì người ta dựng lại Đền Cẩu Nhi nhưng lại thấy ghi biển là “ Thủy Trung Tiên ” thành nơi thờ Mẫu.
Hồ Tây không những đẹp, mà xưa kia nơi đây là xứ sở của chim trời, và cá tôm nhiều vô kể… Hồ Tây cũng là nơi xưa kia trồng nhiều sen, vào dịp cuối hạ tỏa hương thơm ngát, vào những ngày trời trong có thể trông thấy dãy núi Ba Vì mờ xa… Xưa ven hồ còn có cả một rừng “ Thiết lâm ” tức là rừng lim, và người ta thấy có cả hổ, quanh quẩn trong khu rừng rậm đó…
Cửa sông Tô thông ra hồ Tây gọi là “ Hồ Khẩu ”, nay vẫn còn lại di tích. Hồ Khẩu hiện nay ở quãng số nhà 65 phố Trích Sài, hiện có một trạm bơm nước ở bên ven hồ, để điều hòa mực nước của hồ Tây. Xưa sôngTô chảy từ cửa sông chỗ này sang phía phố Thụy Khuê, nay là ngõ số 284. Sông đã thu hẹp thành một cái con ngòi nhỏ, nay thì đã cống hóa, thành con đường nối từ phố Trích Sài sang Thụy Khuê. Cách Hồ Khẩu một quãng là ngôi chùa Tĩnh Lâu, tục gọi là chùa Sài, chỗ số nhà 147 phố Trích Sài hiện nay….
Như vậy, từ ngàn xưa hồ Tây - sông Hồng là CỘI NGUỒN của con sông Tô.

Không có mô tả ảnh. Sưu tầm




 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn