Thứ năm, 02/07/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Nhà giáo - Nhà văn hóa Đỗ Trọng Vĩ E-mail
29/09/2009

Nhà giáo - Nhà văn hóa Đỗ Trọng Vĩ

Nhà giáo, nhà văn hoá Đỗ Trọng Vĩ tự là Tham Thiền, hiệu là Khôi Hữu, thụy là Hiến Mục, sinh ngày 12-10-1829 trong gia đình có truyền thống khoa cử và lễ giáo ở làng Giữa (nay là thôn Đại Mão, Hoài Thượng, Thuận Thành). Tiên tổ là trạng nguyên Nguyễn Quang Bật đỗ năm 1484 thời Lê Thánh Tông ở làng Bình Ngô, sau có cụ Đỗ Hải làm rể tiến sĩ Nguyễn Đình Khuê nên ở lại cư trú quê vợ lập nên dòng họ Đỗ tại đây.

Dòng họ Đỗ ở làng Giữa đời đời giữ được nếp nhà là hiếu học và khoa bảng. Cụ nội là Đỗ Trọng Cơ đỗ hương cống nhưng thi hội liền hai khoa không đỗ, chịu ra làm quan, khi đã 59 tuổi vẫn đèn sách đi thi nhưng chỉ vào đến tam trường như những lần thi trước. Từ nhỏ cụ Đỗ Trọng Vĩ theo học với cha đẻ là cử nhân Đỗ Dư, tri huyện Chương Đức. Cụ biết làm thơ sớm. Năm lên 8 có đám rước quan đi qua, đám trẻ trốn học ra xem, về phải đòn, Đỗ Trọng Vĩ làm bài thơ nôm: Đang học bỗng nghe tiếng trống tòm/ Theo đàn con trẻ chạy ra nom/ Chũm choè một tướng dù xanh ngắt/ Lơ láo ba quân áo đỏ lòm/ Gái tốt giai lành xem tấp nập/ Làng trên xóm dưới đón om sòm/ Ta học âu là ta cũng thế/ Nọ phải nom chi nọ phải dòm. Rõ ràng bài thơ ngụ ý của người quyết chí học hành thành tài.

 Năm 1850 cụ đỗ tú tài, làm chức bang tá huyện vụ, có công dẹp loạn và cướp được thi hài nghè Hành chết trận được ghi quân công. Năm 1864 đỗ cử nhân đồng khoa với các vị Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Bùi Quế, Dương Danh Lập, sau các vị này đều đỗ thi hội. Do có quân công từ trước nên thi đỗ liền được nhận chức Huấn đạo Văn Giang, rồi thăng Giáo thụ Từ Sơn, tri huyện Yên Dũng kiêm huyện Lạng Giang, tri phủ Yên Thế. Thời kì này triều đình cử Tôn Thất Thuyết làm Bắc Kì tán tương quân vụ, ông đã lấy Đỗ Trọng Vĩ làm Bắc Kì bang tá quân vụ, giúp dẹp loạn nguỵ Tường nguỵ Trận, sau đó được cử giữ chức án sát sứ Cao Bằng. Khi Lý Dương Tài đưa quân sang Thái Nguyên gây loạn, triều đình lại cử Đỗ Trọng Vĩ quan hệ với nhà Thanh dẹp đám loạn quân này. Đại diện nhà Thanh là Phùng Tử Tài đã hiệp ý cùng quân ta bắt được Lý Dương Tài đem về nước xử trí. Trước khi chia tay, các quan nhà Thanh đều có câu đối đề tặng đại diện Việt Nam. Tiến sĩ minh kinh Ngô Mậu Huân, Tiễu biện trấn vũ hậu doanh quân vụ viết:

  Kinh tế hữu tài giai bách luyện

Độc thư vô tự bất thiên kim

(Tài trị nước giúp đời từng trải/ Học vấn sâu rộng từng chữ đáng giá ngàn vàng).

 Bác sĩ Trần Nhạn Phong viết:

 Chấp pháp như sơn trừng hoài nhược thuỷ

Hoà thần đương xuân thanh tiết vi thu

(Chấp pháp kiên quyết như sơn nhưng lại mềm như nước/ Thư thái tựa mùa xuân, sáng trong tựa mùa thu).

 Tiến sĩ Lôi Phát Thanh viết:

 Thi chính nhi ba kì đạo mẫn chính

Nhân đạm như cúc đắc chí đa thu

(Thơ chân thực mà tài hoa, việc quan chuyên cần/ Người giản dị không màng danh lợi, khí tiết ngay thẳng).

 Sau chiến công dẹp phỉ Lý Dương Tài, cụ Đỗ Trọng Vĩ được phong Tuần phủ Hưng Yên, nhưng do sức khoẻ, cụ cáo quan về quê dưỡng bệnh. Sau đó Tổng đốc Trương Đăng Đản mời ra làm Đốc học Bắc Ninh. Khi 70 tuổi cụ xin nghỉ trí sĩ tại quê. Dân Lạc Thổ lại mời đến dạy học, năm sau cụ mất (1899), thọ 71 tuổi.

 Trong thời gian giữ chức Đốc học, nhà giáo Đỗ Trọng Vĩ chỉ chuyên tâm rèn dạy nhân tài, lấy đó là cách ở ẩn hay nhất, như câu đối treo ở chỗ ngồi nơi dạy học cụ tự viết:

 Thượng cầu cổ nhân tâm tiến diệc ưu thoái diệc ưu viết tiên thiên hạ

Bàng khảo phương ngoại truyện sĩ nhi ẩn triều như ẩn hà tất thâm sơn

(Tìm hiểu ý người xưa, dù làm quan hay lui về đều phải lo trước thiên hạ/ Tham khảo chuyện xã hội, ví là kẻ sĩ hay đương chức vẫn là ẩn dật cứ gì phải ở rừng sâu).

 Biết tiếng văn tài của cụ, sĩ phu trong ngoài tỉnh đến tập bài rất đông. Học trò thành đạt cũng nhiều. Đỗ đạt có Đình nguyên tiến sĩ Nguyễn Đình Tuân, tiến sĩ Đàm Thận Bình; các phó bảng Phan Văn Tâm, Đặng Quỹ, Đặng Tích Trù, Nguyễn Thiện Kế cùng nhiều cử nhân tú tài. Văn tài có các vị: Trần Lê Kỉ, Đỗ Như Đại, Nguyễn Mộng Bạch, Hoàng Thường, Nguyễn Đốc, Trần Huy Côn, Ngô Sách Tư, Tô Nha, Trịnh Xuân Nham... Phó bảng Phan Văn Tâm còn được cụ nuôi cho ăn học từ bé, sau làm tới chức Tham tri nha Kinh lược Bắc Kì.

 Các con cụ cũng có người đỗ cử nhân. Bổng lộc làm quan cụ dành nuôi sống gia đình mức đạm bạc, còn để chi dùng việc học hoặc xây dựng đền đài. Bản thân cụ ăn mặc giản dị, chỉ có một bộ lễ phục thường triều chứ không sắm nổi phẩm phục đại triều. Các con khi đi học chỉ đi dép quai một, đội nón sơn. Nhà ở cả đời chỉ là nhà gianh vách đất. Các con ra ở riêng cũng chỉ được cho nhà gianh, sân đất. Thế mà cụ có 300 mẫu ruộng ở Đông Côi do quan tỉnh gán cho để nộp thuế cụ cho lại dân cả. Cụ đã bỏ tiền ra xây nhà thờ họ và lăng Trạng Bật ở quê gốc Thường Vũ, làm nhà thờ đại tôn và tiểu tôn ở Đại Mão, làm nhà thờ bên ngoại ở Bình Cầu và Ngọc Quan. Với hàng tổng thì lập Hội tư văn, xây Văn chỉ. Với hàng huyện thì chữa cầu Dâu, đền Sĩ Vương ở Lũng Khê, đúc chuông đền Tam Á, chữa văn chỉ ở Dương Quang. Với hàng tỉnh thì lập văn miếu thờ Khổng Tử, đền hội đồng thờ bách thần, xây bi đình, cúng ruộng tế các vị tiên hiền và đại khoa trong tỉnh.

 Ngoài ra còn đứng ra trùng tu nhà tổ chùa Hàm Long, đặt tự điền, lập đền cúng tiên hiền ở làng Thái Bảo, nơi cụ từng về lánh nạn. Đặc biệt, khi đứng ra trùng tu Văn Miếu hàng tỉnh, cụ đã kì công viết cuốn sách Bắc Ninh địa dư chí gồm 4 quyển: Địa lí, chính trị; Kĩ nghệ, phong tục; Đại khoa, danh nhân; Thần tích, hội lễ, danh thắng.

 Đương thời học trò coi thầy Đỗ Trọng Vĩ là một tấm gương mẫu mực như Thái Sơn, Bắc Đẩu để noi theo. Ví như đôi câu đối do Đình nguyên Nguyễn Đình Tuân viết:

 Thuỷ chi Giang Hán tinh chi Đẩu

 Kim duy dung phạm nê duy mô.

(Đạo đầy như nước sông Giang sông Hán, sáng như sao Bắc Đẩu/ Chí lớn như khuôn vàng thước ngọc để học trò noi theo).

 Môn sinh hàng tỉnh có bức trướng dâng thầy có đoạn: Chúng con bấy lâu được tiên sinh dạy dỗ, ngửa trông ơn đức như Bắc Đẩu, nay kính chúc người mọi điều tốt đẹp trong đời ở ẩn.

 Các vị đại thần, đồng liêu cũng luôn coi cụ là bậc huynh trưởng đáng kính. Khi cụ nghỉ trí sĩ (1898) nhiều người có chữ đề tặng. Tại nhà thờ họ hiện còn treo bức cuốn thư lớn đề bài thơ ngũ ngôn 12 câu do các vị Nguyễn Khuyến, Dương Khuê, Bùi Quế, Dương Danh Lập mừng. Thái tử thiếu bảo Dương Khuê còn có riêng câu đối:

 Thời bĩ nhất gia hanh Đỗ thị thư điền vô hạn tuế

Hoạn thành tam kính lão Mão kiều ngâm thảo hữu thanh hương

(Thời thế bĩ nhà vẫn thông, nghiệp họ Đỗ luôn luôn thịnh vượng/ Việc quan tròn, toàn danh thọ, cỏ Mão Kiều mãi mãi thơm hương).

 Một đời thanh bạch, cống hiến, nhà giáo, nhà văn hoá Đỗ Trọng Vĩ để lại cho hậu tế nhiều đức trạch lớn lao. Sau khi cụ mất, dân nhiều nơi thờ cúng cụ. Hiện cụ có tượng ở chùa Hàm Long, có bài vị ở Hiên Ngang, ở Thập tam trại Mạc (Cao Bằng). Tại thành phố Bắc Ninh quê hương có đường phố mang tên Đỗ Trọng Vĩ.

                                 <Theo báo bắc ninh>


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn