NGÔI CHÙA LÀNG
& VĂN
HÓA LÀNG
Tương
Lai
Bất
cứ người Việt nào cũng có,
và cần có, một vùng quê để
thương để nhớ. Thật bất hạnh
cho ai đó không có được một
“ vùng thương nhớ
” ấy trong
hoài niệm tuổi thơ. Mà
đã là hoài niệm, thì cho dù
nơi ấy có cơ cực tủi nhục
đến đâu, có xơ xác lam lũ
thế nào, có để lại những
dấu ấn buồn đau đến mấy, thì
vẫn có sức gọi dậy những vang
bóng một thời đầy ắp những
kỷ niệm mông lung, ấm áp.
Về
làng, ta về làng, hai
tiếng ấy giục giã đến nao lòng
những người vì cuộc mưu sinh, vì
một sự nghiệp phải xa quê. “
Ai
về làng cũ hôm nay, Thư này đưa
hộ cho thày mẹ tôi. Con đi mười
mấy năm trời, Một thân bé bỏng,
nửa đời gió sương…Con đi
năm ấy tháng tư, Lúa chiêm xấp
xỉ giỗ từ tháng ba. Con đi quạnh
cửa quạnh nhà, Cha già đập lúa,
mẹ già giũ rơm. Cha dậm gạo, mẹ
vần cơm. Có con, con vắng, ai làm thay
cho ” (Nguyễn
Bính).
Mà
đã về làng thì làm sao có
thể không nhớ đến
ngôi chùa làng. “ Đất
vua, chùa làng, phong cảnh Bụt ”.
Chùa làng thường gắn với đình
làng, một bộ sóng đôi trong tâm
thức người Việt, nhưng quan trọng hơn,
nó thể hiện sinh động triết lý
nhân sinh và tinh thần khoan dung hoà hợp
trong đời sống tín ngưỡng của
dân tộc. Ngôi chùa làng đáp
ứng một nhu cầu rất sâu đậm
của đời sống thôn dã, là
sự cân đối trở lại nét bất
bình đẳng nặng nề trong sinh hoạt
cộng đồng làng quê xưa. Nếu
ở đình làng, ngoài những ngày
sóc vọng lễ tiết có “ hội
làng mở giữa mùa thu, giời cao gió
cả giăng như ban ngày ”
mà cả dân làng đều tụ hội,
thì thông thường, chốn đình
trung chỉ dành cho các quan viên bàn
“ việc làng ”,
người phụ nữ
không được can dự. Cho nên ngôi
chùa làng
lại là nơi dành cho họ, các cụ,
các bà, các cô thôn nữ, và
đương nhiên trẻ em được
theo bà, theo mẹ, theo chị đến chùa.
“ Trẻ vui nhà, già
vui chùa ”,
trẻ cũng được theo già để
được “ vui chùa
”.
Vì
vậy, nếu “ cái
đình
là trung tâm của làng. Làng nào
cũng có đền thờ ông thần
hoàng. Đình được cất cao ráo
khang trang, thế tất theo phong thủy, nơi
phong quang nhất làng ”
theo như sự miêu tả nhà văn Tô
Hoài trong Chuyện
cũ
Hà Nội, thì chùa
làng thường được cất nơi
thanh vắng, tịch mịch, không câu nệ
là ở góc làng, là ở ven làng
hay ở trung tâm. Đúng hơn, ngôi
chùa làng dù toạ lạc ở vị
trí nào nơi thôn cùng xóm vắng
thì nó vẫn hiện diện vừa thân
thiết gần gụi, vừa huyền ảo lay
động cõi tâm linh, một góc khuất
trong đời sống tinh thần của người
làng quê. Xin hãy trở lại với
vang bóng của một thời để khơi
gợi một nét văn hoá làng quê
được thăng hoa trong thơ Nguyễn Bính
: “ Trên đường
cát mịn một đôi cô. Yếm đỏ
khăn thâm trẩy hội chùa. Gậy trúc
dắt bà già tóc bạc. Tay lần
tràng hạt miệng nam mô ” ?
Phải
chăng đây chỉ là hoài niệm
về một vùng thương nhớ, quyến
rũ mà dường như đã một
đi không trở lại, khi mà tiến
trình công nghiệp hoá và hiện
đại hoá được
đẩy tới, mà ai đó trong cái
nhìn thiển cận ăn xổi ở thì,
cứ ngỡ như chỉ muốn đưa chuyện
thi “ người mẫu ”
thi “ hoa hậu ”
lượn lờ khoe các vòng eo thay cho “
yếm
đỏ khăn thâm trẩy hội chùa ” !
Người ta quên mất rằng, do đời
sống kinh tế được cải thiện,
nhiều gia đình nông thôn đã
sắm được chiếc tivi, nhà chưa
sắm được thì đêm đêm
có thể xem nhờ hàng xóm. Kinh tế
có cải thiện, nhưng lối sống chưa
mấy đổi thay, thị hiếu thẩm mỹ
đi liền với phong tục tập quán
của gần hai phần ba dân số sống ở
nông thôn sẽ ngỡ ngàng như thế
nào khi được thường xuyên
“ tiếp sóng ” những lượn lờ
vòng eo và áo tắm 3 mảnh rất
chi là mùi mẩn, sẽ “ phát huy
tác dụng ” như thế nào ? Người
ta quên mất rằng văn hoá không
phải là mì ăn liền, văn hoá
được hình thành theo quy luật
thẩm thấu, việc ăn tươi nuốt
sống những sản phẩm văn hoá không
tương thích với môi trường
sống và phong tục tập quán chưa
đổi thay sẽ gây độc hại nhiều
hơn là thêm dưỡng chất. Đấy
là chưa nói đến việc vì
chưa cẩn trọng và thiếu hiểu
biết, người ta đã vô tình
chuyển tải những cặn bã văn hoá
mà xã hội văn minh đã loại
thải vì chán ngấy. Và rồi như
nhà thơ Nguyễn Quang Thiều phải thảng
thốt kêu lên : “ Những
nền tảng của văn hoá truyền thống
ở các làng quê đã biến
dạng và bị phá vỡ. Cái quan hệ
hàng xóm láng giềng có được
trong truyền thống tốt đẹp lâu đời
của văn hoá làng Việt Nam mỗi
ngày một mất đi những vẻ đẹp
và tính nhân văn của nó. Làng
quê Việt Nam bây giờ “ ông chẳng
ra ông thằng chẳng ra thằng ”.
Phố cũng không phải phố
mà làng
cũng không phải là làng. ” (Vietnamnet
20.8.2008) Vì thế trên
một tờ báo điện tử này đã
cất lên tiếng gọi hồn : “ Làng
tôi bây giờ ở đâu ? Biết bao
nhiêu người đã đứng lặng
và cất lên câu hỏi đó....
Hồn vía của làng đang bỏ cái
làng địa lý ra đi giống một
linh hồn đã rời bỏ thể xác... đây không phải là một dự
báo mà là một hiện thực. Khi
chúng ta đánh mất hồn vía của
làng là chúng ta mất làng. Và
nói rộng hơn là chúng ta đánh
mất văn hoá. Khi văn hoá không
còn thì chúng còn gì nữa
đâu. Hỡi hồn vía làng quê
ở đâu hãy về ! ”
Thật
ra, ngẫm nghĩ kỹ, cái hồn vía
làng quê ấy từng được gìn
giữ bằng xương máu của bao thế
hệ để giữ làng, giữ nước.
Trong trường kỳ dựng nước và
giữ nước, người Việt hiểu rõ
làng và nước
gắn làm một, và nét độc
đáo của truyền thống Việt Nam là
làng còn thì nước
còn. Thì chẳng thế
sao, nhiều lần ông cha ta dám bỏ ngỏ
kinh đô Thăng Long, thế kỷ 13 chống
đế quốc Nguyên Mông, thế kỷ
15 chống quân xâm lược nhà Minh,
thế kỷ 18 chống quân xâm lược
nhà Thanh, thế kỷ 20, Hà Nội bị
thực dân Pháp quay trở lại chiếm
đóng. Và quân dân đời Trần,
đời Lê, đời Quang Trung và thời
đại Hồ Chí Minh dựa vào làng
để tích tụ sức người, sức
của rồi chiếm lại thủ đô,
lấy lại nước.
Trong
truyền thống kháng chiến qua các thời
đại, ngôi chùa làng
bao giờ cũng là nơi nuôi dưỡng
chở che người yêu nước. Ngay trong
cái bảng lảng của một cảm thức
mơ hồ về lòng yêu nước mà
Tự Lực Văn Đoàn của một thời
gợi nhớ, thì ngôi
chùa trong Tiêu
Sơn tráng sĩ của
Khái Hưng không phải là không để
lại trong ký ức của ai đó một
thoáng đăm chiêu về đất nước
dưới ách nô lệ ! Một bóng
dáng khác, dữ dội hơn nhưng cũng
đằm thắm, sâu nặng hơn về
ngôi chùa làng, xin được gợi
lên trong tác phẩm của Xuân Cang : Nụ
hoa cau. Xuất bản cách
đây hơn mười năm, nhà văn
có kể lại một chuyện cảm động
về ngôi chùa làng ở Kẻ
Sủi : một cô du kích
gan dạ, từng gánh rơm đốt nhà
vãi của ngôi chùa làng ấy để
làm hiệu lệnh cho tiêu thổ kháng
chiến, khi hoà bình được lập
lại, làng của cô đi vào hợp
tác, cô đã quyết không chịu
biến chùa thành trại chăn nuôi
của hợp tác xã. Rồi, cô “ chết
thảm thương lắm. Nó chất đầy
hoa huệ, đóng kín cửa phòng
lại. Người ta bảo nó tự tử
vì tình... Ngồi trước
nấm mồ chưa xanh cỏ, chị tôi nói
: “ Cái
người nằm dưới này ấy mà,
không phải chết vì tình đâu.
Mà vì người ta bảo cô lập
một trại chăn nuôi ở ngay trong vườn
chùa. Cô đã chối. Cô tâm
sự với chị rằng chùa là nơi
thiêng liêng, bát ngát hương hoa,
nơi ấy lại có đền có giếng,
ngày xưa sớm chiều có tiếng
chuông ngân làm dịu lòng người.
Ngày trước kháng chiến,
đốt
chùa làm hiệu lệnh, nó đi một
nhẽ. Nay khác. Cô không nỡ biến
chùa thành nơi ô uế. Cô sợ
rằng làm thế làng ta sẽ không
ngóc đầu lên được. Cô
thà chết. Người ta đã kết
cho cô đủ tội. Và cứ lập
trại chăn nuôi. Khổ thế đấy
em ạ. Chị đã ẵm cô ấy ra
khỏi phòng, người cứ bợt bạt
đi. Và đẫm một mùi hương
huệ ” ” (tr.22)
Đó là một câu chuyện thật
dữ dội về ngôi chùa làng. Và
vì chùa làng và đình làng
như bộ sóng đôi trong tâm thức
người Việt, xin dẫn tiếp một
chuyện kể về cái đình làng.
Với
sự nhạy cảm của một nhà thơ,
cách đây khá lâu Nguyễn Duy đã
từng xao xuyến nâng máy ảnh chụp
ngôi đình nổi tiếng ở quê
anh, đình làng Gia Miêu ở Tống
Sơn Thanh Hoá tiêu điều, tàn tạ.
Vừa rồi, trên báo lại có đề
cập đến chuyện ngôi đình này
: “ Vua Gia Long cho xây đình
Gia Miêu thờ tiên hiền Nguyễn Công
Duẩn -- một bậc công thần của Lê
Lợi thưở khởi nghĩa Lam Sơn, khởi
đầu cho công tích họ Nguyễn từ
mảnh làng Gia Miêu trở thành một
vương triều lớn trong lịch sử Việt
Nam ”. Và
rồi “ đình
Gia Miêu đẹp và thiêng liêng bậc
nhất đất Tống sơn - Quý huyện,
vậy mà chỉ mới năm 1997 đây
thôi nhà thơ Nguyễn Duy về thấy
một góc đình thiêng đã
sụt, trên cột đình ai đó
viết dòng chữ thu mua bèo và ốc
để nuôi cá. Ông và nhà
văn Nguyễn Khải thắp nhang mà chả
biết cắm vào đâu, bèn sắp
mấy viên ngói vỡ lên cao một tí
làm bàn thiên cắm mấy nén
nhang tưởng niệm. Năm 1999 đình Gia
Miêu được trùng tu
” (Tuổi Trẻ
20.10.2008).
Trùng
tu, đúng, phải trùng tu ngôi đình.
Nhưng trước hết có lẽ phải
“ trùng tu ” cái đầu còn
hời hợt trong suy nghĩ về di sản của
ông cha để lại. Trên non sông gấm
vóc này từng có bao nhiêu di sản
như vậy bị tàn phá và nay vẫn
đang còn bị tàn phá một cách
tàn nhẫn và quyết liệt do nhiều
nguyên nhân. Ấy thế mà cũng về
ngôi đình này, xin được gợi
lên đây một sự kiện thật có
ý nghĩa do nhà thơ Nguyễn Duy kể
lại.
Nhân
tham gia Hội thảo Khoa
học về Chúa
Nguyễn và Vương triều Nguyễn tại
Thanh Hoá, tác giả của bức ảnh
chụp đình Gia Miêu tàn tạ, đổ
nát năm 1997 đã đến thăm lại
đình Gia Miêu vừa được trùng
tu, anh được biết thêm rằng : theo
ký ức của một số cụ già
địa phương thì tháng 2 năm
1947, nghĩa là chưa đầy 3 tháng
sau ngày Toàn quốc Kháng chiến
19.12.1946, thay vì từ Chùa Thày ở
Sơn Tây đi ngay lên Việt Bắc, thủ
đô kháng chiến, Bác Hồ quyết
định về thăm Thanh Hoá. Trước
khi đến nói chuyện với “
các
đại biểu thân sĩ, trí thức,
phú hào tỉnh Thanh Hoá ”
(Hồ Chí Minh
Toàn
tập, Tập 5, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995,
tr. 57),
Bác Hồ đã đến thắp hương
ở đình Gia Miêu và lăng miếu
Triệu Tường. Một sự kiện mà
càng suy ngẫm càng thấm thía tầm
cao tư duy của lãnh tụ, một cốt
cách văn hoá vượt hẳn lên
cái nhìn trực quan hạn hẹp để
thấu vào cốt lõi của lý tưởng
giải phóng dân tộc và mục tiêu
cao cả của sự nghiệp cách mạng.
Không
một tấm lòng Việt Nam yêu nước
thương nòi nào không xúc động
về hình ảnh Bác Hồ tại Đền
Hùng năm 1954 với câu nói bất hủ
: “ Các vua Hùng đã
có công dựng nước, Bác cháu
ta phải cố gắng giữ lấy nước ”.
Rồi vào thời điểm cuộc chiến
tranh phá hoại của Mỹ ở Miền Bắc
vừa bắt đầu Bác đã về
thăm đền thờ Nguyễn Trãi ở
Côn Sơn ngày 15. 2.1965. Hình ảnh
từng có sức lay động mãnh liệt
về sự gắn kết giữa truyền thống
với hiện đại, về sự hiện
diện của ông cha trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước hôm nay, đó
là hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí
Minh đọc tấm bia Côn
Sơn Tư Phúc tự bi
vào dịp ấy. Có hiểu về điều
này mới hiểu ý nghĩa sâu sắc
của việc Bác Hồ ký sắc lệnh
về bảo vệ di sản đúng hai tháng
sau ngày Nam Bộ kháng chiến 23.9.1945. Sắc
lệnh đó ghi rõ : “ Cấm
phá huỷ những đình, chùa, đền,
miếu hoặc những nơi thờ tự khác,
cung điện, thành quách cùng lăng
mộ chưa được bảo tồn. Cấm
phá huỷ những bi ký, đồ vật,
chiếu sắc, văn bằng, giấy má,
sách vở có tính cách tôn giáo
hay không, nhưng có ích cho lịch sử
mà chưa được bảo tồn
”.
Và sẽ càng hiểu sâu đậm
hơn khi đặt cạnh Sắc lệnh số
65 ngày 23.11.1945 nói trên cái “ Sắc
chỉ ” của Minh Thành tổ gửi viên
tướng viễn chinh Chu Năng cách đó
539 năm, ngày 21.8.1406 : “ Một
khi binh lính vào nước Nam, trừ sách
vở và bản in của Đạo Phật,
đạo Lão thì không thiêu huỷ,
ngoài ra, hết thảy mọi sách vở
văn tự, cho đến những loại ca lý
dân gian hay sách dạy trẻ nhỏ, loại
sách có có câu “
thượng
đại nhân, khưu ất kỷ ”… một
mảnh, một chữ đều phải đốt
hết. Khắp trong nước, phàm những
bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến
nay thì đều gìn giữ cẩn thận,
còn các bia do An Nam dựng thì phá
huỷ tất cả, một chữ chớ để
còn…”. Nghĩa
là
tiêu diệt nền văn hoá bản địa
hiện hình trên những bia ký, sách
vở vốn là di sản vô giá của
một dân tộc, một quốc gia. Tiêu
diệt cái đó cũng chính là
hủy diệt đời sống tinh thần của
một dân tộc, cái làm nên sức
mạnh của dân tộc đó. Quân
xâm lược quyết “ một
chữ chớ để còn ”,
cho nên nhà sử học Ngô Sĩ Liên
đau xót mà viết
“ Lửa đốt sạch, than ôi
vận
nước, sách vở đi đời. Muốn
tìm sự tích sau cơn khói lạnh
tro tàn, thật rất khổ tâm về nỗi
nét sai, chữ sót…”.
Hoàng Đức Lương, văn thần
triều Lê Thánh Tông, tác giả
của Trích
Diễm
Thi tập ngậm ngùi
mà rằng : “ bôn ba
sưu tập, hỏi han khắp nơi…những
gì thu thập được cũng chỉ là
một, hai trong trăm, ngàn phần…”.
Thế đấy, chỉ còn được
“ một, hai trong trăm ngàn
”
những báu vật quốc gia, những di sản
vật thể và phi vật thể ấy, vì
thế mà phàm là người Việt
Nam còn chút lương tri, lương năng
thì phải cố công chăm chút bảo
vệ. Phạm vào di sản quốc gia là
phạm vào trọng tội, sẽ bị hậu
thế chê cười, cháu con phê phán
vì đã không biết trân trọng
máu xương của bao thế hệ Việt
Nam đổ ra để tạo dựng và gìn
giữ. Về chuyện này, lịch sử rất
sòng phẳng.
Thế
là từ chuyện ngôi
chùa làng mà bàn rộng ra những
di sản, báu vật quốc gia.
Mà
báu vật quốc gia sát sườn với
con người đang sống, đang thực hành
công nghiệp hoá, đô thị hoá,
hiện đại hoá là chùa
làng, là đình
làng những biểu tượng
văn hoá gần gũi, gắn bó với
người nông dân, kể cả những
người thành thị là gốc gác
nông dân. Nhưng thật ra, có người
dân thành phố nào không có một
gốc gác nông thôn ? Và vì văn
hoá được hình thành theo quy
luật thẩm thấu, nên cho dù trải
qua những tàn phá thô bạo, những
thương tổn nặng nề, trong sâu thẳm
tâm linh của người nông dân, những
nội dung văn hoá vô hình không
dễ gì mất đi được. Chúng
vẫn được ủ kín trong mỗi con
người, nhất là các cụ già.
Và đấy là lý do giải thích
sự khởi sắc của một số lễ
nghi, tập tục qua các hội làng, các
sinh hoạt tín ngưỡng ở làng quê.
Tuy không mất đi được, song sự
tổn thương thì rất khó hàn
gắn. Những tổn thương đó hiện
đang được trị liệu, nhưng song
hành với những trị liệu đó,
“ văn hoá làng ”
đang đứng trước một thách đố
còn quyết liệt hơn nhiều của làn
sóng công nghiệp hoá và đô
thị hoá. Liệu có thể khoanh tay ngắm
nhìn sự một đi không trở lại
của những hình bóng quê hương,
những ngôi chùa làng, những ngôi
đình làng thân thiết sâu thẳm
trong tâm thức người Việt chỉ còn
là những “ vang bóng
một thời ” ?
Không !
“ Văn hóa làng ”
chính là cái nôi nuôi dưỡng
tâm hồn Việt Nam, góp phần
hun đúc nên bản sắc
văn hoá dân tộc
được vun đắp trong suốt
chiều dài lịch sử mấy
ngàn năm, không có cái gốc
đó, không thể có bề
dày văn hoá hôm nay. Đương
nhiên, cũng trong văn hoá
làng đã trầm tích
những nét tiêu cực của con người
Việt Nam nông dân, lối suy nghĩ vụn
vặt, tản mạn tự trói mình trong
luỹ tre làng của lối sống tự cấp
tự túc không sao chuyển nổi sang kinh
tế hàng hoá để phát triển
bứt lên. Nhưng văn
hoá làng không chỉ
có thế. Cùng với những tiêu cực
phải xoá bỏ, phải biết ra sức
trân trọng gìn giữ và phát huy
những cốt lõi tinh hoa của văn
hoá làng, cái gốc
của văn hoá dân tộc.
Càng
đi vào hiện đại, càng tiến
sâu vào quá trình hội nhập
quốc tế, càng phải biết
gìn giữ, vun đắp cho cái gốc
ấy. Đã mất gốc thì
làm sao phát triển, cho dù kinh tế
có tăng trưởng bao nhiêu mà
văn hoá lại lai căng, mất gốc
thì sự tăng trưởng đó
chẳng có được bao nhiêu ý nghĩa. Đấy là chưa nói
đến chuyện, vào những
thập kỷ cuối thế kỷ
XX bướ́c sang thế kỷ XXI, thế
giới ngày càng nhận thức
rõ chính văn hoá
mới là động lực và sức mạnh của phát triển.
Trong quá trì̀nh toàn cầu hoá về
kinh tế, mỗi quốc gia lại
phải lo gìn giữ và phát triển
bản sắc văn hoá của mình, đó
chính là điểm tựa cho sự
phát triển trong một thế
giới đa cực và đa dạng.
Thế nhưng, hãy nhìn vào ngôi
chùa làng, ngôi đình làng, trừ
một số ít được giữ gìn
hoặc đang được trùng tu, còn
lại thì đang tàn tạ, tiêu điều !
Vì thế, nhận thức được điểm
tựa của phát triển ấy, mới thấy
cần phải trả lại cho chùa làng,
đình làng cái chức năng văn
hoá trong đời sống tinh thần của
người Việt. Liệu có thể đánh
thức cảm quan thẩm mỹ “ Qua
đình ngả nón trông đình.
Đình bao nhiêu ngói thương mình
bấy nhiêu ” và biết
xao động với hình ảnh “ Sư
già quét lá sau chùa, Để thiêu
xác lá trước giờ lên chuông
” trong xã hội hiện đại ? Ảo
tưởng chăng ? Hoài cổ ư ?
Có
thể. Nhưng đừng quên rằng, một
trong 18 bộ phim hay nhất qua mọi thời đại
của điện ảnh Châu Á
do CNN bình chọn năm 2008 chính là
phim Bao
giờ cho đến
tháng mười của
đạo diễn Đặng Nhật Minh, bộ
phim duy nhất của điện ảnh Việt
Nam được đưa vào trong danh sách
bình chọn đó. Chiều sâu thẳm
của bộ phim đó đề cập đến
một chủ đề hiện đại trên
một cái nền của cảm quan thẩm mỹ
dân tộc, ở đây có thể hiểu
được một cách cụ thể và
đầy thuyết phục thế nào là
truyền thống hoá hiện
đại và hiện đại hoá truyền
thống. Và cũng chính
ở đây ngôn ngữ điện ảnh
đã làm sống lại cái
hồn dân tộc trong vở chèo Trương
Viên dưới mái đình làng và
sự thăng hoa của cảm
xúc thẩm mỹ trong màn
sương hư ảo của miếu thờ thành
hoàng, ngôi
chùa làng làm sống
động nét tâm linh của nhân vật
Duyên, một tính cách nhuần nhị
và kiên cường của người phụ
nữ làng quê, vượt qua những đau
khổ của chiến tranh tưởng chừng
không sao vượt nổi. Cái làm cho
bộ phim Bao
giờ cho đến
tháng mười trở
thành bộ phim hay nhất qua mọi thời
đại của điện ảnh Châu Á
phải chăng có sự góp sức đáng
kể của sự thăng hoa
ấy trong lý tưởng thẩm mỹ của
nhà nghệ sĩ điện ảnh Đặng
Nhật Minh ? Quả là, trúc
xinh trúc mọc đầu đình, em xinh,
em đứng một mình cũng xinh.
Cùng
với cái đình làng, phải thấy
cho ra ngôi chùa làng,
những biểu tượng của văn hoá
làng, cội nguồn của văn hoá dân
tộc ! Thấy cho ra, để như như đòi
hỏi của Nguyễn Văn Siêu, danh sĩ
nổi tiếng cuối triều Nguyễn : “ cần
phải thăm dò cái gốc của nó
lại phải tưới tắm cho cái ngọn
của nó, mở rộng cái nguồn của
nó, lại phải buông lơi cái dòng
của nó ” của mạch
sống dân tộc. Nói theo ngôn từ
hiện đại thì đó chính là
biết hiện đại hoá
những tinh hoa của bản lĩnh văn hoá
truyền thống, nâng chúng lên một
tầm mới trong sự nghiệp phát triển
và hội nhập của đất nước
hôm nay. Nói chuyện ngôi
chùa làng là để
nói về văn hoá. Vâng, văn
hoá.
Chúng ta đến với thế giới bằng
gì nếu không là bằng bản lĩnh
của văn hoá Việt Nam ?
TƯƠNG LAI- Theo nguồn Diễnđàn
NGUỒN : Bài do tác giả cung cấp
(đã
đăng trên Văn
hoá
Phật giáo, Xuân Kỷ Sửu
2009)
Chùa Cổ Lễ Nam Định
|