Thứ ba, 20/04/2021
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Khoa học - Giáo dục
Văn hoá - Nghệ thuật
Kinh tế
Các lĩnh vực khác
Nét đẹp đời thường
Gia tộc và gia giáo
Chuyên đề
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay305
mod_vvisit_counterHôm trước1045
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Phần 2.7) E-mail
02/01/2021

NHỮNG KHOẢNG TRỐNG TRONG THỜI KỲ LỊCH SỬ NƯỚC TA (Phần 2.7)

PHẦN HAI (TIẾP THEO)
VIII
III/ - NHỮNG PHÁT HIỆN MỚI VỀ KHU DI TÍCH ĐỀN HÙNG VÀ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (tiếp theo kỳ trước)
Một số hình ảnh Về Thời Đại HÙNG VƯƠNG DỰNG NƯỚC
Tác giả Lê Văn Hảo
(Tư liệu từ Website: http://CHIMVIET.FREE.FR)
I - Trống đồng Đông Sơn;
Hiện vật tiêu biểu nhất của văn hóa Việt cổ,
nền văn minh sông Hồng
TRỐNG NGỌC LŨ MẶT TRỐNG
MẶT TRỐNG NGỌC LŨ
(BẢN VẼ CỦA NGỤ QUỲNH NGA)
MỘT TOàN CẢNH SINH HOẠT
của người Việt cổ TRỐNG NGỌC LŨ
(CHI TIẾT) TRỐNG NGỌC LŨ
(CHI TIẾT)
MẶT TRỐNG HOàNG HẠ
MỘT TOàN CẢNH SINH HOẠT
của người Việt cổ
TRỐNG HOàNG HẠ
(CHI TIẾT) TRỐNG HOàNG HẠ
(CHI TIẾT)
*
II - Trống đồng Đông Sơn
III - Trống đồng Đông Sơn
MẶT TRỐNG CỔ LOA
MỘT TOàN CẢNH SINH HOẠT
của người Việt cổ TRỐNG CỔ LOA
(CHI TIẾT ) TRỐNG CỔ LOA
(CHI TIẾT )
*
IV - Trống đồng Đông Sơn
Mặt trống Sông Đà
MỘT TOàN CẢNH SINH HOẠT
của người Việt cổ Trống Sông Đà
(CHI TIẾT ) Trống Sông Đà
(CHI TIẾT )
MẶT TRỐNG NGỌC LŨ
MỘT TOàN CẢNH SINH HOẠT của người Việt cổ
MẶT TRỐNG HOàNG HẠ
MỘT TOàN CẢNH SINH HOẠT của người Việt cổ
*
V. Một số hiện vật khác tiêu biểu của văn hóa
Đông Sơn, văn minh sông Hồng:
THỐ, THẠP, RÌU đồng, cồng chiêng, kiếm ngắn, dao găm
Thố đồng Đông Sơn CỎC KIỀU TRỐNG
Thạp Đào Thịnh CỒNG NGỌC LŨ CỒNG NGỌC LŨ
Vũ khí Đông Sơn:
Dao găm và kiếm ngắn RÌU Đông Sơn
Hoa văn người và động vật
RÌU Đông Sơn
Hoa văn người và động vật RÌU Đông Sơn
Hoa văn nai, chim
RÌU Đông Sơn
Hoa văn chó và nai RÌU Đông Sơn
Hoa văn chó Và NAI
RÌU Hà Đông
Hoa văn chó và nai RÌU LĂNG NGHIÊM
Hoa văn người - thuyền và chó săn hươu
*
VI - Âm nhạc Việt cổ thời Hùng Vương
Hai nhạc sĩ Việt cổ đang đánh cồng BỐN NHẠC SĨ VIỆT CỔ GIÓ TRỐNG đồng
NHẠC SĨ VIỆT CỔ CỪNG NHAU THỔI KHỐN MÚA HÁT NHẠC SĨ VIỆT CỔ THỔI KHÈN
NHẠC SĨ VIỆT CỔ THỔI KHÈN Bốn nhạc sĩ Việt cổ đang giÓ TRỐNG
Nhạc cụ và cách chơi nhạc cụ bộ gõ THỜI Đông Sơn
*
VII - Nhà Đông Sơn
1. Nhà rồng Việt cổ, cội nguồn của ngôi ĐìNH VIỆT 2. NHà KHO VIỆT CỔ (NHà CẦU MỰA)
Nhà Đông Sơn (trống Ngọc Lũ) Nhà Đông Sơn (TRỐNG NGỌC LŨ)
Nhà Đông Sơn (trống Hoàng Hạ)
TỪ HÌNH DÁNG NGÔI NHà SàN TRÊN TRỐNG đồng suy ra dáng ngôi nhà sàn Việt cổ (theo Chu Quang Trứ) TỪ HìNH DỎNG NGÔI NHà SàN TRÊN TRỐNG đồng suy ra dáng ngôi nhà sàn Việt cổ
( THEO CHU QUANG TRỨ)
TỪ HÌNH DỎNG NGÔI NHà SàN TRÊN TRỐNG đồng suy ra dáng ngôi nhà sàn Việt cổ (theo Chu Quang Trứ)
*
VIII - Thuyền Đông Sơn và THỦY QUÂN VIỆT CỔ
Thuyền Đông Sơn
1. HÌNH THUYỀN TRÊN TANG TRỐNG đồng Hoành Hạ?
2. HÌNH TRÊN THẠP Đào Thịnh
3.4.5.6.7.8. HÌNH THUYỀN TRÊN TANG TRỐNG NGỌC LŨ
*
IX - Động vật Đông Sơn,
Chim, động vật thân thương nhất của người Việt cổ
Chim Đông Sơn
(TRỐNG DUY TIÊN)
CÁC HÌNH CHIM TRÊN TRỐNG Đông Sơn
HÌNH CHIM TRÊN TRỐNG HOàNH HẠ Và NGỌC LŨ
HÌNH CHIM TRÊN TRỐNG HOàNH HẠ Và
NGỌC LŨ, Quảng Xương và Phnom-Penh
Chim trên trống đồng Tượng chim
Chim đậu trên nóc nhà
(TRỐNG NGỌC LŨ) Chim đậu trên lưng voi
(tượng làng Vạc)
CHIM BAY (TRỐNG MIẾU MỤN) Chim đậu trên nóc nhà
(TRỐNG NGỌC LŨ)
*
X - Các Động vật Đông Sơn khác
VOI, CHÚ, CHỒN, NAI, CỎ, CỎ SẤU - GIAO LONG, CÚC
Tượng cóc Đào Thịnh Tượng báo, nai, voi, hổ và chó trên các dụng cụ
A. HÌNH CHỒN (TRỐNG MIẾU MÔN) B. HÌNH CHỒN (TRỐNG PHNOM PENH)
Đ. HÌNH NAI
E. HÌNH NAI (TRỐNG NGỌC LŨ) Ấ. HÌNH NAI (TRỐNG MIẾU MỤN)
HÌNH CỎ HÌNH CỎ SẤU
( THEO NGUYỄN PHÚC LONG) HÌNH CỎ SẤU - GIAO LONG (?)
( THEO NGUYỄN PHÚC LONG)
HÌNH CÁ SẤU - GIAO LONG (?) (trên giáo Đông Sơn) HÌNH CỎ SẤU - GIAO LONG (?) HÌNH CỎ SẤU - GIAO LONG (?)
(TRÊN RÌU NÚI VOI)
HÌNH CÁ
1. Tượng voi trên trống Hội Xuân
2. Tượng nai trên trống Mẫu Đức (ảnh Nguyễn Phúc Long)
3. HỠNH VOI TRỜN TRỐNG SALAYAR (THEO F.HEGER)
*
XI - Người Đông Sơn
TRANG PHỤC VIỆT CỔ
A. HÌNH NGười Việt cổ (trống Ngọc Lũ) B. HÌNH NGười Việt cổ (trỐNG NGỌC LŨ)
C. HÌNH NGười Việt cổ
(trống Sông Đà) HÌNH NGười Việt cổ
(HOàNG HẠ) (HOàNG HẠ)
Bốn tượng người phụ nữ trên cán dao găm VIỆT CỔ thời Đông Sơn SÁU VŨ SĨ, CHIẾN SĨ VIỆT CỔ TRANG PHỤC,
HÓA TRANG
TRANG PHỤC VIỆT CỔ
Trang phục của người Việt cổ sau đây được VẼ LẠI THEO
CÁC HÌNH VẼ Và Tượng Đông Sơn
Trang phục ngày thường / trang phục ngày hội Bốn cách để tóc
SÁU VŨ SĨ, CHIẾN SĨ VIỆT CỔ TRANG PHỤC, HÚA TRANG
TRANG PHỤC CỦA người Việt cổ
(VẼ LẠI THEO CÁC HÌNH VẼ Và Tượng Đông Sơn)
XII - Người Đông Sơn
Sinh sống, lao động, vui chơi ...
Người Việt cổ vui chơi :
GIÓ TRỐNG, đánh cồng Người Việt cổ vui chơi :
GIÓ TRỐNG, đánh cồng
Người Việt cổ vui chơi : giÓ TRỐNG, đánh cồng
Người Việt cổ lao động : giÓ GẠO(HAY GIÓ CỐI)
NÉT PHÓNG KHOÁNG : CUỘC SỐNG TÌNH DỤC CỦA NGười Việt cổ qua Tượng đôi gái trai đang giao hợp trên nắp thạp Đào Thịnh
(Photo Lê Thành Đức)
Người Việt cổ CõNG NHAU THỔI KHÈN MÚA HÁT Cuộc sống tôn giáo: Người Việt cổ QUÌ DÂNG PHẨM VẬT Tượng người Việt cổ (HÌNH VẼ Và ẢNH CHỤP)
B.C.D.Đ. Cảnh lễ hội Việt cổ:
Người dân các làng chạ Việt cổ thời Hùng Vương giÓ CỐI, GIÓ TRỐNG, đánh cồng múa hát, chơi chồng nụ chồng hoa ... mừng hội mùa; chim chóc, gà vịt hươu nai ... cũng hoan hỉ với người (trống Ngọc Lũ)
B. CẢNH LỄ HỘI VIỆT CỔ C.CẢNH LỄ HỘI VIỆT CỔ
D. CẢNH LỄ HỘI VIỆT CỔ Đ. Cảnh lễ hội Việt cổ
IX
Trích sách : “NGUYÊN LÝ CHỌN NGÀY THEO LỊCH CAN CHI”
Tác giả: Hoàng Tuấn, là Tiến sĩ Khoa học (Đại học Humboldt– Berlin –1970) Đại tá, Giáo sư, nguyên Giám đốc Bệnh viện 19-8, thuộc Bộ Công an. Nxb Văn hoá Thông tin 2005.
“ . . .7.1- LỊCH VIỆT NAM: Nước Việt Nam lập nước rất sớm, lại là một nước có nghề trồng lúa nước lâu đời ở Đông Nam Á. Để phục vụ nghề nông, ông cha ta không thể không làm lịch. Tiếc thay lịch cổ vốn đã được khắc trên mai rùa từ thời chữ viết “tượng hình” mới sơ khai, mà người Trung Quốc xưa gọi là chữ “Khoa Đẩu” đã bị mai một trước nạn bành trướng của phương bắc.
Một ngàn năm bị đô hộ dưới các triều đại phong kiến hà khắc Trung Quốc, dĩ nhiên người Việt phải theo lịch Trung Quốc. Tuy nhiên lịch nhiều nước Á Đông đều bắt nguồn từ Hà Đồ – Lạc Thư và cũng dùng hệ Can Chi vốn là tính toán của người Việt cổ. Những lý giải ban đầu của những người đẫ sáng lập ra Lịch Rùa cùng Hệ Can Chi, trải qua lịch sử lâu dài hầu như đã thất truyền. Vì vậy việc khảo sát lại nền văn hoá lâu đời của người Việt cổ qua lịch toán và tìm lại nguồn gốc Hệ Can Chi là điều cần thiết và phải tốn nhiều công sức, không thể một sớm một chiều mà giải quyết được;
Cần phải lưu ý các độc giả thêm một điều: việc nghiên cứu để tìm lại nguồn gốc lịch Can Chi của một nền văn hoá đã bị thất truyền hoàn toàn không phải là việc tranh chấp theo quan điểm dân tộc hẹp hòi, mà nó có ý nghĩa về mặt học thuật, khôi phục lại chân lý đã mất và có lợi cho sự hiểu biết của con người.
. . . Cổ sử Trung Quốc cũng đã viết: “Vào thời Vua Nghiêu (năm 2357 trước Công nguyên)((1) Đại Việt sử ký toàn thư- Tập I- Kỷ Hồng Bàng Thị - Nxb Khoa học Xã hội - 1993 . Tr 1311) có sứ giả Việt Thường đến Kinh đô tại Bình Dương (phía bắc sông Hoàng Hà - tỉnh Sơn Tây ngày nay) để dâng một con Thần Quy (Rùa lớn), vuông hơn ba thước, trên lưng có khắc chữ Khoa Đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại, gọi là Lịch Rùa”((2) Lê Chí Thiệp: Kinh dịch nguyên thuỷ - Nxb Văn học- 1998-Tr 34
[2).
Chữ Khoa Đẩu mà người Trung Quốc gọi là chữ hình con nòng nọc, tức gồm những chấm đen hay trắng nối với những gạch ( ) và cả những vạch liền, vạch đứt ( ) ( ) trông giống như những con nòng nọc.
Phải chăng đó chính là ký hiệu chữ số trong bảng Hà Đồ – Lạc Thư của Kinh Dịch cổ. Ngày xưa chưa phát minh ra giấy, Vua Nghiêu cho chép lại chỉ có thể là sao lại trên mai rùa khác hoặc trên xương bả những động vật lớn đã bị ăn thịt, rồi lưu trong “tàng thư”. Đến thời Vua Trụ Tây Sở Bá là Chu Văn Vương – một đại địa chủ kiêm học giả - bị nghi làm phản mới bị bắt giam trong ngục Dữu Lý tới 7 năm. Rất có thể thời gian đó họ Chu đã nghiên cứu lại lịch Rùa này, và đã phát hiện ra cách viết các con số theo Hệ Nhị phân của lịch Việt Thường cổ. Ông đã sắp xếp lại trật tự tám quẻ tiên thiên của lịch rùa nước Việt tiến cống thời Vua Nghiêu, thành trật tự mới gọi là Hậu thiên bát quái. Đây chỉ là một giả thuyết khi đi tìm lại nguồn gốc của lịch rùa, cùng Hệ Can Chi, cũng như nguồn gốc của Hà Đồ - Lạc Thư trong Kinh Dịch cổ mà chính các học giả Trung Quốc từ xưa tới nay đã viết và chú giải rất nhiều nhưng đều không biết nguồn gốc chúng từ đâu đến.((1) Xin xem thêm mục: "Nguồn gốc Kinh Dịch" trong cuốn "Kinh Dịch và Hệ Nhị Phân" của Hoàng Tuấn - NXB Văn hoá Thông tin-Hà Nội - 2002.
Ơ1)
Đa số các nhà nghiên cứu về cổ sử và dân tộc học trên thế giới đều cho rằng người Hoa xưa kia vốn là một bộ tộc du mục thiện chiến ở phía Tây Bắc (ngày nay thuộc Trung Quốc) đã sớm thôn tính các quốc gia lân cận thành lập một liên bang rộng lớn, sau tràn xuống chiếm hết vùng Trung Nguyên và cả miền Nam Trung Quốc hiện nay. Vùng đất rộng lớn giữa lưu vực của hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử vốn là địa bàn cư tru của dân tộc Bách Việt và các bộ tộc Tam Miêu cổ, trong đó có dân tộc Việt Thường ở phía nam lưu vực sông Dương Tử, vùng hồ Động Đình và Phiên Dương (thuộc tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc và Lưỡng Quảng ngày nay) là đã có một nền văn minh lúa nước rất phát triển. Chính họ đã xây dựng nên "Lịch Rùa", trong đó đã nêu lên Vũ Tụ từ lúc mới hình thành cho đến sau này và đã đem sang Bình Dương tiến cống Vua Nghiêu.
Ngay tên Kinh Dương Vương, vị Vua thời lập quốc của người Việt cổ, đã mang dấu ấn là vị vua của hai châu lớn và phát triển nhất trong chín châu mà thiên Vũ Cống trong kinh thư cổ của Trung Quốc đã ghi, đó là các châu: Ký, Duyên, Thanh, Tứ, Kinh, Dương, Dự, Lương, Ung. Sách đó còn ghi rõ cả năm vật quí hiếm ở châu Kinh và châu Dương của người Việt cổ như vàng, bạc, đồng và những dụng cụ bằng kim loại khác; chứng tỏ họ đã biết chế tác kim loại rất sớm. Ngoài ra người Việt Thường còn biết dệt vải bông, làm tơ lụa, gấm vóc. Họ còn có ngọc dao, ngọc côn, ngà voi, sừng tê .v. v…
Rõ ràng dân tộc Việt Thường ở hai châu Kinh và châu Dương đã rất phát triển. Đất đai của họ luôn luôn là mục tiêu bành trướng của các bộ tộc thiện chiến phương bắc.
Về địa giới xưa của người Việt Thường, nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên đã nêu rõ thêm: "Nước Việt Thường thời Đế Minh là cháu đời thứ 3 của Đế Viêm (thuộc Họ Thần Nông), kế thừa Họ Phục Hy. Nước Việt Thường này ở hai phía bắc nam bờ sông Dương Tử, bao gồm hai châu Kinh và Dương, ngày nay là các vùng Hồ Bắc, Hồ Nam, Việt Tây (sau đổi là Quảng Tây), Việt Đông (sau đổi là Quảng Đông); suốt vùng châu thổ Việt Giang, trải dài xuống nước ta đến tận đèo Ngang ngày nay. Kinh Dương Vương là con trai đầu của thứ phi Đế Minh, được Vua Cha chia cho quản lý hai châu Kinh và Dương trở xuống phía nam nên mới dùng Vương hiệu kiêm nhiệm này và lấy tên Việt Thường cổ truyền làm tên nước (khi người Việt cổ phải thu hẹp đất nước lại ở lưu vực đồng bằng sông Hồng - sông Mã thì tên Việt Thường chỉ còn là một bộ của nước Văn Lang xưa). Đế Nghi((1) Theo Cổ Lôi ngọc Phả truyền thư thì Đế Nghi (tức Nguyễn Nghi Nhân) là em sinh đôi của Đế Minh (Nguyễn Minh Khiết) đều là con trai của Sở Minh Công, chứ không phải con của Đế Minh (Đ.T.)1) là con trai trưởng bà chính cung được Vua Cha giao cho quản lýphương bắc, từ phía bắc sông Hoài trở lên. Nước của Đế Nghi (anh) về sau bị mất vào tay họ Hiền Viên xưng Đế vùng sông Hoàng (nên gọi là Hoàng đế)…Đất nước của Kinh Dương Vương vốn mênh mông từ châu thổ sông Dương Tử trở về nam, rút cục chỉ còn hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Còn tên Giao Chỉ vốn là tên để gọi vùng đất phía nam tiếp giáp với biển Đông và nằm giữa hai nước lớn là Trung Quốc và Ấn Độ sau này. Giao có nghĩa là giao tiếp, Chỉ là vùng dất (chứ không phải đất của người có hai ngón chân cái giao vào nhau như cách giải thích của bọn xâm lược phương bắc cũ) .
Nhà nghiên cứu lịch pháp cổ Việt Nam là Bùi Huy Hồng, đã nghiên cứu rất kỹ những hoa văn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và Hoàng Hạ, lại thử dùng các mặt trống đó làm bàn đo bóng nắng mặt trời để định các mốc thời tiết theo cổ nhân. Ông đã phát hiện ra rằng, hoa văn trên trống không phải đơn thuần chỉ để trang trí, mà còn là những ký hiệu để ghi chép lịch của người xưa trong thời kỳ chữ viết chưa phát triển. Bằng cách đo đạc tỷ mỷ các vòng tiếp tuyến trên mặt trống đồng Ngọc Lũ, ông đã phát hiện ra các con số lịch toán, nhiều số là bội số của 7 (vốn là số lớn nhất trong Bát Quái) là 112; 147; 207; 248; 336. Những con số này rất cần thiết để tính ra tiết Xuân Phân, Đông Chí hay Hạ Chí để định thời vụ gieo trồng. Ngay hình vẽ 14 tia mặt trời trên mặt trống cũng là trị số của hai quẻ Càn cộng lại. Theo Bùi Huy Hồng thì đó là bằng chứng cho ta thấy: Lịch Việt Nam đã xuất hiện rất sớm, trước cả lịch của Trung Quốc và lịch cổ của Khơme. Điều đó chẳng có gì là lạ, bởi yêu cầu của nền văn minh lúa nước bắt buộc con người phải tìm hiểu lịch pháp để định thời vụ gieo trồng. Nền văn minh du mục của các bộ lạc thiện chiến phương bắc cổ không thể có các tiên đề xã hội để phát triển lịch pháp trước. Điều này cho ta thêm một lý do để xác định" Lịch Rùa" nguyên thuỷ với chữ số viết bằng chấm, bằng vạch trên các bảng Hà Đồ- Lạc Thư cổ xưa, rất có thể cả Hệ Can Chi là của nền văn minh Việt cổ sản sinh ra và đã bị thất truyền trước nạn ngoại xâm và đô hộ.
7.2- Cuộc di dân vĩ đại về phía nam qua truyền thuyết:
Sau khi đất nước phía bắc của người anh là Đế Nghi bị mất, các bộ tộc người Hoa tràn xuống phía nam. Nền văn minh nông nghiệp lâu đời của dân tộc Việt thiên về hoà bình đã không chống nổi những bộ tộc du mục thiện chiến phương bắc, lấy giết chóc và chiếm cứ tài nguyên, đất đai làm mục tiêu. Câu chuyện về Lạc Long Quân cùng vợ là Âu Cơ đã phải chia tay, mỗi người dẫn 50 con, người lên rừng, kẻ xuống biển, có lẽ là để diễn tả cuộc di dân khổng lồ về phương nam để bảo vệ nòi giống trước hoạ xâm lăng.
Còn chuyện thần thoại "cùng sinh ra trong một bọc trăm trứng", có lẽ là để nói lên ý nghĩa về một cái nôi văn hoá chung, đó chính là nền văn hoá có nguồn gốc từ Hà Đỗ - Lạc Thư, bao gồm 100 chữ số (Hà Đỗ 55 số + Lạc Thư 45 sỗ =100 số, sau này gọi là số Đại Diễn). Nền văn hoá trên các con số "nhị phân" của người Việt cổ, cốt để nâng cao tinh thần "tương thân tương ái" bảo vệ nòi giống và nền văn hoá chung khi hoạn nạn. Nó còn chung ý nghĩa với câu ca dao: "Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". Diễn tả cuộc di dân về phương nam trước hoạ ngoại xâm qua câu chuyện được thuần thoại hoá về Lạc Long Quân và Âu cơ cùng trăm đứa con được nở ra từ một bọc trăm trứng, sau phải chia đôi, một nửa theo đường rừng núi (đường bộ), một nửa theo đường sông biển (đường thuỷ) tiến xuống phía nam, đã ghi sâu trong ký ức của người Việt suốt cả chiều dài lịch sử, cho đến khi tạo dựng nên nước Việt Nam ngày nay.
Trong thực tế cũng chỉ có người Việt Nam mới gọi nhau bằng "đồng bào" (một danh từ sau này được Hán hoá để chỉ người cùng một bọc). Nhân dân các nước liên bang vùng Đông Nam Á kể cả miền nam Trung Quốc, không đâu gọi nhau như thế. Người mà đẻ ra trứng là chuyện không thể có thực. Truyền thuyết về Bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng chỉ là để nói lên ý nghĩa: người cùng chung một nền văn hoá. Nền văn hoá đó dựa trên lý thuyết Hà Đồ - Lạc Thư gồm 100 số, ký hiệu bằng "100 vòng tròn đen trắng" như 100 quả trứng, cùng cách viết chữ theo cơ chế nhị phân mà tổ tiên họ đã phát hiện ra. Văn hoá còn thì dân tộc còn. Đó là một nền văn hoá dựa trên trí tuệ thiên văn làm lịch để phục vụ nghề nông. Họ đã sáng tạo ra hệ toạ độ không gian 5 hướng (4 hướng ngoại vị và hướng gốc trung tâm) ứng với 5 con see đầu tiên của Tạo Hoá, 5 sắc, 5 hành và cũng là 5 ngón tay, 5 ngón chân của con người. Trong hàng ngàn trước tác về Kinh Dịch của Trung Quốc qua nhiều thời đại, chưa hề thấy cuốn nào lý giải về Hệ Toạ Độ này một cách minh bạch. Nền văn hoá 100 số của Hà Đồ - Lạc Thư cổ không để lại những công trình kỳ vĩ dựa trên lao động khổ sai cùng máu và nước mắt của hàng triệu người dân nô lệ; Bởi lẽ những công trình đó rồi cũng sẽ tan rã với thời gian như Kim Tự tháp với lăng mộ Pharaông, vườn treo Babilon, Vạn Lý trường thành, lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng, cung A Phòng xưa hay Cố Cung sau này, Ăng co Vát, Ăng co Thom . v. v.
Nền văn hoá vì con người đó đã tạo nên "Lịch Rùa" thời xa xưa, rồi nền văn hoá Đông Sơn, nền văn hoá Trống đồng Ngọc Lũ, Trống Đồng Hoàng Hạ, nối tiếp nhau với kỹ thuật trồng lúa nước theo bốn chữ: "Nước - Phân - Cần - Giống" được lưu truyền cho đến thời hiện đại.
Như một học giả phương Tây dã nêu lên: "Dân tộc nào đã tồn tại lâu dài nhất, ắt đã có một nền văn hoá sâu sắc nhất". Cần phải thêm rằng, nền văn hoá sâu sắc nhất cũng là nền văn hoá bám rễ vững chắc nhất trong từng con người của dân tộc đó. Nền Văn hoá Văn Lang và Lạc Việt đã để lại qúa nhiều dấu ấn trong nếp nghĩ và cách sống của người Việt từ bắc chí nam. Nhà nghiên cứu Dịch học Việt Nam ở nước ngoài là Nguyễn Duyệt, trong cuốn "Trở về nguồn" của ông, xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1996, có thêm những nhận xét về tổ tiên Giống Bách Việt, trước hoạ xâm lăng liên tục như sau:
"Thấy trước cái thế bị đánh tập trung, tổ tiên ta đã đoán trước sự thất quốc của nòi giống , lôi kéo theo sự phá huỷ cả một nền văn minh mà không thể một sớm một chiều khôi phục lại được. Muốn duy trì nền văn minh cho con cháu mai hậu… tổ tiên đã dùng con rùa (con vật sống lâu nhất từ hai ngàn năm đến bốn ngàn năm mà khoa sinh vật học thế kỷ 20 này mới khám phá ra được tuổi đời của nó), để ghi khắc ký hiệu của một nền văn minh trên lưng nó, rồi đem thả xuống sông với hy vọng mai sau khi con cháu phải xuôi Nam tìm nơi sinh sống sẽ gặp lại được vết tích của nền Văn minh Lạc Việt, hầu khôi phục dân tộc…
Từ đó những nơi nào tập trung dòng giống Lạc Việt được truyền tụng cho nhau, nhất là trước các đình, chùa, đền, miếu, lăng tẩm đều hay dựng bức bình phong đắp "Con rùa đội cuốn sách" (Hà Đồ chỉ con rùa, Lạc Thư chỉ cuốn sách), là ý muốn nói đến nền văn minh Lạc Việt được ghi khắc trên lưng con rùa". ((1) “Quang Thống - Nguyễn Duyệt” “Trở về nguồn” Sách xuất bản tại Mỹ, năm 1996, Tr. 30, 31 (không có tên nha xuất bản ).1)
Trở lại thời Vua Hùng đầu tiên lập nước Văn Lang; Tuy đã mất một phần đất mầu mỡ phương bắc, nhưng đất nước Văn Lang xưa vẫn còn rộng lớn. Lịch sử còn ghi rõ địa giới: Đông giáp biển Nam Hải, Tây giáp Ba Thục Bắc đến Hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn (tức nước Chiêm Thành, nay là đất Quảng Nam). Về thời kỳ lịch sử xa xôi này, khảo sát lại chúng ta thấy có nhiều điều thú vị. Có hai nhân vật truyền thuyết mà cả dân tộc Việt lẫn dân tộc Hoa đều coi là Thuỷ tổ của mình, đó là Phục Hy và Thần Nông. Thực ra hai cặp danh từ riêng này đều mang dấu ấn văn phạm tiếng Việt hơn là tiếng Hán. Phục Hy không phải là tên cá nhân một ông Vua nào, mà là tên để chỉ cả một thời đại dài của nền kinh tế lấy chăn nuôi thuần hoá các súc vật hoang dã làm chính. Phục Hy có nghĩa là “thuần phục loài muông Hy (loài thú Hy)” – một loài thú nuôi để cúng Thần. Nếu là ngôn ngữ Hán thì phải gọi là Hy Phục chứ không thể là Phục Hy. Thần Nông cũng thế, đó không phải là một người mà là cả một thời đại gồm nhiều lãnh tụ của những cư dân nông nghiệp chuyên trồng lúa nước, như thời kỳ Hùng Vương sau này cũng vậy, đều gồm rất nhiều đời Vua. Nếu là lãnh tụ của dân tộc Hán thì theo văn phạm Hán phải gọi là “Nông Thần”; còn Thần Nông chỉ ông “Thần” nghề Nông, là theo văn phạm thuần Việt, tính từ phải để sau danh từ.
Dân tộc Hán vốn là bộ tộc du mục ở miền bắc tràn xuống chiếm cứ vùng Trung Nguyên, không thể có Thuỷ tổ là Thần Nông được. Thêm nữa lịch sử cũng đã ghi rõ: “Xưa cháu ba đời Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Vua (Kinh Dương Vương)…Đế Minh lâp Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho Vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỹ . . .”(1 Đại Việt sử ký toàn thư - Nội các quan bản- Nxb KH-XH –1993-TI-.Tr131.132
1)
Như trên đã nói, đất nước rộng lớn của Kinh Dương Vương luôn luôn là mục tiêu bành trướng của các thế lực xâm lược phương bắc. Họ không những chỉ chiếm cứ những miền đất phì nhiêu mà còn xoá sạch các nền văn hoá bản địa…Tuy nhiên họ lại du nhập cái hay của mọi dân tộc bại trận làm văn hoá chính quốc.
… Với chính sách đó thì chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, đã bị xoá sạch là điều tất yếu. Sự lai ghép giữa chữ tượng hình của người Việt xưa và chữ tượng hình của người Hán sau này đã tạo nên lối đọc đặc biệt, gọi là hệ “âm Hán – Việt”. Nhiều nhà nghiên cứu về chữ Hán cổ cũng cho rằng, nhiều chữ cổ có xuất xứ từ phương Nam, nhiều từ khác là hình tượng các sản vật phương Nam. Vì vậy có thể chữ Hán đã được phát triển trên cơ sở chữ tượng hình bản địa, vốn là một địa bàn có nền văn minh lúa nước rất sớm.”

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn