|
- Các tuyến đường tàu điện đều toả ra từ bờ hồ Hoàn Kiếm tới các cửa ô, kéo dài tới tận thị xã Hà Đông rất thuận lợi. Nó chạy khoan thai, từ tốn, khoảng chục km/giờ, khách ngồi tàu tha hồ ngắm cảnh phố phường.
Nói đến 36 phố phường Hà Nội, không thể chỉ kể ra những chiếc xe kéo tay, xích lô, rồi xe đạp và xe hơi mà quên đi "tiếng leng keng tàu sớm khuya" của chiếc tàu điện. Thời ấy, tàu điện là hiện đại, lạ lẫm trong con mắt mỗi người dân Hà thành. Nhìn chiếc tàu điện lừ lừ tiến, không kéo còi và tiếng xình xịch như xe lửa, nhiều người lắc đầu khó hiểu làm sao nó lại chạy được? Nó còn kéo theo mấy toa dài dằng dặc phía sau và chở được rất nhiều người, nhiều hàng nữa.
 |
| Nguồn: ttvnol.com |
Tàu điện có đường ray riêng nên tất cả các phương tiện tham gia giao thông phải nhường nhịn. Trật tự và cần mẫn, những chiếc xe chạy bằng điện từ từ chuyển động trên đường ray, không huyên náo, không ầm ĩ, khiến người dân mới đầu rất háo hức, cố trèo lên đó đi cho biết, nhất là bọn trẻ và học trò.
Cụ Lê Khánh người phố Hàng Đào năm nay 95 tuổi kể: Khi xuất hiện chiếc tàu điện, người dân hàng phố đổ xô ra xem, nhiều người chưa dám bước lên tàu vì sợ. Thế rồi một thời gian sau cũng quen dần và khi đã quen thì mê đi tàu điện luôn. Bởi đi tàu điện vừa rẻ, vừa thuận tiện và an toàn.
Trên tàu, những bà gánh hàng cồng kềnh có thể lên toa cuối cùng mà không bị đuổi. Trẻ em theo mẹ ra bờ hồ ăn kem, được leo lên tàu điện là thích thú lắm. Ông Khánh bảo, thời ấy, bọn chúng tôi học ở Trường Bưởi, sáng leo tàu điện đến trường, tối lại leo tàu điện về nhà vì được bác tài không thu vé. Tôi nhớ, người Hà Nội thời đó có bài vè bất hủ về cái tàu điện:
"Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài
Sinh ra đèn điện thắp hoài năm canh
Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành
Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường
La ga thì ở Thụy Chương
Dây đồng, cột sắt thì đường cái quan
Bồi bếp cho chí bồi bàn
Chạy tiền ký cược đi làm sơ vơ (người bán và soát vé)
Xưa nay có thế bao giờ
Có chiếc tàu điện đứng chờ ngã ba
Đàn ông cho chí đàn bà
Hễ tàu vừa đến lấy đà nhảy lên
Ba xu ghế gỗ rẻ tiền
Toa sau thì để xếp riêng gánh gồng
Năm xu ngồi ghế đệm bông
Hỏi mình có sướng hay không hỡi mình".
Theo các cụ cao niên ở Hà Nội, bài vè này ra đời cách đây vào khoảng một trăm năm, vậy mà những ai là người gốc Hà Nội, tuổi ngoài bát tuần hầu như còn nhớ như in.
Đọc trong các tư liệu ghi chép về chiếc tàu điện (xe điện) ở Hà Nội, được biết: Tàu điện là một loại phương tiện chuyên chở công cộng, chạy bằng điện trên đường ray riêng. Tháng 5 năm 1900, người Pháp chính thức xây dựng nhà máy xe điện Hà Nội và tiến hành đặt đường ray. Ngày 10 tháng 11 năm 1901, tuyến xe điện đầu tiên ở Hà Nội dài khoảng 18km được khai thác. Ngày 18 tháng 12 năm 1906, khai thác thêm 5,5km tuyến Bạch Mai.
Cả hệ thống tàu điện hồi ấy duy nhất chỉ có một ngã ba ở cạnh hồ Hoàn Kiếm, chếch cầu Thê Húc, đối diện với vòi phun nước, chỗ đầu phố Cầu Gỗ - Hàng Gai - Đinh Lễ. Ngã ba ấy có một đường ray đi Bưởi, một đường xuống Bạch Mai đến chợ Mơ và một đường vào Hà Đông.
Người ở tỉnh xa về Hà Nội sợ lạc thường cứ dặn nhau, "nếu lạc, cứ lên tàu điện nó sẽ kéo ra bờ hồ". Ngày ấy, người dân thấy đi tàu điện là một thú vui, là phương tiện thuận lợi, an toàn cho lộ trình đi làm việc ở các công sở, các bà gồng gánh, buôn bán, hoặc đi chơi, thăm thú cảnh quan Thủ đô lên tàu điện là chắc nhất.
Các tuyến đường tàu điện đều toả ra từ hồ Hoàn Kiếm tới các cửa ô, kéo dài tới tận thị xã Hà Đông rất thuận lợi. Nó chạy khoan thai, từ tốn, khoảng chục km/giờ, khách ngồi tàu tha hồ ngắm cảnh phố phường.
Mỗi khúc quanh, nó đủng đỉnh chậm lại, người phụ tàu cầm một thanh sắt nhanh chóng chạy xuống bẻ đường ray cho tàu đi theo lộ trình. Lúc này tàu reo lên một hồi leng keng thật vui tai. Để ý kỹ nó cũng có tâm hồn, có ngôn ngữ đấy.
Này nhé, sáng tinh mơ khi các bà, các cô tấp nập quang gánh trên vai từ các cửa ô chở hàng vào thành phố, tiếng tàu cứ nghe ầm ầm, náo nức. Những trưa hè nắng như đổ lửa, tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray nghe sao uể oải. Vào đêm, khi những ngọn đèn đường toả xuống quầng sáng vàng đục, tiếng chuông tàu nghe cũng mệt mỏi tưởng như bác tài cũng rã rời sau một ngày bẻ lái. Rồi những đêm mưa phùn, gió bấc, trong tiếng lá rơi xào xạc, những bước chân hối hả bước lên tàu...
Giữa cái rét se lạnh, mệt mỏi, hành khách bỗng ấm thêm bởi tiếng hát, tiếng nhị, tiếng phách của bố con ông hát xẩm cất lên: "Này anh khoá ơi!... ngày anh đi lên kinh thành ứng thí, em ở nhà nuôi mẹ một mình... tủi lắm! Này anh khoá ơi!...". Mấy người hảo tâm dúi vào chiếc nón rách bươm trên tay cô bé vài chinh.
Bước xuống bến, tiếng mấy người ăn xin mặc chiếc áo tơi lụp xụp nghe thật não nề: "Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại. Con cá nó sống vì nước ông bà ơi!". Quang cảnh phố phường ngày ấy, vừa thanh, vừa vui, vừa buồn, vừa mang hồn phố được cách tân, cố ngoi lên hiện đại bằng chiếc tàu điện leng keng.
Chiếc tàu điện tồn tại mãi đến những năm đánh Mỹ. Nhớ nó lắm, nó tiễn những đoàn quân đi ra trận, lên chốn biên cương, vào Nam chiến đấu. Cần mẫn, chăm chỉ, đưa những chàng lính trẻ đứng trên tàu, cố chìa tay ra khỏi ô cửa tàu điện mốc thếch, bụi bặm, chạm vào bàn tay cô bạn gái làng hoa lần cuối, để rồi người đi mất hút vào cuối phố, người ở nhìn theo tay vẫy vẫy hoài, tiếng leng keng xa dần, nhỏ dần rồi tắt lịm.
Hơn hai phần ba thế kỷ bền bỉ, tàu ra, tàu vào, không một ngày ngừng nghỉ. Một thời người ta đã cải tiến nó chạy bằng bánh lốp, tháo dỡ hết đường ray cho đường phố phong quang, rộng rãi. Nhưng rồi nó không thể đáp ứng được sự đi lại do phát triển dân cư ồ ạt, nên tàu điện, xe điện bị xoá sổ, lùi vào dĩ vãng, nhường cho xe buýt.
Bây giờ, hình ảnh, âm thanh chiếc tàu điện lầm lũi, cần mẫn, chiếc ngược, chiếc xuôi, không giao cắt, không xung đột chỉ còn in sâu đậm trong lòng nhiều thế hệ người Hà Nội đã ở tuổi thất thập trở lên.
Mai đây, chắc chắn Hà Nội sẽ có hệ thống tàu điện hiện đại. Đi ngầm, đi trên cao, với vô số điểm giao cắt không đồng mức nên sẽ không chỉ có một ngã ba như tàu điện ngày xưa. Khi phương tiện giao thông này bị "giải thể" thì những ký ức về nó đã ghi dấu ấn trong văn chương, nghệ thuật. Thi sĩ thành Nam Bùi Ngọc Diệu trong bài "nhớ" nổi tiếng của ông cũng có niềm hoài cảm tàu điện Hà Nội:
"... Những dãy nhà cao chấp chới ánh đèn
Tiếng tàu điện leng keng gọi khách...".
Trong bài "Nhớ về Hà Nội", nhạc sĩ Hoàng Hiệp cũng nhắc đến hình ảnh tàu điện một thuở: "Nhớ những con đê dài lối xe, bước chân năm tháng đi về. Và nhớ tiếng leng keng tàu sớm khuya hướng ra Đống Đa, Cầu Giấy... ". Và như thế, chẳng có chiếc tàu điện nào đứng "leng keng" chờ khách ở ngã ba nữa và giọng "xẩm tàu điện", một di sản văn hoá độc nhất vô nhị nơi kinh thành cũng từ giã cuộc chơi.
Rồi đây, khách đi tàu phải đến ga, được ngồi trên những ghế êm bóng và đẹp. Trên tàu sẽ có máy điều hoà, tiếng chạy êm ru... liệu có ai nhớ đến "tiếng leng keng tàu sớm trưa" như bài hát viết về Hà Nội nữa?
Những người yêu Hà Nội thì thầm với nhau: Giá như nơi phố cổ lại có tàu điện leng keng, cần mẫn đưa khách đến chợ đêm, ngày một đông vui mà không phải tổ chức những bãi trông giữ xe, ngổn ngang giữa đường phố như bây giờ nhỉ? Đã là phố cổ, thiếu đi "tiếng leng keng tàu sớm khuya" thì còn gì là bảo tồn phố cổ của Thăng Long nữa...
|