Thứ năm, 29/10/2020
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay588
mod_vvisit_counterHôm trước995
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
SÔNG TÔ (tiếp theo) E-mail
29/09/2020

SÔNG TÔ
Phần 3 - MỘT THỜI HUY HOÀNG
Nguyễn Tài Đức

Con sông Tô thuở xưa đầy ắp nước, lòng sông rộng, chảy từ Hà Khẩu, phía nam Ô Quan Chưởng cạnh chợ Gạo ngày nay chảy lên phía tây bắc qua Thụy Khuê đến địa phận làng Hồ Khẩu thì tiếp nhận thêm nước sông Hồng qua hồ Tây, rồi chảy lên ngã ba chợ Bưởi nhập dòng với sông Thiên Phù tạo thành bến Giang Tân tấp nập thuyền mành qua lại. Đến đó, sông rẽ sang phía Tây tới Cầu Giấy thì chia làm hai nhánh. Một xuống phía Nam, qua Cống Vị, Liễu Giai, Vạn Phúc... một chảy qua Từ Liêm, Thanh Trì chảy vào sông Nhuệ qua ngã ba Hà Liễu. Sông mang tên người được thờ là Thành Hoàng đất Long Đỗ, gọi là Tô Lịch.
Sông Tô Lịch đã đi vào lịch sử, âm vang lên từ thế kỷ thứ 6 khi Lý Nam Đế dùng tre gỗ đắp thành Tô Lịch đánh quân Lương, xưng đế lập quốc hiệu là nước Vạn Xuân. Cái tên ấy đã vào sử, vào thơ ca sống mãi với Kinh đô Thăng Long chung thủy như một lời thề lứa đôi :
“ Bao giờ lở núi Tản Viên
Cạn sông Tô Lịch chẳng quên lời nguyền ”
Con sông ấy đã đi vào đời sống dân gian :
Sông Tô nước chảy quanh co
Cầu Đông sương sớm, quán giò trăng khuya.

Đó là con sông vàng, sông bạc, sông buôn, sông bán, thuyền mành chen vai sát cánh.
Con sông kinh tế và cũng là con sông văn hóa như câu ca xưa đã miêu tả :
Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Dừng chèo muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu
Hoặc :
Sông Tô nước chảy trong ngần
Con thuyền buồm trắng lướt gần lướt xa
Thon thon hai mái chèo hoa
Lướt đi, lướt lại như là bướm bay
Con sông ấy đã tận tuỵ với người Hà Nội từ buổi lập xóm làng đầu tiên và cũng là con sông lưu giữ dấu tích của Lý Nam Đế, người anh hùng chống xâm lược đã dựng lên một nhà nước độc lập đầu tiên trên đất Hà Nội cổ, trước khi Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư ra gần 500 năm.
Xưa kia Tô Lịch từng có một quá khứ huy hoàng, là con sông đẹp và thơ mộng bậc nhất chảy giữa kinh thành Thăng Long.
Bến cảng xưa nằm ở nơi hợp lưu của sông Tô Lịch và sông Hồng. Cửa ô ngoài cùng bìa phải là vị trí Ô Quan Chưởng ( phố Hàng Chiếu ) ngày nay
Tô Lịch từng là một nhánh nhỏ của sông Hồng, thông thủy với hồ Tây, mộng mơ và hữu ích. Đã từng những câu ca viết về Tô Lịch đẹp đẽ thế này :
“Sông Tô nước chảy quanh co
Cầu Đông sương sớm, Quán Giò trăng khuya…”.
hoặc:
“Biết nhà cô ở đâu đây
Hỡi trăng Tô Lịch hỡi mây Tây Hồ…”.
Trong các tài liệu địa chí, lịch sử đều viết rằng Tô Lịch là một tuyến đường sông quan trọng và hàng ngày người dân vẫn đánh cá, vận chuyển hàng hóa từ sông Hồng vào Tô Lịch và tỏa đi các nơi. Sông Tô có giá trị về mặt giao thông đường thủy và gần như là ranh giới tự nhiên của kinh thành Thăng Long với các vùng khác.
Trên sông Tô Lịch đã có ít nhất là 3 nơi được sử sách nhắc tới như là một địa danh lịch sử. Đó là cửa sông Tô ( cửa ra) ở phường Giang Khẩu.
Vào thế kỷ VIII, IX bên bờ nam sông Tô, nhánh chảy qua vùng đất nội thành bây giờ, lần lượt xuất hiện 3 toà thành: Thành Giao Châu hay thành Giao Chỉ tức La Thành, có cửa mở ra sông Cái, gọi là Đông La Môn.
Thành thứ hai là Tử thành (Thành con) nằm trong La Thành. Đến năm 858, thành này được mở rộng, bên ngoài rào bằng tre trúc, nên có tên là thành Lặc Trúc và đều ở bên bờ sông Tô Lịch, nên gọi là thành Tô Lịch. Đây cũng là phần đất của thành Thăng Long thời Lý - Trần.
Địa danh quan trọng nhất bên bờ sông Tô, đó là ngã ba sông Thiên Phù - Tô Lịch có bến Hồng Tân - vùng chợ Bười bây giờ, trên đường từ Hoa Lư về thăm quê ở Cổ Pháp, vua Lý Công Uẩn đã dừng thuyền ngự tại đây và nhận ra thế đất “ dựng nghiệp để vương cho muôn đời”. Và cũng chính tại đây, sau Chiếu dời đô, vào mùa thu, tháng bảy năm Canh Tuất (1010), thuyền ngự với chiến thuyền và văn võ bá quan hộ tống, từ Hoa Lư, vua Lý Thái Tổ đã ngược dòng cặp bến Đại La, tức bến Hồng Tân. Dân vùng Bưởi đón nhà vua với lụa là, gấm vóc và nhiều sản vật quý, sau được nhà vua ban tặng tên làng Nghĩa Đô và Bái Ân.
Từ ngày Lý Thái Tổ định đô Thăng Long và trải qua các triều Lý - Trần Lê, sông Tô Lịch có một sức sống mạnh mẽ, phong phú.
Trước hết , hai bên sông xuất hiện nhiều làng dân cư đông đúc, kinh tế phát triển, nhiều công trình kiến trúc, chủ yếu là chùa, quán và cũng tại hai triền sông Tô này, xuất hiện nhiều danh nhân văn hóa đất nước - bên tả ngạn gồm phần đất của 2 huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận, ngoài thành nội, còn có 61 phường thợ thủ công; dân thập tạm trại trồng luá, rau, hoa; dân Kẻ Láng có sản vật húng Láng nổi tiếng suốt mấy đời nay.
Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô đầm Sét, sâm cầm hồ Tây.
Ngoài các sản phẩm nông nghiệp, dân cư ven sông Tô còn có các nghề thủ công nổi tiếng như Nghĩa Đô, An Thái, Hồ Khẩu, Kẻ Cót có nghề làm làm giấy, trong đó giấy dó Nghĩa Đô, An Thái được triều đình dùng để viết chiếu chỉ, sắc phong. Các làng Trích Sài, Bái Ân, Nghĩa Đô có nghề dệt lụa lĩnh nổi tiếng từ ngàn xưa. Dân huyện Long Đàm xưa có nhiều làng xã nằm ven sông Tô, có các nghề nổi tiếng như dưa cà làng Gừng, kim hoàn ở Định Công Thượng, nghề làm quạt và kẹo bột bỏng gạo ở Kim Lũ, làng Ngâu có nghề nấu rượu, Tứ Kỳ làm bún đã mấy trăm năm…
Dọc hai bờ sông Tô xưa từ Bưởi đến chợ Gạo và từ Bưởi đến Thanh Trì, Thường Tín có nhiều làng cổ, mỗi làng đều có đầy đủ thiết chế đình đền, chùa, tính sơ bộ có tới cả trăm đình, đền chùa, miếu. Nhưng nổi tiếng nhất có đền Bạch Mã thờ Tô Lịch Giang thần, đền Quán Thánh thờ thần Trấn Võ; đền Đồng Cổ ở thôn Đông Xã, thờ thần Đồng Cổ và là nơi từ thời Lý Thái Tông, hàng năm mở hội thề. Vùng Bưởi còn có đình An Thái thờ ông Dầu, bà Dầu, tương truyền là người hy sinh thân mình cứu thành và cứu vua Lý khỏi bệnh đau mắt; đền Voi Phục thờ Linh Lang Đại Vương, con vua Lý Anh Tông, có công đánh giặc Tống trên sông Như Nguyệt. Kẻ Cót, Kẻ Mọc có rất nhiều đình , chùa thờ các nhân thần có công với nước và có các dòng hộ nổi tiếng về khoa bảng. Làng An Lãng có chùa ”Chiêu Thiền Tự” (tức chùa Láng), gắn liền với tên tuổi thiền sư Từ Đạo Hạnh. Kim Lũ là quê hương của danh nhân văn hoá Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Công Thể và Nguyễn Trọng Hợp.
Vùng Thanh Liệt, Hoàng Liệt, Tam Hiệp gắn liền với tên tuổi danh tướng Phạm Tu, võ tướng trong cuộc khởi nghĩa Lý Bí, thế kỷ VI và tiên triết Chu Văn An, bậc túc nho thời Trần, người thầy giáo nổi tiếng, vị quan thanh liêm, đã dâng “Thất trảm sớ” lên vua Trần, xin chém 7 viên quan đại thần gian tham. Trên đất trang Cung Hoàng xưa bên bờ sông Tô, Chu Văn An đã từng mở trường học dạy học; nơi đây nay là Văn chỉ Chu Văn An cùng với bia trên 30 vị khoa bảng của huyện Thanh Trì. Đối diện với Văn chỉ Chu Văn An, bên này sông Tô, trên đất Bằng Liệt xưa là miếu Xạ Can ( Miếu trừ nạn hạn hán), gọi nôm là miếu Gàn, thờ người học trò thuỷ thần của Chu Văn An - nghe lời thầy, người học trò này đã dùng bút mực cầu đảo trời làm mưa chống hạn cứu lúa cho cả vùng. Truyền thuyết về người học trò thuỷ thần đã trở thành tín ngưỡng văn hoá của dân vùng hồ Linh Đàm. Hồ này cùng là dấu tích của sông Tô, giống như hồ Tây là dấu tích sông Hồng.
Đời sống sông Tô thật phong phú. Nó chứa đầy ắp những sự tích và di tích lịch sử văn hoá.


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn