|
Ngàn năm nguyên khí
11-01-2009 21:19:56 GMT +7
BA ĐÀ RẰNG
Hào kiệt, hiền tài được gọi chung là kẻ sĩ, tức người có học, toàn vẹn đức, tài. Kẻ sĩ không nhất thiết phải ra làm quan nhưng đã tham gia quan trường giúp vua giúp nước thì phải là người có học, được đào tạo tử tế và đỗ đạt bậc cử nhân mới được triều đình bổ nhiệm.
Nhìn lại ngàn năm nguyên khí để thấm sâu hơn phương sách đào tạo hiền tài của ông cha.
Năm 1021, vua Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) cho làm nhà Bát giác chứa kinh, năm 1023 cho chép ba tạng kinh để ở kho Đại Hưng, năm 1042 ban Hình thư (luật pháp) và cho đúc tiền.
Năm 1070 vua Lý Thánh Tông xây dựng Văn Miếu tỏ lòng tôn kính đạo Khổng, thờ các ông tổ Nho giáo Khổng Tử, Chu Công, Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử và 72 vị tiền hiền đạo Nho (những học trò giỏi nhất của Khổng Tử). Năm 1075, nhà Lý mở khoa Nho học đầu tiên gọi là “Tuyển Minh kinh bác học và Nho học tam trường”.
Năm 1076, vua Lý Nhân Tông xây dựng Quốc Tử Giám (đại học đầu tiên của Việt Nam), năm 1077 tổ chức thi tuyển viên lại (như thi tuyển công chức ngày nay) bằng thi viết, phép tính và hình luật để chọn người phục vụ cho triều đình.
Trải qua gần ngàn năm tạo dựng hiền tài, từ khoa thi đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919), ông cha ta tổ chức 183 khoa thi tiến sĩ, đào tạo được 2.898 người có học vị tiến sĩ; trong đó có 47 vị Trạng nguyên, 48 vị Bảng nhãn, 75 vị Thám hoa.
Riêng triều Nguyễn, từ khoa thi đầu tiên (1807) đến khoa thi cuối cùng (1918), tổ chức được 39 khoa thi tiến sĩ đào tạo được 558 người có học vị tiến sĩ. Đồng thời tổ chức được 47 khoa thi Hương với 6.165 người thi đỗ cử nhân, tú tài.
Hiện nay, tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội có 82 bia tiến sĩ. Bia Văn Miếu ở Huế (xây dựng năm 1822) có 32 bia ghi tên các tiến sĩ (bà con cố đô quen gọi là Văn Thánh).
Gần ngàn năm đào tạo hiền tài, ông cha ta cũng chỉ đào tạo được chừng ấy tiến sĩ. Và cũng chỉ những người đỗ cử nhân trở lên mới được bổ nhiệm làm quan. Điều đặc biệt là con vua, cháu chúa, cậu ấm cô chiêu con quan lại các cấp không có mấy người đỗ đạt cao. Tài hoa như Trần Tế Xương mà cũng chỉ đỗ tú tài, tám khoa không đỗ nổi cử nhân, đành ngao ngán tự kiểm:
Rõ thật văn hay mà chữ dốt.
Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy
Ông cha ta tuyển chọn kẻ sĩ tham gia bộ máy chính quyền rất chặt chẽ. Triều đại nào cũng lập đô sát viện với các ngự sử để giám sát bộ máy quan lại. Triều đại cuối cùng là triều Nguyễn, vua Minh Mạng đã đặt nhiều điều lệ để chế tài quan lại: không được thụ nhiệm ở quê nhà mà phải làm quan cách quê 500 dặm trở lên, để cho bạn bè thân thích không cậy thế làm điều ngang ngược; quan lại không được mua đất đai, nhà cửa nơi làm quan vì sợ ức hiếp dân để mua rẻ; quan lại không được lấy vợ nơi trấn nhậm vì sợ gia đình nhà vợ cậy thế nhũng nhiễu; quan lại hồi hưu không được lui tới nha môn để cầu cạnh. Năm 1837, vua Minh Mạng còn có dụ cho các quan không được nhận nhiệm sở tại quê ở ngụ, quê mẹ, quê vợ và địa phương lúc bé đi học. Đại Nam Thực lục chính biên (đệ nhị kỷ, quyển 180) có ghi một trường hợp cụ thể: Bố chính Định Tường là Trần Tuyên có tang xin nghỉ việc. Đình thần cử Lang trung bộ Hộ Nguyễn Song Thanh vào thay. Nhà vua đã chuẩn tấu, rồi nghĩ lại Nguyễn Song Thanh từ lúc bé học ở Nam kỳ, quen biết nhiều, nên đổi đến Bình Định. Đặng Huy Trứ còn dâng vua Tự Đức “Từ Thụ yếu quy” (những quy định chủ yếu về chối và nhận quà) để các quan biết món quà nào là tình cảm, món quà nào là trên mức tình cảm để biết chối hoặc có thể nhận theo đúng quy định triều đình.
Ngàn năm nguyên khí rất dài, ông cha ta cũng chỉ đào tạo hiền tài ở con số ngàn.
Ngày nay, trước yêu cầu phát triển đất nước, cả tầm quốc gia và từng địa phương đều có chương trình chiêu hiền đãi sĩ, đào tạo nhân tài và có cả một chương trình đầy tham vọng “đào tạo hai vạn tiến sĩ”. Quý hồ tinh bất quý hồ đa; cách tuyển, cách thi, cách đào tạo, cách sử dụng nếu không có quy định nghiêm ngặt thì hãy soi vào gương ngàn năm nguyên khí.
Nguồn báo Pháp luật
|