|
|
|
|
Chuyện tình cổ tích qua trang sách |
|
|
21/09/2009 |
(TT&VH) - Chuyện nhà thơ Đỗ Trọng Khơi ở Thái Bình đã hơn 40 năm nay phải nằm trên giường bệnh, kiên trì tự học mà trở thành nhà văn, tác giả của hàng chục tập sách… đã được cả nước biết tiếng. Nhưng còn chuyện anh đến tuổi 50 mới cưới vợ lần đầu, nhờ một mối tình thông qua một cuốn sách, đẹp như trong cổ tích, thì còn ít người biết. TT&VH xin giới thiệu bài viết của nhà thơ Đặng Vương Hưng, tác giả của cuốn Đa tài và đa tình, được xem là “ông mối” của câu chuyện tình thế kỷ này.
Chàng thi sĩ tuổi 50 vẫn là… trai tân
Cách đây gần mười năm, tôi từng cất công tìm về vùng quê lúa, thực hiện bài phóng sự về Nhà văn viết đứng, nhà thơ viết nằm. “Nhà văn viết đứng” là Trần Văn Thước, còn “Nhà thơ viết nằm” là Đỗ Trọng Khơi. Họ rất đặc biệt, bởi đều là những người khuyết tật, vượt lên số phận và trở thành tác giả văn học. Hai bài viết sau khi đăng báo, xôn xao dư luận, đã được chọn đưa vào tập chuyện làng văn nghệ và chân dung văn nghệ sĩ mang tên Đa tài và đa tình (NXB Hội Nhà văn, 2005)...
Từ ngày Đỗ Trọng Khơi chuyển về sống tại Thái Bình, ngôi nhà số 10, ngõ 329, đường Nguyễn Trãi, phường Phú Khánh, khách văn có điều kiện đến thăm anh ngày càng nhiều hơn. Anh vẫn viết đều đặn, được in cũng nhiều. Ngoài một tập truyện ngắn và 10 tập thơ, ước khoảng 500 bài, đã in thành tập (chưa kể hàng trăm bài bình thơ in trên các báo), Đỗ Trọng Khơi vẫn còn đúng 1.000 bài thơ chưa in. Thật là một sự lao động và sức sáng tạo ghê gớm! Khơi không giấu diếm ý định xuất bản một tập thơ mới, lấy tựa đề là Thơ nghìn bài. Bản thảo đã được anh hoàn thành, sắp xếp thành từng phần. Công việc có vẻ đang rất thuận lợi, vì Khơi đã sắm được máy vi tính, lại còn lập cả trang blog, chỉ riêng vấn đề gia đình, hạnh phúc riêng tư là chưa trọn vẹn.
Chuyện hạnh phúc của Khơi từ lâu đã trở thành mối quan tâm chung của bạn bè và người yêu thơ anh. Với người mẹ già của Khơi, thì đó là niềm khao khát. Bởi Khơi là người con trai duy nhất của bà cụ, trước khi chồng hy sinh tại mặt trận phía Nam. Mong ước từ bao năm nay của bà cụ là làm sao để có con dâu và có cháu nội.
Cách đây vài năm, người ta kháo nhau rằng Khơi đã có người yêu, đó là một cô giáo quê ở Vũ Lăng (Tiền Hải), cùng xã với Trần Văn Thước... người thân và bạn bè anh ai cũng mừng. Nhưng rồi trước sự cản ngăn quyết liệt của gia đình, cô gái kia đã không vượt qua nổi...

Tác giả bài viết (đứng) lên tặng hoa vợ chồng nhà thơ Đỗ Trọng Khơi
trong đám cưới diễn ra hôm qua, 14/6
Mấy năm gần đây Đỗ Trọng Khơi rất thích nghiên cứu tử vi. Tự xem cho mình, Khơi bảo: cái “số” của anh trời “bắt thọ” đến năm 70 tuổi. Năm nay Khơi mới tròn năm mươi (tính theo tuổi ta), như vậy anh còn phải “ngụ” trên giường... hai mươi năm nữa! Cũng có nghĩa là cuộc đời còn phải cưu mang Khơi từng ấy năm. Ai sẽ giúp anh, khi người mẹ già rồi sẽ khuất núi?
Cô thủ thư tỉnh Bạc Liêu và mối tình qua trang sách
Một ngày giữa năm 2006, Đỗ Trọng Khơi nhận được một lá thư lạ, phong bì dán tem và đóng dấu bưu điện của một tỉnh miền Nam xa xôi... Đó là thư “làm quen” của một cô gái, có nét chữ mềm mại và nắn nót. Cô tự giới thiệu mình tên là Đỗ Kim Oanh, hiện đang làm thủ thư của Thư viện tỉnh Bạc Liêu. Tình cờ, cô được đọc trong cuốn sách Đa tài và đa tình của tác giả Đặng Vương Hưng, có bài viết “Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, 25 năm nằm cất tiếng gọi đời” khiến cô khâm phục, cảm động, không cầm được nước mắt. Cô đắn đo mãi mới dám viết thư cho anh, với mong muốn được làm quen, kết bạn để chia sẻ và đồng cảm.
Đỗ Trọng Khơi quyết định viết thư trả lời cô thủ thư Kim Oanh. Nội dung chỉ đơn giản là cảm ơn sự quan tâm của cô. Mời cô nếu có dịp ra miền Bắc thì ghé qua Thái Bình mến khách thăm nhau... Cuối thư, anh không quên cho cô gái số điện thoại di động của mình: 01693276294.
Một buổi tối, Khơi bất ngờ nhận được tin nhắn từ một số máy lạ 01216504717: “Em là Oanh ở Bạc Liêu đây. Em muốn được anh coi là bạn, thỉnh thoảng mình tâm sự cho đỡ buồn”. Dĩ nhiên là Khơi đồng ý.
Vậy là từ đó, họ thường xuyên nhắn tin cho nhau. Đôi khi còn trực tiếp nói chuyện điện thoại. Oanh không hề giấu diếm khi cho Khơi biết cô sinh năm 1970, quê ở Ý Yên (Nam Định) đã có một đời chồng và một con gái. Cuộc đời Oanh cũng gặp đầy trắc trở, gian nan, vợ chồng cô đã ly hôn từ khi con gái mới chào đời, năm nay cô bé đã học hết lớp 8. Oanh vốn là cô giáo mầm non, sau mối tình đầu đầy éo le, chuyện gia đình đổ vỡ, qua một người bà con cô xin vào Bạc Liêu học lớp Trung cấp thư viện, rồi về làm thủ thư ở thư viện tỉnh. Tuy Oanh chưa biết sáng tác nhưng cô rất yêu sách, yêu đến say mê và đọc say mê. Từ yêu quý sách rồi đã yêu luôn cả người viết ra chúng...
Một lần, nhân việc Oanh hỏi ý kiến Khơi chuyện nghề nghiệp và học hành của hai mẹ con; Khơi bảo anh biết tử vi, hãy cho anh chính xác ngày sinh tháng đẻ, anh sẽ coi giúp. Sau này, Khơi thú nhận rằng anh kinh ngạc vì thấy số tử vi của Oanh chính là người phụ nữ anh cần tìm bấy lâu nay. “Cung Phu của cô ấy nói rất rõ: Phải lấy người đàn ông đứng tuổi sau khi trải qua một hai lần lỡ dở và đi làm ăn xa”.
Thế rồi Oanh tìm ra Thái Bình với Khơi... Họ rưng rưng cảm động cầm tay, nhìn nhau bằng xương bằng thịt. Oanh bảo: “Em đã đồng ý ra với anh, thì có nghĩa là em đã chấp nhận tất cả, dù cuộc sống có khó khăn vất vả đến mấy. Nhưng em muốn anh phải công khai với họ hàng và xóm làng chuyện của chúng mình”. Khơi không có lý do gì để từ chối yêu cầu chính đáng đó.
Cả làng văn chúc mừng cho đám cưới
Trước ngày chính thức tổ chức lễ cưới, bạn bè Khơi mới nghe tin đã tìm đến chúc mừng rất đông. Gặp ai, anh cũng không giấu diếm khoe căn phòng hạnh phúc, trang nội thất đáng giá hàng chục triệu đồng của mình: “Đó là quà tặng của con gái nuôi biếu tôi”. Thì ra mấy tháng trước, vì quá thèm một tiếng gọi “cha”, nhà thơ Đỗ Trọng Khơi đã quyết định nhận Phương Anh, một nữ sinh viên chuyên tu dược, Trường Đại học Y khoa Thái Bình làm con nuôi. Gọi là “con nuôi”, nhưng thực ra Phương Anh đã ngoài 30 tuổi, có chồng và 2 con lớn, Khơi cũng chưa nuôi cô được ngày nào. Khi biết “bố nuôi” chuẩn bị lấy vợ, Phương Anh đã bàn với gia đình, quyết định mua tặng “Bố Khơi và mẹ Oanh” giường cưới, gối cưới, ti vi, đèn ngủ, tủ trang điểm... nghĩa là toàn bộ nội thất trang bị cho căn “phòng hạnh phúc”. Mà không phải một nơi, cô sắm cho đủ trang bị cho 2 căn phòng như thế: Một ở làng Trần Xá, quê Khơi, và một ở thành phố Thái Bình. Nghĩa là vợ chồng Khơi về đâu cũng có chỗ ngủ đàng hoàng và cũng có thể hưởng “tuần trăng mật” với đầy đủ tiện nghi gia đình.
Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi còn cho biết: chính chị Đỗ Kim Oanh đã nhiều lần giục anh điện thoại cho người viết bài này: “Anh nhớ mời anh Đặng Vương Hưng về dự đám cưới chia vui với chúng mình. Phải coi anh ấy như một “ông mối”, vì không có cuốn sách Đa tài và đa tình thì làm sao có hạnh phúc ấy!”.
Bởi thế, người viết bài này đã có mặt tại làng Trần Xá, xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà (Thái Bình) quê của Khơi vào sáng ngày 14/6 để chứng kiến và chia vui cùng vợ chồng anh. Ngồi trên xe từ Hà Nội về Thái Bình, tôi liên tục nhận được điện thoại, tin nhắn của bạn thơ, nhờ chuyển lời chúc mừng. Nhà văn Văn Chinh (website Hội Nhà văn Việt Nam) đã có kế hoạch đi dự đám cưới, nhưng rồi trục trặc xe cộ nên anh đã: “Nhờ Hưng làm giúp cái phong bì 300 ngàn”. Nhà thơ Trương Nam Hương từ TP.HCM điện ra gửi tặng vợ chồng nhà thơ Đỗ Trọng Khơi một lẵng hoa, kèm 4 câu thơ định in vào băng vải chúc mừng mà không kịp, anh đành nhắn tin qua điện thoại: “Chúc mừng Khơi cưới vợ/ Tình trăm năm vuông tròn/ Yêu thương là bến đỗ/ Thơ động phòng tân hôn...”.
Đã lâu lắm, làng Trần Xá quê nhà thơ Đỗ Trọng Khơi mới lại có nhiều khách lạ từ xa kéo về đến thế. Hầu hết các anh em văn nghệ sĩ Thái Bình đều có mặt để chia vui với Khơi. Các nhà văn, nhà thơ gốc Thái Bình từ Hà Nội và nhiều tỉnh xa cũng về: Nguyễn Anh Nông, Bùi Thanh Minh, Kim Chuông, Bùi Hoàng Tám... Đỗ Trọng Khơi bảo có rất nhiều người anh “không dám mời” cưới, nhưng nghe tin, anh em vẫn về, thật quá bất ngờ và cảm động.
Chiếc sân trước cửa nhà Khơi được dựng rạp, che phông từ hôm trước. Hôn lễ được tiến hành từ 10 giờ sáng. Chú rể mặc áo sơ mi trắng, ngồi trên xe lăn, cô dâu mặc áo dài màu vàng nhạt. Khách ngồi chật kín cả mấy dãy bàn, thiếu ghế, nhiều người phải đứng xung quanh...
Khi được giới thiệu phát biểu, sau khi nhắc lại vài kỷ niệm với Đỗ Trọng Khơi, nhất là chuyện qua một bài viết mà vô tình mà trở thành “ông mối”, tôi đã thay mặt bạn đọc yêu thơ của lucbat.com tặng cô dâu chú rể một bó hoa tươi thắm và một triệu đồng.
Rồi những mâm cỗ cưới được bê ra... “Chuyện bếp núc cỗ bàn” cũng nhiều điều thú vị: Lúc đầu, Khơi chỉ định làm 10 mâm cơm, mời bạn bè thân thiết. Sau khi đã quyết định cưới công khai, thì bàn ra tính vào, cuối cùng cả nhà quyết định phải “dự trù thêm” làm đủ 50 mâm cho cả khách ở xa về. Nhưng hóa ra số cỗ thiếu to, phải thêm cả chục mâm vẫn cứ thiếu. Rồi ai đến sau thì ngồi ghép vào mâm người đến trước. Ai cũng vui và cảm động.
Nhà thơ Đặng Vương Hưng- Báo Thể thao Văn Hóa
|
|
LƯƠNG DUYÊN NGÀN DẶM
(Tự thuật của chị Đỗ Kim Oanh, vợ nhà thơ Đỗ Trọng Khơi)
Hôm cưới tôi mới gặp được đông đủ bạn bè, họ hàng và những người quen biết của chồng. Mặc dù trước đó vợ chồng tôi đã trù liệu mọi việc khá đầy đủ nhưng tôi không ngờ được rằng ngày cưới chúng tôi đông người tới dự đến thế. Tất nhiên mọi người đến để mừng cho chúng tôi hạnh phúc. Nhưng tôi còn đọc được trong rất nhiều ánh mắt muốn tới để được chứng kiến một sự lạ trong tình duyên lứa đôi và xem một cô dâu lạ giữa thời @ như tôi.
Những người yêu văn chương cả nước chắc đều biết câu: Thái Bình có chuyện không ngờ/ nhà văn viết đứng, nhà thơ viết nằm, nói về nhà văn bị tàn tật Trần Văn Thước và chồng tôi, nhà thơ bị tật nguyền Đỗ Trọng Khơi đã vượt lên số phận, trở thành nổi tiếng. Nhà văn Trần Văn Thước đã gần 60 tuổi, xây dựng gia đình từ trước ngày bị tai nạn, hiện nay đã có đầy đủ con trai con gái và đã lên chức ông. Còn nhà thơ viết nằm năm nay bước vào tuổi tri thiên mệnh nhưng cho tới ngày gặp tôi anh vẫn chưa có một lời hò hẹn với ai. Có thể nói gia cảnh và bệnh tình chồng tôi khá đặc biệt. Ông nội anh chỉ có bố anh là người con độc nhất. Và bố mẹ anh sinh được ba người con nhưng chỉ có mình anh là con trai. Khi cô em gái út anh chưa đầy tuổi thì bố anh nhập ngũ. Ông đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam và hy sinh tại Quảng Ngãi. Là niềm hy vọng nối dõi tông đường của một nhành họ Đỗ Xuân làng Trần Xá, nhưng năm 8 tuổi, học xong lớp Ba anh bị một căn bệnh quái ác viêm đa khớp dạng thấp. Chạy chữa mãi, bao nhiêu thuốc thang nhưng đôi chân anh vẫn bị co quắp và teo dần, một bàn tay hầu như không cầm nắm được. Cuộc sống của anh từ đó bị cột chặt vào chiếc giường, anh như con chim non chưa kịp ra ràng đã bị gẫy cánh, lìa đàn. Thời gian anh bắt đầu bị liệt, rồi bố hy sinh đó là những ngày đen tối nhất của gia đình anh. Đau xót và nghèo túng, nhưng ông bà nội và mẹ anh vẫn phải gồng lên để sống chăm lo cho con cháu. Mẹ anh nuốt nước mắt vào trong lo cầy cấy đến quắt người để nuôi cả nhà. Ông bà nội dành hết tâm lực để chăm sóc, dạy dỗ anh. Rồi ông bà lần lượt qua đời, mọi gánh nặng gia đình dồn lên vai mẹ và tiếp đó là chị gái, em gái... Dù vất vả nghèo khó nhưng mọi người trong nhà lúc nào cũng dành hết sự yêu thương cho anh. Có một thời nhà không có tiền nhưng mẹ anh vẫn chạy vạy bằng được mua cho anh chiếc đài bán dẫn để anh biết được thông tin và cuộc sống xã hội bên ngoài. Khi anh thích đọc mọi người trong gia đình và thân quen tìm mọi cách để anh có được những sách báo cần thiết. Có ai ngờ đâu chính cái nguồn văn hoá, văn chương qua chiếc đài bán dẫn rẻ tiền và những trang sách báo cũ kỹ như mớ giấy bán đồng nát ngày ấy đã thai nghén và nuôi nấng tâm hồn anh thành một nhà thơ sau này.
Ngoài 20 tuổi anh mới bắt đầu viết. Những tác phẩm đầu tay của anh chủ yếu là những điều cảm nhận từ ký ước tuổi thơ, từ những điều đã nghe đã đọc và cả từ những nỗi u trầm tĩnh lặng của cuộc đời mình. Nhờ có sự ham mê và trí óc tưởng tượng phong phú mà những điều anh viết ra ngày càng có hồn hơn và tự nó bay bổng vượt ra được khỏi luỹ tre làng Trần Xá. Song để viết được những tác phẩm có giá trị thực thụ, những tháng năm ấy anh đã phải đọc không biết bao nhiêu là sách. Anh đã mượn gần hết những quyển sách cần thiết của kho sách thư viện huyện Hưng Hà, rồi cả thư viện tỉnh Thái Bình. Ngoài các loại sách văn học và kiến thức phổ thông, anh rất mê triết học. Những khi có những tập sách kinh điển về Phật, về Lão, Trang, về Khổng ... của phương Đông hay Hêghen, Can, Nít và cả Mác.. phương Tây anh đều đọc hết từ trang đầu đến trang cuối và nghiền ngẫm rất kỹ. Đọc rồi viết, hai công việc ấy dần trở thành nhu cầu tự nhiên như cơm ăn nước uống hàng ngày và là niềm vui sống của anh trên chiếc giường cách biệt với xã hội bên ngoài. Viết nhiều, nhưng để tác phẩm của anh được đăng trên báo chí, đến được với người làm văn chương, bạn đọc xa gần và anh thành danh như ngày hôm nay là nhờ sự quan tâm giúp đỡ của rất nhiều người. Trong đó những người anh nặng ơn tình nhất là tiến sỹ Y khoa Hoàng Năng Trọng và hai nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, Bế Kiến Quốc. Bác sỹ Trọng là người đầu tiên cầm bản thảo tập thơ của anh đi gõ cửa các báo chí xa gần và là anh em kết nghĩa gắn bó thân thiết với anh giúp đỡ anh nhiều việc lớn trong mấy chục năm qua. Hai nhà thơ đều đã qua đời là những người đầu tiên giới thiệu thơ anh trên văn đàn và bảo vệ giải thưởng cho anh trên báo Văn nghệ. Đó chính là những tấm giấy thông hành đầu tiên để anh bước vào làng văn chương báo chí…
Cho tới những năm đã gần 50 tuổi, mặc dù đã thành danh và được nhiều người cả nước biết đến nhưng với hoàn cảnh đặc biệt của mình hầu như anh chưa bao giờ nghĩ tới một tổ ấm của riêng mình. Nhưng anh là người vừa tin vào số phận lại vừa nhạy cảm và quyết tâm làm những gì có thể làm được để xoay chuyển cuộc đời. Tự biết mình vẫn có khả năng của người đàn ông nên cách đây vài năm anh đã âm thầm chịu đựng làm cuộc phẫu thuật chỉnh hình để chuẩn bị cho cái thiên chức làm chồng làm cha…
Những điều kể trên, sau khi làm vợ anh, tôi mới được biết đầy đủ qua anh và những người thân quen kể lại chứ những ngày ấy tôi còn ở một góc trời khác. Tôi lớn lên ở vùng chiêm trũng Ý Yên (Nam Định) với tuổi thơ không được suôn sẻ ngọt ngào. Mẹ tôi sinh được hai chị em gái, chúng tôi chưa trưởng thành thì bà qua đời vì bệnh trọng. Cha tôi công tác ở Hà Nội và tục huyền. Hai chị em tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả. Học xong THPT không thi được đại học, tôi đi học rồi về làm cô giáo mầm non ở quê và lấy chồng. Em gái tôi phải lên tận Lai Châu công tác và lập gia đình ở đó. Có lẽ tại tôi đội tuổi Canh Tuất nên giống như nhiều người đàn bà đứng chữ Canh đường chồng con thường hay lận đận. Tôi sinh cháu gái mới được hơn một tháng thì vợ chồng phải chia tay nhau. Trước cảnh gia đình đổ vỡ, tôi muốn bế con đi một nơi thật xa để quên đi những chuyện buồn tủi đầu đời. Sau nhờ có một bà cô xin cho học lớp thư viện ở Bạc Liêu tôi vào đó học rồi ra trường về làm thủ thư ở thư viện tỉnh. Đã ngoài ba mươi tuổi, tình cảnh như con én lạc đàn, sảy cung giờ vẫn sợ làn cây cong, nên chưa bao giờ tôi dám nghĩ tới việc bước đi bước nữa. Việc tôi quen anh cũng hết sức tự nhiên. Từ ngày làm ở thư viện tôi thường lấy sách làm bạn tâm tình chia sẻ buồn vui. Tôi chưa biết anh là ai nhưng thường xuyên thấy thơ anh và những bài viết về anh trên trên các báo. Ban đầu cái tên anh cũng bình thường như bao nhà thơ nhà văn khác mà tôi đã đọc. Một lần tình cờ đọc trong cuốn sách Đa tình và đa tài của nhà thơ Đặng Vương Hưng có bài Nhà thơ Đỗ Trọng Khơi, 25 năm cất tiếng gọi đời, làm tôi thực sự khâm phục, cảm động đến rơi nước mắt và vô cùng quý nể anh. Với tình cảm chân thành tôi rất muốn được làm quen để tỏ lòng ngưỡng mộ và chia xẻ động viên với một con người giầu nghị lực và tài hoa. Nhưng lại e mọi người nghĩ mình thấy kẻ sang bắt quàng làm họ nên cứ đắn đo mãi. Giữa năm 2006 tôi mới dám viết thư cho anh với mong muốn được làm quen, kết bạn. Ít ngày sau tôi nhận được thư anh cảm ơn sự quan tâm và mời tôi nếu có dịp về quê thì ghé qua Thái Bình mến khách thăm nhau. Cuối thư anh cho cả số điện thoại di động để tôi cần thì liên lạc. Thấy anh là người chân thành và quý trọng tình cảm, một buổi tối tôi mạnh dạn nhắn tin cho anh: Em là Oanh ở Bạc Liêu đây, em muốn được có anh là bạn, thỉnh thoảng mình tâm sự cho đỡ buồn. Anh tin lại cho tôi là cũng mong được như thế. Từ đó tôi và anh thường xuyên nhắn tin và điện thoại cho nhau. Càng hiểu rõ hoàn cảnh và công việc cụ thể của nhau tôi càng cảm nhận được sự ngày càng gắn bó thân thiết giữa tôi và anh. Và cũng không biết tự khi nào tôi đã coi anh là người tin cẩn, quý mến nhất. Mọi chuyện vui buồn lớn nhỏ trong cuộc sống tôi đều tâm sự và hỏi ý kiến anh. Giữa anh và tôi như đã có một sợi dây níu chặt. Nhưng vì hoàn cảnh của anh, của tôi đều không bình thường nên tôi không dám nghĩ đến chuyện đi xa hơn. Nhưng rồi một buổi tối sau khi nói chuyện qua điện thoại với tôi, anh bảo: Em ạ, có một người đàn ông đứng tuổi ở quê anh muốn được làm người bạn đời của em. Nhưng anh ấy hoàn cảnh đặc biệt từ nhỏ vất vả lắm, không biết em có đồng ý về Thái Bình chung sống với anh ấy không? Chẳng hiểu vì sao lúc đó tôi trả lời anh tự nhiên như đã chờ đợi lời ấy từ trước: Em biết anh ấy là ai rồi. Thực lòng em đã cảm mến anh ấy từ lâu...Trước khi kết thúc buôỉ nói chuyện ngọt ngào ấy anh ấy còn cẩn thận bảo tôi: Em cứ ra Thái Bình, ở nhà anh một tuần cho biết cụ thể rồi hãy quyết định chính thức. Một lời ấy làm tôi càng tin tưởng và quý mến anh là người thẳng thắn, cẩn trọng…
Sau một thời gian suy nghĩ đắn đo, rồi tôi quyết định xin nghỉ việc và thu xếp cuộc sống để ra với anh. Tuy là lần đầu tiên nhìn thấy nhau bằng xương bằng thịt nhưng vì đã hiểu hết cuộc sống và hoàn cảnh anh qua mấy năm tâm sự nên tôi thấy anh và mọi người thân không có gì khác lạ so với với những gì tôi đã hình dung. Tôi thực sự xúc động khi anh nắm bàn tay tôi và nhắc lại câu nói lần trước: Em cứ ở đây mấy ngày, xem thử cuộc sống của anh, nếu đồng ý thì chúng mình tính xa hơn, còn nếu không thì anh không trách em đâu. Tôi cảm nhận anh cũng coi tôi như đã gần gũi thân thiết tự bao giờ, nên chẳng cần suy nghĩ mà nói ngay: Em đã đồng ý ra với anh nghĩa là anh chấp nhận tất cả, dù cuộc sống có khó khăn đến mấy... Ở bên nhau mấy ngày rồi chúng tôi bàn bạc chuẩn bị cho việc tổ chức lễ cuới.
Đúng là trong ngày cưới bên cạnh những nụ cuời hân hoan mừng cho hạnh phúc chúng tôi, tôi còn đọc được nhiều ánh mắt nhìn cuộc hôn nhân của chúng tôi và tôi như một sự lạ. Đó là những điều nhiều người tò mò và băn khoăn: Tại sao một người con gái đã có cuộc sống nghề nghiệp ổn định, đang thoải mái tự do như tôi lại chấp nhận bó bện với hoàn cảnh của anh? Có phải tôi yêu thương anh thực sự hay chỉ mê cái danh của một người đã nổi tiếng? Liệu tôi có đủ nghị lực và tình thương yêu để gắn bó với anh suốt đời không?...Bởi không phải là tôi nên họ có ý nghĩ như vậy là tất nhiên. Những điều ấy chỉ có tôi và anh hiểu một cách đầy đủ, rõ ràng trước khi quyết định gắn bó với nhau.
Sau ngày cưới nghỉ ngơi, thu xếp công việc gia đình vài tuần và lo thủ tục chuyển trường cho cháu Diệp Anh, con gái tôi về Thái Bình học. Rồi mấy người bạn thân thiết của anh đã xắp xếp cho tôi đi làm ở thư viện trường Đại học Y Thái Bình. Bây giờ hàng ngày tôi đến công sở làm việc và hai bận đi về chăm sóc anh, chăm lo cho cuộc sống của cái gia đình nhỏ bé của chúng tôi. Tôi thực sự thấy cuộc sống của mình bình thường như mọi người phụ nữ bình thường khác có một gia đình hạnh phúc.
NGUYỄN LONG ( ghi)
Nguồn: Báo Kiến Thức Gia Đình số 38, ra ngày 17-9-2009
|
|
|
| |
|
|
|