|
CHUYỆN LÀNG CHUYỆN HỌ
Người họ tôi khao khát có một nhà thờ họ
Thùy Tao
(Dòng họ Đỗ Hữu - gốc Hậu Lộc, Thanh Hóa)
Dòng họ của tôi rời bỏ quê gốc từ những năm giữa thế kỷ thứ XIX, chỉ vì dòng họ tôi và cả làng tôi đều quá nghèo ! Người đứng đầu nhánh họ Đỗ Hữu của chúng tôi lúc ấy (mà bây giờ chính là cụ Tổ của dòng họ Đỗ Hữu) tuy có chút ít chữ nghĩa nhưng vì nghèo nên cũng chả giúp được gì cho con cháu, nếu cả nhà vẫn cứ bám lấy đất quê nghèo. Ông và cả 6 người con trai đành phải gạt nước mắt, từ biệt quê mà ra đi lập nghiệp ở xứ người, theo nhiều ngả đường tha phương cầu thực. Và vì vậy mà dòng họ tôi đến nay vẫn là một dòng họ ly hương, vẫn mãi phải ly hương, nhiều con cháu các thế hệ vẫn chưa một lần được về quê gốc để thắp dù chỉ một nén hương cho tiên tổ. Đó là một nỗi đau của cha ông xưa và cũng là một sự thiệt thòi lớn, một nỗi buồn dai dẳng truyền kiếp cho các lớp con cháu hiện nay và sau này của dòng họ.
Theo lời bố tôi và bác tôi kể lại (cũng dựa vào lời kể của ông nội tôi và ông bác tôi) thì lúc ấy ở quê chúng tôi cũng đã có một nhà thờ họ chung cho nhiều nhánh họ Đỗ cùng một chi trong họ Đỗ lớn của làng. Sau khi cụ Tổ của chúng tôi mất đi, mãi nhiều năm sau, năm 1894, người con trai thứ 3 của cụ Tổ khi đã có chút "của ăn của để" mới trở về quê gốc để làm một nếp nhà thờ họ tương đối vững chãi và đẹp so với các nhà thờ khác trong làng lúc ấy. Nhà thờ này vừa tiếp tục thờ cúng gia tiên như trước đây, vừa thờ cúng thêm hai anh em của cụ Tổ, và thực tế đã trở thành nhà thờ chính của dòng họ từ bấy đến nay.
Đã hơn 100 năm rồi, qua biết bao biến đổi xã hội cùng với sự phát triển nhiều thế hệ của dòng họ, ngôi nhà thờ họ đã phải dãi dầu qua bao nhiêu năm tháng nắng mưa, giông bão, và chính nó cũng đã được tu sửa, hạ cấp nhiều lần. Nhưng đến nay thì ngôi nhà thờ đó đã hư hỏng nặng nề lắm rồi, khó mà trụ nổi chỉ 1 - 2 trận bão mạnh nữa ở cái vùng quê gần biển của chúng tôi. Gọi là nhà thờ họ, nhưng thực tế thì nó chỉ còn là ngôi nhà 3 gian 2 chái, hẹp và thấp lè tè, vì khung gỗ của căn nhà xưa đã bị hoạn đi hoạn lại nhiều lần. Trong cái không gian bé nhỏ đó thì bàn thờ Tổ đặt ở một nửa gian chính giữa, phần còn lại dành cho gia đình người cháu thế hệ thứ 5 ở để trông coi và hương khói cho các cụ. Đã có nhiều con cháu của dòng họ nhiều lần từ nơi xa về thăm quê gốc, khi ghé vào nhà thờ họ để thắp hương thì không ai là không bùi ngùi, xót xa, lo lắng, không ai cầm lòng được khi nghĩ về một tương lai gần của nhà thờ họ ! Bởi thế bà con trong dòng họ chúng tôi đều khát khao muốn có một ngôi nhà thờ họ khang trang như xưa, để hàng năm có thể về lại quê gốc mà hương khói, mà bày tỏ lòng tri ân với tiên tổ, mà tìm thấy ở đấy những bài học Tình nghĩa truyền thống của các thế hệ cha ông,...Đáp ứng lòng mong mỏi của bà con, Ban Liên lạc dòng họ đã đưa ra đề xuất tôn tạo lại ngôi nhà thờ đó, và đã gửi Tâm thư đến tất cả các chi họ và các gia đình nhằm tạo nên sự đồng thuận đối với công việc quan trọng này. Qua thực tế triển khai công việc chuẩn bị, và từ kinh nghiệm của các nơi (chủ yếu là ở phía Bắc) đã tôn tạo nhà thờ họ mà chúng tôi tìm hiểu được, chúng tôi thấy nổi lên có 3 yêu cầu cơ bản sau đây là rất khó thực hiện suôn sẻ.
1- Lựa chọn mô hình thích hợp để xây dựng (tu sửa) nhà thờ họ : Từ kiểu dáng, chất liệu, qui mô,...cho đến kỹ thuật thi công đều phải có sự cân nhắc thận trọng và sát thực tế thì mới khả thi. Yêu cầu này là rất cơ bản nhằm bảo đảm cho công trình được chắc bền, đẹp, mà không phô trương tốn kém, nhất là đảm bảo được sự hài hòa về sắc thái văn hóa (giữa văn hóa dân tộc và văn hóa vùng miền, giữa văn hóa cộng đồng làng xã và văn hóa dòng họ, giữa văn hóa tâm linh và văn hóa của đời sống phồn thực, giữa truyền thống và hiện đại,...), tránh được biểu hiện lai căng, kệch cỡm như đã từng bộc lộ ra ở nhiều nơi, tránh được sự cố ý hoặc vô tình làm mất đi dáng vẻ uy nghiêm, linh thiêng, gắn với phong cách giản dị, dân dã, gần gũi với thiên nhiên như là bản sắc vốn có của một nhà thờ họ truyền thống Việt Nam. Riêng về kiểu dáng thì xu hướng chung là muốn chọn kiểu nhà truyền thống : 3 gian (và hai chái), mái ngói,...
Khi lựa chọn mô hình nhà thờ họ để tôn tạo, dù là xây dựng mới hay chỉ tu sửa, đều phải luôn xuất phát từ mục đích duy nhất và cao nhất là để giáo dục truyền thống, giáo dục nhân cách cho lớp lớp con cháu các thế hệ của dòng họ, không được xen vào đó mục đích gì khác, ý đồ gì khác. Ngoài ra, sự lựa chọn này nhất thiết không được thoát ly khỏi khả năng tài chính của từng dòng họ, mà số đông là vẫn còn nghèo. Kiên quyết chống lại cái "mốt" chơi sang, muốn làm nhà thờ họ để mà khoe của, để tiếp tục moi tiền dân và để "đánh bóng mạ kền" cho mấy ông "đại gia", mấy vị "quan tham" cơ hội và hãnh tiến !
2- Có cách huy động tốt nhất các nguồn lực phục vụ cho việc tôn tạo.
Nguồn lực tài chính là điều kiện quan trọng nhất, bởi tiêu điểm của công việc tôn tạo này là xây dựng, tu sửa nhà cửa, nên nếu không có tiền thì không thể bàn gì được nữa. Thực tế cho thấy việc huy động sự đóng góp tài chính trong dòng họ là khâu khó khăn nhất trong công tác chuẩn bị. Huy động tốt nhất nghĩa là phải phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của số đông bà con, phải đáp ứng được yêu cầu kinh phí tôn tạo, phải được sự đồng thuận và tin tưởng của cả dòng họ.
Đã có nhiều cách huy động, nhưng tựu trung chỉ khác nhau ở phần đóng góp theo nghĩa vụ, còn phần đóng góp với ý nghĩa công đức thì không khác nhau nhiều lắm. Phần huy động theo nghĩa vụ thường áp dụng nhiều quy định không giống nhau: góp theo "suất đinh" trong dòng họ (con trai các thế hệ), góp theo huyết thống dòng họ (cả con trai và con gái các thế hệ), góp theo hộ gia đình,...Có dòng họ chỉ huy động ngay trong 1 năm là đủ kinh phí, nhưng cũng có dòng họ phải huy động đến 3 - 4 năm mới gom đủ kinh phí. Tính toán thế nào để phần đóng góp theo nghĩa vụ của bà con phải là chủ yếu trong tổng kinh phí thì mới có thể chủ động trong kế hoạch triển khai, mới có tác dụng giáo dục ý thức trách nhiệm và tinh thần làm chủ cho các thành viên trong dòng họ. Do đó không nên trông chờ quá nhiều vào phần đóng góp công đức (dù rằng phải rất trân trọng phần đóng góp đó). Mức huy động theo nghĩa vụ không nên cao quá 500 ngàn đồng một suất (500 000 đ/suất).
3- Việc quản lý quá trình triển khai tôn tạo, mà trọng tâm là quản lý tài chính, phải hết sức minh bạch, công tâm, phải thực hiện công khai và kiểm toán thường xuyên - dù công trình chỉ là sửa chữa nhỏ hay là xây dựng lớn.
Tất cả những yêu cầu nói trên đối với dòng họ chúng tôi đang được coi là một thách thức rất lớn, nhất là yêu cầu thứ hai (huy động tài chính), khó lòng vượt qua được trong vòng 1- 2 năm như dự kiến ban đầu. Chúng tôi là những người trong cuộc đang rất lo lắng, trăn trở và thực sự lúng túng vì đến giờ vẫn chưa tìm ra giải pháp. Có lẽ trở ngại mà chúng tôi đang vấp phải, gây khó khăn cho việc tôn tạo nhà thờ họ là do dòng họ chúng tôi vừa trẻ quá lại vừa nghèo quá. Thật vậy, dòng họ chúng tôi quả là trẻ so với nhiều dòng họ khác, kể từ cụ Tổ đến nay mới qua 6 đời và mới chớm bước vào đời thứ 7. Do trẻ nên nguồn nhân lực hơi bị thưa thớt, nhất là số lượng "suất đinh", thêm nữa lại có 2/6 chi mới đến đời thứ 4 mà đã coi như "tuyệt tự" (không có con trai). Còn nghèo quá thì là chuyện rõ ràng mười mươi rồi, đến thời điểm này mà dòng họ chúng tôi không có lấy một doanh nhân nào, dù là loại nhỏ, và cũng không có một quan chức nào có vai vế để có thể làm "Mạnh Thường Quân" về tài chính cho dòng họ. Tuyệt đại đa số bà con trong dòng họ đều là nông dân hoặc người lao động làm công ăn lương, hoặc là người về hưu, hàng tháng chỉ có "5 cọc 3 đồng". Do đó khi nói đến kinh phí tôn tạo hàng trăm triệu đồng, và mức đóng góp đến trên dưới nửa triệu đồng/suất thì đều thất kinh ! Cạn nghĩ thì thấy tủi thân cho dòng họ mình, nhưng càng suy ngẫm thì lại thấy có lẽ như vậy có thể là cơ hội tốt cho chúng tôi, vì chính từ khó khăn cụ thể này mà sẽ tạo thêm động lực cho con cháu của dòng họ phấn đấu vươn lên thoát nghèo nhanh hơn trong một tương lai không xa nữa. Và vì vậy, chúng tôi có cơ sở để tin tưởng sắp tới dòng họ sẽ tìm ra cách tháo gỡ được bế tắc trong kế hoạch triển khai tôn tạo nhà thờ họ, như vừa giãi bày ở trên.
Thế mới biết, trong thực tế cuộc sống, giữa ước mơ và hiện thực bao giờ cũng có một khoảng cách, và có rút ngắn được khoảng cách ấy hay không là do ý chí của con người. "Mong ước có một nếp nhà thờ họ" là một nhu cầu tâm linh rất chính đáng, cần được ủng hộ, là một thứ tình cảm rất con người, đáng yêu và rất đáng trân trọng - nhưng thực hiện được nó thì đâu có dễ ! Nên chăng, cộng đồng các dòng họ Đỗ Việt Nam, và rộng ra là cộng đồng các dòng họ Việt Nam, hãy nêu ra mục tiêu phấn đấu trong vòng 5 năm tới chẳng hạn, tất cả các dòng họ đều có nhà thờ họ tử tế, khang trang. Một việc làm vô cùng nhân văn và thánh thiện, và chắc là chỉ ở Việt Nam mới có chuyện này. Những bài học lớn mà con cháu dòng họ chúng tôi có thể rút ra được từ công việc này có lẽ sẽ là rất nhiều. Đó là bài học về lòng tri ân tiên tổ, uống nước nhớ nguồn, là bài học về phát huy nội lực, về lòng tự tin, không mặc cảm với hoàn cảnh, không đầu hàng hoàn cảnh, là bài học về quyết tâm phấn đấu xóa nghèo, rút ngắn khoảng cách giầu - nghèo,...và bao trùm lên tất cả là bài học về Tình nghĩa đậm đà bản sắc Việt. Và có lẽ, nếu dòng họ chúng tôi hoàn thành được nhiệm vụ đầy khó khăn này thì sẽ được coi là một trong những dòng họ đặc biệt : ly hương mà không mất gốc, vẫn không quên tổ tông cội nguồn, một dòng họ biết sống tình nghĩa, thủy chung trong cả những hoàn cảnh không thuận chiều.
Tháng 8 năm 2009
T T
* Gửi kèm theo đây là chùm ảnh về gian thờ Tổ họ ở quê gốc và các nhà thờ dòng họ, chi họ của các họ bạn (họ Đỗ và cả các họ khác) mà tác giả đã đến thăm.
|