| Nhân dịp khai giảng năm học mới
Đừng để con trẻ bị đánh mất niềm tin
Huyền Chi
Trong hành trang vào đời của con trẻ, ngoài những yếu tố về nhân cách nói chung, về trí tuệ, về thể chất,.. thì niềm tin là một yếu tố tinh thần rất cơ bản, là cái cốt lõi tạo nên động lực bên trong để sống và cống hiến suốt cả cuộc đời sau này của từng em. Trong quá trình học tập và rèn luyện khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường, cùng với tri thức, đạo đức, sức khỏe, kỹ năng sống,...thì niềm tin cũng đã được nhà trường - gia đình - xã hội tạo dựng từng bước cho các em, và bản thân từng em cũng đã rất có ý thức vun đắp, gìn giữ, củng cố niềm tin của mình.
Niềm tin mà chúng ta đang bàn ở đây và mong muốn con trẻ có được là niềm tin có căn cứ khoa học và đậm đà tính nhân văn, tin vào quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế- xã hội, tin ở bản thân mình, tin và đồng cảm với tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của gia đình và cộng đồng, là niềm tin trong sáng và mạnh mẽ, có tính hiện thực,...Xét trên cả hai mặt lý trí và tình cảm thì niềm tin là một chuẩn giá trị xã hội có phẩm cấp cao, luôn luôn được trân trọng, được chăm sóc và phát huy. Chúng ta không muốn con em chúng ta phải chấp nhận những thứ “niềm tin” mù quáng, thậm chí là cuồng tín, thứ “niềm tin” viển vông phi thực tế, phiêu lưu duy ý chí, thứ “niềm tin” chỉ hướng vào ngoại lực, nhờ vào lực lượng siêu nhiên, chỉ biết tin vào định mệnh, vào số phận, trông chờ vào may rủi, mà không thấy rõ vai trò của nội lực, của nỗ lực cá nhân,..Và theo quan điểm giáo dục tiến bộ thì đây không thể coi là niềm tin.
Nếu con trẻ không có được niềm tin tích cực ở dạng thứ nhất thì ắt phải hứng chịu, phải ấp ủ thứ “niềm tin” tiêu cực ở dạng thứ hai, tức là coi như chưa có niềm tin ! Điều nguy hại đã và đang xảy ra trong đời sống giáo dục ở cả 3 môi trường (gia đình, xã hội và nhà trường) là hiện tượng con trẻ bị đánh mất niềm tin. Đó là tình huống có nhiều em đang phấn đấu tốt trong học tập và rèn luyện, bỗng bị hãng hụt vì một biến cố nào đó mà biến thành những đứa trẻ khác hẳn, cuộc sống trở nên vô hồn, mà thực chất là các em đã bị đánh mất niềm tin đẹp đẽ đã có được trước đây rồi, theo như cách nói của các em thì đó là : sự từ bỏ lý tưởng, sự chôn vùi hoài bão, sự tiêu tan con đường lập nghiệp, sự sụp đổ thần tượng,...Chưa có một nghiên cứu đầy đủ về những hậu quả tai hại nhiều mặt đối với những đứa trẻ bị đánh mất niềm tin. Nhưng cũng có thể khẳng định ngay rằng :”Mất niềm tin là mất tất cả !”, bởi niềm tin vốn luôn có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của mỗi con người. Chỉ với những quan sát, tìm hiểu trực tiếp thực tế, thì các bậc cha mẹ, thầy cô giáo, cán bộ Đoàn, Đội, Hội,...cũng có thể thấy rõ những sa sút thật khủng khiếp trong cuộc sống thường ngày của các em này. Hậu quả thường bộc lộ ra dưới hai dạng : Hoặc là, đối tượng không còn động lực để tiếp tục học tập và tu dưỡng, mọi hoạt động hình như trở nên vô thức, như là một đứa trẻ không còn đời sống tinh thần, lầm lì rất tội nghiệp,....và đương nhiên là kết quả học tập và rèn luyện bị tụt dốc rõ rệt. Hoặc là, đối tượng thay đổi hẳn tính cách, từ một đứa trẻ hiền lành, thân thiện, cởi mở có thể dần trở nên dữ dằn, hung tợn, phá phách, ăn nói bừa bãi, luôn thể hiện một thái độ hằn học kiểu như là hận đời, thù ghét mọi người, không thiết gì nữa, không sợ ai hết,...và cũng đương nhiên kéo theo đó là sự giảm sút kết quả học tập và rèn luyện, thậm chí đối tượng có thể trở thành học sinh diện cá biệt, thành đứa con hư hỏng, đứa trẻ phạm tội !..
Hội chứng “suy giảm niềm tin”, “đánh mất niềm tin” không còn chỉ mới là sự cảnh báo, là thông tin dự báo, mà đã là một thực tế đang hiện hữu và phát triển. Tuy các triệu chứng của căn bệnh này chưa gây ra những vụ việc ồn ào với quy mô lớn, làm chấn động mạnh đến đời sống giáo dục và tình hình kinh tế-xã hội, nhưng chúng thực sự đã và đang âm ỉ gậm nhấm dần, hạn chế và phá hoại chất lượng và hiệu quả của giáo dục ở cả 3 môi trường. Trên báo chí, nhất là trên mạng internet, không ngày nào là không có thông tin về những hiện tượng này, như là : chán học rủ nhau bỏ lớp đi chơi, bỏ nhà lang thang và trở thành “bụi đời”, sao nhãng việc học một cách cố ý liên tục, phá quậy trên lớp, liên kết băng nhóm trộm cướp gây án, tự tử vì chuyện nhà, chuyện học, chuyện tình,..., cứ đến kỳ thi là lo phao nhiều hơn là lo học để rối vẫn phao trắng sân trường, trước kỳ thi lại rủ nhau xem bói, xóc quẻ, cúng lễ các đền, chùa, miếu, nghè để cầu may và nhờ Thần, Phật phù hộ thay vì nỗ lực ôn tập nghiêm túc, rồi lại cả chuyện cùng nhau đến Văn Miếu trước lúc vào cuộc thi, như là để tỏ thái độ tôn vinh hiền tài quốc gia - một việc rất mới - nhưng thật tâm thì lại cũng để tìm một sự phù hộ,... rồi nhìn xa hơn và rộng hơn lại là chuyện hàng ngàn du học sinh cứ “ra đi không về”, chuyện những ông cử, ông nghè được nhân dân nuôi dưỡng thành tài mà lại chán về nước phục vụ, thậm chí chống đối lại chế độ, nói xấu truyền thống cha ông,...! Tất cả những hiện tượng trên đều là sai phạm, hư hỏng ở các mức độ khác nhau, dưới các dạng biểu hiện khác nhau, nhưng đều có chung một cội nguồn từ trong sự khủng hoảng tinh thần, có chung một căn bệnh là suy giảm hoặc đánh mất niềm tin !
.Đây thực sự là nỗi bất hạnh đối với bản thân các em và gia đình, và hơn thế còn là một thiệt thòi với cộng đồng, một nỗi lo cho xã hội. Thử hình dung xem nếu có nhiều thế hệ như thế thì đất nước sẽ ra sao ?
Trước thực trạng này thì trước hết là các bậc bố mẹ và các thầy cô giáo đã rất lo lắng, nhưng cũng rất lúng túng trong việc tìm giải pháp trợ giúp cho từng trường hợp cụ thể của con em mình, học trò mình. Theo dõi trên thực tế thì thấy dù với sự nỗ lực cao độ, thậm chí là quá sức, thì cùng lắm họ cũng chỉ tìm được nguyên nhân trực tiếp, tức là chỉ ra biến cố đã gây nên sự hẫng hụt về tâm lý cho từng trường hợp, và do đó chỉ đưa ra được giải pháp chống đỡ có tính “chữa cháy”, hoàn toàn bị động, ít hiệu quả trong việc cứu vãn tình thế ngày càng xấu đi của đối tượng. Còn nguyên nhân sâu xa và có tính phổ quát trên bình diện tổng thể thì vẫn chưa có sự lý giải thấu đáo, có trách nhiệm và có sức thuyết phục.
Xã hội coi đây là một hiện tượng bất thường của giáo dục, đang trở nên nổi cộm lên bởi tính chất phản giáo dục và sự phát triển ngày càng nhiều lên về số lượng các trường hợp. Vấn đề đặt ra hiện nay ở tầm vĩ mô là rất cần một sự nghiên cứu nghiêm túc, toàn diện và khoa học về bản chất của hiện tượng này, tìm ra đúng nguyên nhân đích thực và đưa ra các giải pháp có tính phổ quát. Nếu làm được như vậy thì sẽ định hướng cho các giải pháp ở cơ sở, tháo gỡ được những khó khăn, lúng túng cho các nhà trường và các gia đình, sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc khắc phục và hạn chế tối đa hiện tượng con trẻ bị đánh mất niềm tin.
Qua một số bài nghiên cứu đã có trước đây về vấn đề này, và qua thực tế tiếp xúc với một số trường hợp các em được nhà trường và gia đình coi là “trẻ bị đánh mất niềm tin”, tôi xin phép nêu lên một số ý kiến đáng lưu ý sau đây để chúng ta cùng trao đổi.
1- Ba nội dung quan trọng nhất của niềm tin đối với lớp trẻ Việt Nam.
Nội dung của niềm tin thì rất phong phú, nhưng có lẽ đối với lớp trẻ Việt Nam hiện nay thì quan trọng nhất là Niềm tự tin chính đáng, Niềm tin vào tình thương yêu và sự chở che của bố mẹ và gia đình, và Niềm tin vào con đường đi lên của đất nước.
1.1- Niềm tự tin chính đáng, tức là biết tin vào bản thân mình : thể hiện nhận thức đúng đắn về quy luật phát triển biện chứng - nội lực quyết định chất lượng và tốc độ của sự phát triển ở mỗi con người. Niềm tự tin chính đáng đó chính là niềm tin vào con đường mà mình đã chọn để đi theo suốt đời, là niềm tin vào năng lực và ý chí của bản thân trên con đường lập thân lập nghiệp,...Niềm tự tin chính đáng luôn đối lập với tư tưởng ỷ lại vào ngoại lực, luôn xung đột với lòng tin mù quáng vào sự cứu giúp của các lực lượng siêu nhiên, vào sự may rủi, luôn đấu tranh với sự phó mặc cho số phận, cho định mệnh, luôn cổ vũ cho sự nỗ lực phấn đấu của bản thân. Thế hệ trẻ bây giờ phải biết phấn đấu bằng sự nỗ lực bản thân, bằng chính năng lực của mình thể hiện ở kết quả lao động sáng tạo, chứ không thể cứ trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước như trước đây, và cũng không thể sống và làm việc dựa vào sự mê tín như cha ông xưa vì ít hoặc không được học hành, mọi sự đều “Trông Trời, trông Đất, trông Mây”, “nhờ Thần, Phật phù hộ”,...!
2.1- Niềm tin vào tình thương yêu và sự chở che của bố mẹ và gia đình. Đối với người Việt nam chúng ta thì gia đình mãi luôn là một giá trị bền vững, trường tồn. Đó là môi trường sống rất đặc biệt của con người từ lúc sinh ra cho đến lúc từ giã cuộc đời. Ở đó mỗi người đều được nuôi dưỡng, chăm sóc, nương tựa suốt cả cuộc đời không chỉ bằng vật chất mà còn bằng những giá trị tinh thần phong phú và sâu đậm bản sắc Việt. Ở đó mỗi con người đều được đón nhận, được trao gửi, được ấp ủ,...một thứ tình cảm đặc biệt mà không nơi nào có được, ngoài gia đinh của mình. Ngay từ thời đang là trẻ con, mỗi người Việt Nam chúng ta cũng đã cảm nhận được giá trị đặc biệt thân thiết, thiêng liêng và gắn bó của gia đình. Mỗi khi có chuyện vui hay buồn thì con trẻ lại tìm về gia đình để được chia sẻ, để được an ủi, động viên và giúp đỡ. Do đó niềm tin vào gia đình là một thành tố vô cùng quan trọng tạo nên sức mạnh của nội lực để sống và cống hiến suốt đời đối với mỗi cá nhân, nhất là với người trẻ tuổi (Và quả là một thiệt thòi quá lớn đối với những em nhỏ phải sống trong hoàn cảnh “không gia đình” !). Ngày nay, trong bối cảnh mới của đất nước (phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế), con trẻ luôn phải đối mặt với vô vàn thách thức, trong đó có những thách thức mà bản thân nhiều em không thể tự mình vượt qua được, thì gia đình lại càng có vai trò quan trọng, là chỗ dựa tinh thần vững chãi, không gì thay thế được đối với các em. Và chính bản thân các em, trong nhiều tình huống cũng đã tìm được ở gia đình của mình một sự chở che an toàn, một nguồn tư vấn tin cậy và hiệu quả. Đúng là trong bối cảnh xã hội đã có nhiều thay đổi rất căn bản như hiện nay, chúng ta lại càng phải ra sức bảo vệ và đề cao giá trị của gia đình, phải tăng cường chăm sóc và nuôi dưỡng niềm tin vào gia đình cho con trẻ.
3.1- Niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước ta.
Đó là niềm tin khoa học vào con đường cách mạng mà Bác Hồ đã chỉ ra, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp nhận và giác ngộ cho nhân dân ta, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta phấn đấu liên tục từ suốt hơn nửa thế kỷ nay. Con đường đó sẽ đưa đất nước ta đến một xã hội tốt đẹp hơn hẳn mọi xã hội đã có trước đây ở Việt Nam. Đó là xã hội không còn nghèo đói và lạc hậu, không còn áp bức và bóc lột, là một xã hội giầu có và văn minh cho mọi người, là một xã hội dân chủ thật sự, kinh tế tăng trưởng luôn đi liền với công bằng xã hội,...Đúng như mục tiêu tổng quát mà Đảng đã xác định là:”Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Đi theo con đường ấy thì đất nước ta không thể phạm phải những sai lầm, khuyết tật như mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trước đây. Đi theo con đường ấy thì đất nước ta lại càng không thể chệch hướng sang chủ nghĩa tư bản như mô hình của nước Mỹ và các nước phương Tây. Và chúng ta cũng không thể bắt chước mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Trung Quốc, vì ở đó cũng đang có quá nhiều bất cập về xã hội, về môi trường, về “tam nông”, về quan hệ quốc tế, về sự cách biệt giầu-nghèo quá lớn,...! Đương nhiên con đường ấy là cả một quá trình, có nhiều khó khăn, và trong thời kỳ quá độ (chắc chắn là lâu dài) thì vẫn luôn tồn tại đan xen cả những yếu tố cũ và những mầm mống mới, mà các yếu tố mới của chủ nghĩa xã hội thì phải ngày càng nhiều lên và chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống kinh tê-xã hội.
Có được niềm tin to lớn ấy thì các em mới có thể cụ thể hóa và củng cố được niềm tự tin chính đáng của mình và niềm tin vào gia đình mình, trong tiến trình phát triển đi lên cùng đất nước.
2- Ba trở ngại lớn rất khó khắc phục trong việc tạo dựng, chăm sóc và bảo vệ niềm tin cho con trẻ.
Những trở ngại này đang ngày càng nhiều lên do tính chất phức tạp đa chiều của một mô hình kinh tế mới (nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa), một thể chế quản lý xã hội mới (nhà nước pháp quyền và xã hội công dân), nhưng lại chưa thực sự định hình và hoàn thiện. Những trở ngại này chính là tác nhân gây nên sự rối nhiễu niềm tin của các em, và nặng nề nhất là phá nát niềm tin của các em, khi mà niềm tin đó vừa mới được nhen nhóm, bước đầu mới hình thành chứ chưa có độ bền chặt.
Xin thử nêu ra một số trở ngại chủ yếu nhất và dễ thấy nhất, đó là :
1.2- Những nghịch lý không bình thường của quá trình phát triển.
Thực tiễn phát triển đất nước theo mô hình nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tham gia ngày càng sâu vào quá trình hội nhập quốc tế đã luôn phát sinh nhiều nghịch lý rất khác thường, khó hiểu, vượt quá khả năng nhận thức của các em. Các em thường nêu băn khoăn của mình với bố mẹ và thầy cô giáo : ”Có rất nhiều điều con (em) được nghe giảng ở trường, được học trong sách vở nhưng sao lại không đúng với thực tế cuộc sống ?”. Bố mẹ và thầy cô giáo luôn bị dồn vào thế bí, luôn gặp khó khăn, lúng túng trong việc lý giải thấu đáo cho các em về những sự vênh lệch này, vì bản thân họ cũng thấy khó hiểu cả về mặt lý luận và thực tiễn. Các em đã mạnh dạn và thẳng thắn nêu lên những vướng mắc mà bản thân các em không thể tự lý giải được, chẳng hạn như : Cứ nói tăng trưởng kinh tế phải đi liền với công bằng xã hội - nhưng thực tế thì ai đó cứ giầu lên rất nhanh chóng còn đa số nông dân và công nhân vẫn cứ nghèo, thậm chí có người còn nghèo hơn trước ? ! Cứ ra sức kêu gọi bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên của đất nước - nhưng thực tế thì lại quá lỏng lẻo trong việc cấp phép và quản lý các đơn vị kinh doanh phá hoại môi trường và tài nguyên (nước ngọt, đất nông nghiệp, than, bauxite, và các khoáng sản, động thực vật quý hiếm,...)?! Nhà trường và đoàn thể giáo dục các con (em) phải sống trung thực - nhưng xã hội lại dung dưỡng sự gian dối, xảo trá ?! Nhà trường và đoàn thể giáo dục các con (em) phải tự lực tự cường, đi lên bằng chinh năng lực của mình, đứng vững trên chính đôi chân của mình - nhưng xã hội lại chấp nhận sự chạy chọt, sự mua bán, đổi chác, sự nịnh bợ, luồn cúi ?! Nhà trường và đoàn thể giáo dục các con (em) phải sống và làm việc theo gương Bác Hồ, phải noi gương và tiếp bước các bậc cha chú, các cán bộ, đảng viên - nhưng thực tế trong xã hội ta hiện nay được mấy ai thực lòng học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Bác, trong đất nước ta liệu còn bao nhiêu phần trăm cán bộ, đảng viên thực sự vì dân vì nước , thực sự liêm khiết để con (em) tôn vinh là thần tượng ?! Nhà nước kêu gọi mọi người ra sức làm giầu chính đáng - nhưng thực tế hiện nay việc kiếm được đồng tiền sạch thì đâu có dễ. Rất nhiều người giầu hiện nay đã đi lên không phải bằng lao động sáng tạo, không đi theo con đường làm ăn đàng hoàng, minh bạch, mà là bằng những thủ đoạn bẩn thỉu như bóc lột, cạnh tranh không lành mạnh, gian lận thương mại, tham nhũng, lừa đảo, ăn chặn, chạy chọt, lo lót,...thậm chí có kẻ trở thành mafia,...?!...
Nhiều và nhiều lắm những câu hỏi đầy lòng trắc ẩn, nhưng rất tâm huyết và chân thực như vậy. Và cũng vì các em không thể tìm được những sự lý giải thỏa đáng và có trách nhiệm từ phía người lớn nên có em đã hoang mang, có em đã hoài nghi, dao động,...và có em đã phải thất vọng, đành để mất đi niềm tin đẹp đẽ của mình, hoặc quay sang bàng quan vô cảm, muốn “bịt tai, che mắt”, coi như không biết gì nữa, để chỉ vùi đầu vào chuyện học hành (nhưng đâu có được yên thân) !
Có lẽ đây là trở ngại lớn nhất, chủ yếu nhất và bao trùm nhất đối với nhiệm vụ tạo dựng, chăm sóc và bảo vệ niềm tin cho con trẻ trong giai đoạn hiện nay.
2.2- Sự bất lực của gia đình và nhà trường.
Trước bối cảnh mới của đất nước, chất lượng gia đình cũng đang có những chuyển động đáng lo ngại, chức năng giáo dục của gia đình có xu hướng bị sụt giảm do bị chức năng kinh tế lấn át. Ở nhiều gia đình sự chăm sóc con cái trong học tập và rèn luyện phần thì bị sao nhãng, phần thì bị hạn chế bởi trình độ mọi mặt nên ngày càng tỏ ra bất lực, không cáng đáng nổi. Ở nhà trường thì việc giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống,... cho học sinh, sinh viên đang còn ở tình trạng hời hợt, chung chung. Cả nội dung và phương pháp trong mặt giáo dục này đều chưa sát hợp với sự biến đổi của thực tiễn, chưa sát hợp với từng loại đối tượng, chưa dám nhìn thẳng vào sự thật, chưa dám mạnh dạn cho các em cọ xát với thực tiễn,...Và vì vậy ở cả hai môi trường đó đều không kiểm soát được tình hình và diễn biến tư tưởng, tình cảm. đạo đức, lối sống,...của các em. Tình trạng khủng hoảng niềm tin, bị đánh mất niềm tin vẫn cứ thường xuyên phát sinh, nhưng bố mẹ và thầy cô giáo bao giờ cũng là người biết sau và chạy theo sau tìm cách chống đỡ. Và nếu xét ở góc độ chức năng giáo dục của hai môi trường giáo dục chủ chốt nhất này thì quả là ở đây đang có dấu hiệu của một sự bất lực trong thực thi chức năng của mình.
3.2- Sự rối nhiễu của quá nhiều nguồn thông tin.
Trong đời sống tinh thần của xã hội ta hiện nay, trong đó nổi lên là các hoạt động báo chí, nếu nhận xét là phong phú và đa dạng thì mới chỉ đúng một nửa, còn một nửa kia thì phải nói là quá lỏng lẻo và tự do đến mức xô bồ, loạn xạ và rối nhiễu thông tin. Đặc biệt là với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng internet đang được lan tỏa rất nhanh đến khắp các vùng miền, giúp cho lớp trẻ có điều kiện được tiếp xúc với một khối lượng khổng lồ thông tin toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực. Tác động tích cực đối với yêu cầu nâng cao dân trí và dân chủ hóa thông tin thì đã quá rõ, nhưng mặt tiêu cực thì cũng rất đáng coi là phải báo động, và xét ở phương diện giáo dục thì cũng có thể nói là “lợi bất cập hại”. Việc đưa lên mạng, lên báo những thông tin đa chiều, dù không được chọn lọc theo mục đích giáo dục con người, thì vẫn có giá trị sử dụng tốt đối với những người làm công tác nghiên cứu, vì họ đã có đủ bản lĩnh để tiếp nhận và xem xét, phân tích. Nhưng với độc giả là lớp trẻ thì quả là nguy hại, vì họ chưa đủ trình độ lý luận và vốn sống thực tế để phân biệt đúng-sai, thực-giả, trong khi bên cạnh không phải lúc nào cũng có “cố vấn”, “trọng tài”. Trong khi đó thì các nguồn thông tin chính thống lại không giữ được vai trò chủ đạo, do thiếu sức hấp dẫn, nhất là với lớp trẻ. Ở đây vẫn còn xu hướng đưa thông tin một chiều, không đáp ứng được quyền được thông tin của dân (yêu cầu biết hết và biết đúng sự thật), sự phân tích lý giải lại thường thiếu tính phản biện nên khó thuyết phục. Do đó khi tiếp xúc với những thông tin kiểu bịa đặt, ngụy tạo, lập lờ hai mặt,...thì con em của chúng ta rất dễ bị đánh lừa, bị lôi kéo,... và bởi vậy mà niềm tin bị lung lay, từ hoang mang, dao động đến giảm sút và đánh mất niềm tin ! Đây đang là nỗi lo của rất nhiều bậc bố mẹ và thầy cô giáo, và họ cũng đã tự thấy được sự bất lực khi mong muốn con em mình, học trò mình chỉ “được” chứ không “mất” khi tiếp xúc với thông tin của xã hội hiện đại. Họ mong mỏi Nhà nước phải xây dựng cho được một quy chế quản lý hữu hiệu đối với việc sử dụng mạng (đăng tải và truy cập thông tin), sao cho vừa bảo đảm quyền tự do được cung cấp thông tin, vừa ngăn chặn được những thông tin xấu, phản giáo dục.
Ba trở ngại nêu ở trên (cùng với nhiều trở ngại khác) quả là rất khó khắc phục, vì chúng là sản phẩm tất yếu của quá trình chuyển đổi to lớn và phức tạp, từ một nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, từ một xã hội nhà nước hóa chuyển sang xã hội công dân, từ một xã hội khép kín trong nước chuyển sang xã hội hội nhập với thế giới, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chuyển sang nền kinh tế công nghiệp theo hướng hiện đại và hướng tới nền kinh tế tri thức,...Quá trình chuyển đổi này luôn phải chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường và mục đích lợi nhuận ! Trong quá trình chuyển đổi này, xã hội quá độ luôn ở trong trạng thái chưa hoàn thiện cả về cơ cấu lẫn thể chế, do đó đạo đức và pháp luật chưa đủ sức mạnh để điều chỉnh hành vi của con người, từ người lãnh đạo cho đến người dân, con người còn quá coi trọng lợi ích cá nhân hơn là vận mệnh đất nước.
Một câu hỏi lớn đặt ra cho toàn xã hội là làm thế nào để giúp con trẻ chúng ta tránh được tai họa bị đánh mất niềm tin, bảo đảm được sự phát triển tốt đẹp các thế hệ công dân tương lai cho đất nước.
Tháng 8 năm 2009
HC
(Dòng họ Đỗ Hữu - gốc Hậu Lộc, Thanh Hóa )
|