|
>> Gặp lại “Con Kiều đẹp nhất nước Nam” | Nguyễn Đình Chú
Gặp
lại “Con Kiều đẹp nhất nước Nam”
NGUYỄN ĐÌNH CHÚ
Thúy Kiều là nhân vật trung tâm của
Truyện Kiều. Có thể nói không sợ sai rằng: trong lịch sử văn học Việt Nam tự cổ
chí kim, không một nhân vật nào được mọi thời đại quan tâm bình phẩm như Thúy
Kiều. Do đó, lịch sử nghiên cứu, bình phẩm Truyện Kiều trong 200 năm qua, phần
lớn cũng là lịch sử nghiên cứu, bình phẩm Thúy Kiều mà cho đến nay, cũng chỉ có
mấy trường hợp nói năng về Thúy Kiều xem ra không bình thường, nếu không muốn
nói là không ổn. Đó là trường hợp cụ Nguyễn Công Trứ đã kết tội Kiều: “Đoạn
trường cho đáng kiếp tà dâm” (Vịnh Thúy Kiều). Sao cụ Trứ nói vậy trong khi
với cụ ngoài 70 tuổi, lên chùa mà còn “gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì”
(Bài ca ngất ngưởng). Cụ mượn Kiều để chê bai Nguyễn Du đã làm quan với
triều Lê lại làm quan với triều Nguyễn như một cụ già ở Tiên Điền giải thích
sao? Đúng là khó hiểu. Đó là trường hợp hai cụ chí sỹ Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc
Kháng vì giận cá mà bằm thớt, giận ông chủ bút Nam Phong mà quay ra rẻ rúng
Truyện Kiều và Kiều, không được ai tán thành. Đó là trường hợp nhà phê bình văn
học Nguyễn Bách Khoa trên con đường tìm kiếm phương pháp mới cho phê bình văn
học, vận dụng học thuyết phân tâm của Freud một cách sống sượng, chấn bệnh cho
là Kiều bị bệnh “ủy hoàng”[1],
để về sau phải tự điều chỉnh, nói khác. Đại khái là có một đôi ý kiến, trái
khoáy về Thúy Kiều như thế. Chứ từ ngày Thúy Kiều có giấy chứng sinh đến nay, ai
mà không thương cảm, không ngợi ca phẩm chất cao đẹp của nàng, với bao nhiêu lời
mỹ diệu. Trong đó có câu nói trên đây mà tôi đã mượn để đưa vào nhan đề bài viết
của mình. Xin thưa, đây không phải là câu nói của một học giả nào, một nhà văn
hay một nhà phê bình nào, mà là của một bà cụ già không hề biết chữ nhưng đã
thuộc lòng Truyện Kiều từ đầu đến cuối, quê Tiên Điền, quê Nguyễn Du, mà tôi
được nghe trong dịp điền dã tại nơi đây vào năm 1962. Ngày đó, mới nghe bà cụ
già này nói, tôi đã hỏi: sao cụ lại gọi là con kiều mà không phải là
nàng kiều, cô kiều, Thúy Kiều…? và cụ nghĩ sao mà lại cho rằng: “con
Kiều đẹp nhất nước Nam?”. Cụ cười và đáp: “nỏ biết chi mô. Chỉ biết bầy
tui quen nói rứa, vì bầy tui thương con Kiều lắm”. Tôi hiểu lời nói của bà
cụ già này là sản phẩm của trực giác, trực cảm, chưa có sự can thiệp của lý
tính, của tư duy phân tích chứng minh. Nhưng với tôi vẫn có hai thứ trực giác.
Trực giác trong hoạt động tư duy thông thường vốn được xem là thấp hơn nhận thức
lý tính. Trực giác khoa học, hay là trực giác chân lý (có thể gọi tắt là chân
cảm) thì giá trị nhận thức dù còn ở trạng thái nhận thức cảm tính nhưng không
thua nhận thức lý tính, thậm chí không ít trường hợp còn cao hơn nhận thức lý
tính mà không dựa trên chân cảm. Chân cảm cũng có hai loại. Loại của những người
có học vấn cao. Loại của những người mà học vấn không có. Trong phê bình văn
chương xưa nay, tôi cho rằng kiểu phê bình như phê bình của Thập Thanh Thị, Mộng
Liên Đường,… đối với Truyện Kiều của Nguyễn Du, hay như của Hoài Thanh với phong
trào Thơ mới, về cơ bản là thuộc loại trực cảm của những người có học vấn cao
nhưng khác những người có học khác ở chỗ họ có chân cảm nghệ thuật. Và nhờ có
chân cảm nghệ thuật mà những lời bình phẩm văn chương của họ trở thành bất tử.
Những đầu óc có trí tuệ cao, học vấn cao sau họ có thể nói thêm nhiều điều mới
mẻ nhưng tầm vóc vẫn không dễ gì vượt qua ý kiến của các bậc tiền bối có chân
cảm nghệ thuật kia. Trở lại câu nói của bà cụ già trên đất Tiên Điền ngày đó,
ngay khi mới nghe cụ nói tôi đã chớm có ý nghĩ, không chừng đây là câu nói
thuộc trường hợp chân cảm thứ hai, nghĩa là của người không được học nhưng lại
cùng với Thúy Kiều có chung cái “phận đàn bà” vốn là muôn nơi muôn thưở
mà Nguyễn Du đã bằng “tấm lòng nghĩ tới muôn đời” (Mộng Liên Đường), cất
lên tiếng kêu đứt ruột xé lòng: “đau đớn thay phận đàn bà”. Ấy là chưa kể
lý do tạo ra thứ chân cảm nghệ thuật này là ở chỗ cụ tuy không biết chữ nhưng
nhờ truyền miệng mà thuộc lòng Truyện Kiều từ đầu chí cuối, bảo đọc lại từ đâu
là đọc đúng từ đấy. Tôi đã nghĩ về câu nói của bà cụ già ở Tiên Điền như thế. Và
hơn bốn chục năm qua, câu nói “con Kiều đẹp nhất nước Nam” này vẫn đeo
bám tôi. Nó đặt ra trong tôi nhiều câu hỏi phải tự giải đáp: người đàn bà đẹp
nhất nước Nam sao không là ai khác như Bà Trưng để Phan Bội Châu trong một bài
viết đã mệnh danh là Mẹ của nước mà lại là “con Kiều”? Nói thế là
được hay không được? Có thể từ một góc nhìn nào đó, mà nói “con Kiều đẹp nhất
nước Nam” không? Với sự sống của con người, sao chỉ tuyệt đối hóa một góc
nhìn mà không tính đến các góc nhìn khác…Cuối cùng thì tôi cứ tưởng như có hồn
ma của bà cụ già trên đất Tiên Điền năm xưa (chắc cụ đã qua đời vì nếu sống đến
nay cụ đã trên 120 tuổi) đã hiện về yêu cầu tôi hãy tìm một góc nhìn nào đó để
nói với mọi người Việt Nam ta, trước hết là người dân Tiên Điền của cụ rằng
“con Kiều đẹp nhất nước Nam”. Và hôm nay tôi xin nói.
Như đã nói trong lịch sử văn học Việt
Nam, cho tới nay, không một nhân vật nào, bất kể nữ hay nam, đã được ưu tiên
bình phẩm như Thúy Kiều. Với Kiều (dĩ nhiên là với Truyện Kiều nói chung) đã là
nơi thử thách, thí nghiệm của hầu hết phương pháp tiếp cận. Có phương pháp tiếp
cận truyền thống. Có phương pháp tiếp cận hiện đại. Có phương pháp tiếp cận
phương Đông cổ truyền. Có phương pháp tiếp cận phương Tây và thế giới hiện đại.
Các phương pháp xã hội học giản đơn hoặc dung tục, phương pháp phân tâm học
Freud và hậu Freud, phương pháp loại hình học, phương pháp cấu trúc luận, phương
pháp ngôn ngữ học phong cách, phương pháp văn học so sánh, phương pháp phê bình
Mác xít, kể cả phương pháp Thiền luận…đều đã có mặt để nhận diện Thúy Kiều nói
riêng, Truyện Kiều nói chung. Trong thực tế, hiệu quả của mỗi phương pháp là
không đồng đều. Nó có cái được và cái chưa được, nhưng cũng đã cung cấp cho
người đọc nhiều bảng giá về Thúy Kiều. Đặc biệt phương pháp tiếp cận đạo đức học
đã cho người đọc biết một hệ thống giá trị nhân phẩm Thúy Kiều thật là phong
phú, đáng trân trọng biết bao. Tuy vậy, gặp lại Thúy Kiều lần này vào những năm
đầu thiên niên kỷ III, thế kỉ XXI, để rõ hơn phẩm giá của nàng, phải có phương
pháp tiếp cận mới. Với tôi, đó là phương pháp tiếp cận triết học từ quan
niệm như nhiều người đã quan niệm: triết học là khoa học của mọi khoa học. Triết
học mới cho phép nhận thức thế giới con người ở độ phong phú nhất, sâu kín nhất,
triệt để nhất, kể cả phức tạp nhất. Thêm nữa là phải có một khái niệm công cụ có
hiệu lực mới, tối ưu hơn. Đó là khái niệm nhân bản có thể không mới trong
âm vị học nhưng phải mới trong ngữ nghĩa học. Nói một cách khác là phải xác định
lại nội hàm của nó. Trong tiếng Pháp có từ Humanisme từng được dịch ra
tiếng Việt là chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa nhân bản. Với ba
thuật ngữ đó của tiếng Việt có thể coi là đồng ngữ nghĩa, cũng có thể phân biệt
trong một chừng mực tùy theo cách xác định nội hàm của từng thuật ngữ. Thuật ngữ
quen dùng nhất là chủ nghĩa nhân đạo mà nội hàm được xác định chủ yếu lại đang
ngừng ở phạm vi đạo đức học. Do đó, trong việc giải mã Thúy Kiều, tuy đã đưa đến
nhiều điều đích đáng nhưng vẫn bỏ sót nhiều giá trị rất quý khác, hoặc có nói
tới nhưng thiếu độ tự giác và thiếu tính hệ thống, do đó cũng là thiếu độ sâu
sắc. Ở đây tôi dùng thuật ngữ nhân bản không có ý coi nó khác thuật ngữ
nhân đạo mà chỉ xác định lại nội hàm khái niệm theo hướng mở rộng để đáp
ứng đòi hỏi của nhận thức triết học. Cụ thể, nhân bản là bao gồm tất cả những
gì làm nên giá trị người chứ không riêng gì những giá trị thuộc phạm vi đạo đức
học.
Bằng phương pháp tiếp cận triết học
và với khái niệm công cụ là nhân bản được xác định mở rộng nội hàm như thế, tôi
càng ngày càng thấy Thúy Kiều đẹp hơn và câu nói “con Kiều đẹp nhất nước
Nam” của bà cụ già quê Tiên Điền năm xưa là một sự chân cảm đáng giá, để hôm
nay, gặp lại Thúy Kiều, tôi sẽ phát ngôn dưới dạng nhận thức lý tính rằng:
nói riêng trong lịch sử văn học Việt Nam tự cổ chí kim, Thúy Kiều của Nguyễn
Du, dẫu chưa phải là tất cả, nhưng vẫn là một hình tượng phụ nữ hội tụ được
nhiều giá trị người (tức giá trị nhân bản) vừa phong phú nhất, vừa có giá
trị muôn đời, không một hình tượng nào địch nổi. Có thể nói thêm: về một mặt
nào đó, Kiều chưa bằng ai đó nhưng về sự hội tụ thì phải dành cho Kiều
“giải nhất chi nhường cho ai”. Sau đây sẽ là sự chứng minh cho cái kết
luận cuối cùng nhưng đã được nêu trước đó.
Thúy Kiều đẹp nhất trước hết là ở một
cơ thể sinh học trời cho: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một
tòa thiên nhiên”. Xin hỏi, trong văn học Việt Nam xưa nay, có nhân vật nữ
nào có được cái cơ thể sinh học trời cho đó bằng Thúy Kiều? Hay là có mà chưa
được ngòi bút thiên tài nào vẽ ra? Chưa thì đành chịu chứ sao. Xin nhớ cho rằng
Thúy Kiều đã trở thành bức tượng phụ nữ khỏa thân độc nhất vô nhị trong văn học
Việt Nam thời trung đại mà Nguyễn Du để lại cho đất nước muôn đời từ một cảm
quan nhân bản cao cả, tuyệt vời, và bằng một thủ pháp nghệ thuật khôn khéo,
“hở mà kín” để đảm bảo sự trong sáng của chính mình và cũng là cho người
tiếp nhận. Nó đẹp tuyệt vời, tuyệt vời như thế, nhưng đố ai vẽ lại được nó. Chỉ
tha hồ suy tưởng và ngây ngất với nó không dứt là đủ. Giáo sư Đặng Thai Mai
chẳng đã coi hai câu Kiều tả cơ thể sinh học này của nàng Kiều là hai câu Kiều
hay nhất của Truyện Kiều đó sao[2].
Người viết bài này cũng từng coi nó là quả bom nguyên tử ném vào thành trì ý
thức hệ phong kiến phương Đông cổ truyền[3].
Có người còn từ bức tranh khỏa thân này mà tìm thêm căn cứ cho ý nghĩ về tính
chất phục hưng của văn học Việt Nam thế kỷ 18 theo hướng của thời đại Phục hưng
của phương Tây thế kỉ 15.
Thúy Kiều cũng đẹp nhất ở nhan sắc
của một người phụ nữ: “Kiều càng sắc sảo mặn mà/ So bề tài sắc lại là phần
hơn/ Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”. Lại
xin được hỏi, xét về sắc đẹp phụ nữ, có ai hơn Thúy Kiều nữa không? Cái đẹp của
Kiều có phải là chuẩn cao nhất trong muôn đời không mặc dù nó chỉ gói gọn trong
bốn chữ “sắc sảo mặn mà”. “Sắc sảo” là cái đẹp phát lộ ra ngoài. Còn
“mặn mà” là vẻ đẹp thuộc chiều sâu của tâm hồn, của nhân cách. Thử nghĩ
“sắc sảo” mà không “mặn mà” thì sẽ là gì ở một người phụ nữ? Không
chừng nó bà con với cái nanh nọc. Còn “sắc sảo” mà lại có cái “mặn mà”
làm nền cho thì còn gì hơn nữa với muôn đời. Đem cái chuẩn sắc đẹp của Thúy
Kiều vào các cuộc thi hoa hậu thời nay thì các ban giám khảo sẽ làm việc thế nào
nhỉ.
Thúy Kiều có tài: “cầm kỳ thi họa
đủ mùi ca ngâm” trong đó nổi trội, được Nguyễn Du đặc tả hơn là tài đàn và
tài thơ, nhất là tài đàn. Đành rằng các thứ gọi là tài của Thúy Kiều so với thời
đại ngày nay thì đã được bổ sung rất nhiều điều mới lạ. Nhưng ở cái thời đại của
Thúy Kiều, hầu như người đời có bao nhiêu thứ tài, nhất là với tầng lớp nho sĩ,
thì Nguyễn Du đã dồn hết cho nàng Kiều của mình. Mà tài là gì? Cũng như cái cơ
thể “trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” kia, cũng
như cái sắc đẹp “một hai nghiêng nước nghiêng thành” kia, cái tài
dù có in dấu ấn trình độ thời đại, vẫn là những giá trị người không nằm
trong bảng giá đạo đức, nhưng hỏi rằng muôn đời, chẳng riêng người Việt Nam ta,
mà cả nhân loại có ai không thèm, không khao khát các thứ đó có phải là của hiếm
trời từng tiết kiệm quá đáng với chúng ta không.
Thúy Kiều đẹp nhất ở tình người. Cùng
đi thanh minh, đâu chỉ một Kiều. Đông lắm: “Ngựa xe như nước áo quần như
nêm”. Ngay trong gia đình cũng còn có Thúy Vân và Vương Quan. Vậy mà có ai
thấy cái nấm đất “sè sè” bên đường kia là gì. Nhưng Thúy Kiều thì thấy.
Thấy một nấm đất “sè sè”, qua đó là một “ngôi mồ vô chủ ai người viếng
thăm” và dưới ngôi mồ vô chủ đó là một kiếp người, một “Đạm Tiên nàng ấy
xưa là ca nhi/…Hại thay chết xuống làm ma không chồng”. Và điều đáng quý
hơn, lớn lao hơn, vĩ đại hơn là từ một nấm đất sè sè, Thúy Kiều thấy ra cái
phận đàn bà qua những làn nước mắt tràn trề, và vút lên một tiếng kêu:
Đau đớn thay phận đàn bà. Tiếng kêu cho cái phận đàn bà, không riêng gì ở
Việt nam cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 mà còn là ở muôn nơi muôn thưở trên trái
đất. Chẳng phải thế mà Mộng Liên Đường từng khen Nguyễn Du “có con mắt trông
thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới muôn đời”. Đã bao lần, tôi cứ từ cái tình
người này của Thúy Kiều mà nghĩ đến người Cách mạng, xem khác nhau, giống nhau
thế nào? Và cái gì là gốc? Tôi đã tự kết luận: đúng là Thúy Kiều còn thiếu cái
tư chất để trở thành một người cách mạng cứu đời. Nhưng trong những nhà cách
mạng hỏi đã có được bao người có cái tình người mênh mông, sâu thẳm như Thúy
Kiều đã có. Làm cách mạng mà chưa có được cái gốc rễ là tình người vững chắc
vào tay mình. Nói điều này, tôi có được thực tế chứng minh như thế nào nhỉ. Điều
cần nói thêm là: cái tình người của Thúy Kiều, dĩ nhiên là thuộc giá trị đạo đức
như từ lâu các sách vở đã nói. Nhưng đã đến lúc, từ cách tiếp cận triết học, cần
nói thêm đó là một phương diện của năng lực người, năng lực sản sinh
những tình người mênh mông sâu thẳm mà chuyện từ một nấm đất sè sè bên
đường không ai để ý nhưng Kiều thì từ đó thấy cả cái phận đàn bà “đau đớn
thay” chỉ là một trường hợp biểu hiện của năng lực người đó.
Tình yêu của Thúy Kiều cũng đẹp nhất
xưa nay. Chúng ta đã biết cuộc tình duyên giữa Thúy Kiều và Kim Trọng diễn ra
như thế nào trong tác phẩm . Ở đây, điều muốn nói là tính chất chuẩn mực cao đẹp
nhất trong muôn đời mà thiết tưởng mọi cô gái ở mọi thời đại hễ bước vào tình
yêu cần biết, cần noi theo. Ấy là trong tình yêu, hẳn là phải say đắm, phải chủ
động, phải mãnh liệt. Không có cái đó, không đáng gọi là tình yêu. Tính toán so
đo, bất cứ ở trạng thái nào, cũng chưa phải là tình yêu đích thực. Nhưng ở đây
có vấn đề đặt ra là cùng với sự rung động mãnh liệt của con tim, liệu có cần đến
vai trò của lý trí nữa không, hay chỉ đơn thuần là chuyện của cảm xúc? Cứ một
chiều cảm xúc để rồi “vội vàng”, “giục giã”, “mau với chứ, vội vàng lên với
chứ”, theo kiểu tình yêu trong Thơ mới về sau, so với trường hợp Thúy Kiều,
xét trong trường kỳ sự sống của gái trai, đàng nào lợi hơn, chuẩn hơn? Nói về
tình yêu, hỏi đã có ai mãnh liệt, say đắm, chủ động hơn Kiều? Thấy Kiều “xăm
xăm băng lối vườn khuya một mình” để đến với chàng Kim gần 200 năm trước
trong điều kiện xã hội phong kiến vốn có chuyện “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”,
nhà phê bình Hoài Thanh chẳng đã rất đỗi ngạc nhiên, sửng sốt kêu lên sao
táo bạo thế. Và trong tình yêu, cũng đã có cặp gái trai nào gắn bó keo sơn cực
độ như Kiều với Kim qua lời thề: “trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”.
Thật là sơn cùng thủy tận. Tạc chữ đồng qua da qua thịt tới tận
xương. Vậy mà khi Kim Trọng “xem trong âu yếm có chiều lả lơi” thì Thúy
Kiều đã tỉnh táo, khéo léo tế nhị, mượn chuyện Thôi Oanh Oanh và Trương Quân
Thụy từ Trung Hoa xưa để “hạ hỏa” cho chàng Kim: “Gieo thoi trước
chẳng giữ dàng/ Để sau nén thẹn cùng chàng bởi ai”. Chúng ta tưởng tượng,
ngày đó, Kiều cứ “hết mình” với chàng Kim theo ngôn ngữ của không ít bạn
gái thời nay thì Kiều sẽ còn là gì với chàng Kim, còn làm sao mà nâng thêm sự
kính nể của chàng Kim như tác phẩm đã nói. Kể cả với chúng ta hôm nay, Kiều còn
là gì đáng nói nữa. Ở đây có hai vấn đề mà xem ra nhiều bạn trẻ hôm nay chưa
nghĩ tới. Một thuộc phạm vi tâm lý học. Trong tình yêu, với chàng trai, khi mà
chưa chiếm lĩnh được bạn gái ở “cái cuối cùng” thì bao giờ cũng thèm
khát, mà vì còn thèm khát thì vẫn phải tự nâng cao mình bằng đủ trạng thái, kể
cả sự quỳ lụy, chiều chuộng bạn tình. Nhưng khi đã chiếm lĩnh được “cái cuối
cùng” ở bạn gái thì khát vọng chiếm lĩnh dễ thường sẽ giảm sút và từ đó hoặc
là đi tìm “của lạ” khác, hoặc là coi thường đối tượng của mình. Câu thơ
Kiều nói với Kim Trọng vừa trích ra ở trên là nói đúng trạng thái tâm lý đó. Chỉ
tiếc thời nay, không ít bạn gái sống theo Kiều “hết mình” để sau đó đã
phải đến bệnh viện phụ sản trong nước mắt của mình và của bố mẹ đã không nhận
được bài học tâm lý đó mà Kiều đã dạy cách đây gần hai trăm năm. Một nữa, thuộc
phạm vi triết học. Triết học, nhất là triết học phương Đông cổ truyền đã phát
hiện ra một quy luật lớn nhất trong muôn đời của sự sống: luật đối trọng và quân
bình. Học thuyết âm dương chính là vậy. Sự sống phải có âm có dương. Âm dương
đối trọng với nhau để có quân bình làm nên sự sống. Sự sống có động lực (action)
thì phải có phản động lực (reaction) và điều cần có là sự quân bình, sự thăng
bằng (équilibire). Vít một cái cây về phía bên này thả ra nó sẽ ngả về phía bên
kia. Và trải qua sự chao đảo bên này bên nọ để đến sự thăng bằng đứng yên thì
cây mới phát triển. Quy luật đối trọng đã được phản ánh trong ngôn ngữ của bất
cứ nước nào bằng hiện tượng từ tương phản: sống – chết, có – không, đen – trắng,
tốt – xấu,…Trong sự sống nói chung, trong tình yêu nói riêng, chỉ chuồi theo cảm
xúc một chiều, xét lâu dài không lợi bằng sự cân bằng giữa lý trí và cảm xúc
mãnh liệt vốn là quy luật của tình yêu bền vững. Trong quan hệ vợ chồng xưa, Nho
giáo dạy cần “tương kính như tân” (kính trọng nhau như kính trọng khách)
là theo quy luật này. Sự kính trọng, một phần rất lớn là dựa trên nhận thức lý
tính. Chữ tình có thêm chữ kính cũng như là có thêm chữ nghĩa (để là tình nghĩa)
thì còn gì bằng. Chuyện các nhà thơ mới chạy theo tình yêu tuyệt đối, thiên hẳn
về cảm xúc cần được hiểu đúng giá trị của nó. Đây là trạng thái có ý nghĩa nhân
bản một khi nó vừa trải qua cuộc đấu tranh giải phóng tình yêu khỏi sự đè nén,
chiết tỏa của lễ giáo phong kiến và nhất thời sau khi vừa được giải phóng, nó có
quyền ngây ngất, hối hả, tận hưởng khoái cảm tình yêu trong tư thế giục giã, vội
vàng. Nhưng xét lâu dài mà cứ chuồi theo cảm xúc, vứt bỏ hoàn toàn vai trò của
lý trí thì hẳn là đã vi phạm luật cân bằng của sự sống. Bài học Thúy Kiều trong
tình yêu, mong được các bạn trẻ hôm nay suy ngẫm. Riêng các bậc phụ huynh, tôi
tin chắc ai cũng tán thành.
Trong Truyện Kiều, lòng hiếu thảo của
Kiều không được miêu tả nhiều do chủ đề của truyện quy định, nhưng vẫn lộ ra quá
đẹp. Kiều vừa bước vào tình yêu với chàng Kim, một tình yêu lý tưởng tuyệt vời
đến thế là cùng, vậy mà gia biến xảy ra, đặt Kiều vào một tình huống thật là gay
cấn: “Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn”. Nhưng Kiều đã đi qua cái thử
thách quyết liệt này một cách quá ư nhẹ nhõm: “Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc
cha”. Có người vận dụng phương pháp phê bình Mácxít, không hiểu đúng truyền
thống đạo lý phương Đông và Việt nam cổ truyền, cho rằng: cách xử sự như thế của
Kiều là do vướng phải chữ hiếu phong kiến cũng như chuyện Kiều từ chối không
buông thả mình cho Kim Trọng trong “chiều lả lơi” là bởi vướng phải chữ
trinh phong kiến. Thật là ấu trĩ, không thấy một phương diện vị tha, cao đẹp
trong nhân cách Thúy Kiều là lòng hiếu thảo với cha mẹ, mà sau đó trong đau khổ
nặng nề, với Kiều vẫn không hề phai nhạt.
Thúy Kiều đã đẹp ở những gì trời cho,
và khi đang có hạnh phúc, nhưng rồi đã rơi vào đau khổ trong mười lăm năm lưu
lạc. Nhìn vào cuộc đời lưu lạc của Thúy Kiều, từ lâu phương pháp tiếp cận đạo
đức học đã nói nhiều đến sự đau khổ với lòng thương cảm lớn và cũng nói nhiều
đến những phẩm chất đạo đức của Kiều trong đau khổ với lòng quý trọng rất mực.
Ngày nay, bằng phương pháp tiếp cận triết học, ta sẽ nói thêm đến cái đẹp trong
đau khổ, đến tính chất bi kịch của nhân vật Thúy Kiều khác với sự tha hóa của
con người trước cảnh ngộ. Đau khổ có khả năng làm tha hóa con người. Chí Phèo là
vậy. Đau khổ làm con người nổi khùng, bướng bỉnh. Mátxlova trong Phục
sinh của Tônxtôi là vậy. Kiều thì khác hẳn. Càng đau khổ càng tỏa sáng nhân
cách. Trao duyên là nỗi đau đầu tiên và là một trong nỗi đau lớn nhất của đời
Kiều. Thế gian trao gì cũng được nhưng ai trao duyên, mà lại là cái duyên ra
duyên với chàng Kim như thế. Vậy mà Kiều đã phải trao. Nhưng điều gì đã diễn ra
ở Kiều trong cảnh trao duyên. Một mặc cảm tội lỗi với chàng Kim: “vì
ta khăng khít cho người dở dang”. “Ôi Kim lang hỡi Kim lang/ Thôi thôi thiếp đã
phụ chàng từ đây”. Độc giả Truyện Kiều bao đời nay có ai nỡ nghĩ cái “dở
dang” của chàng Kim trong tình yêu chỉ vì một Kiều. Hai người cùng khăng
khít với nhau chứ đâu một phía Kiều. Ấy là chưa nói trong buổi đầu, phần đi
trước tạo ra sự khăng khít này xem ra lại thuộc chàng Kim, ít ra là trên phương
diện hành động. Còn nói rằng Kiều “phụ chàng” Kim, thì hẳn là chẳng ai
nghĩ thế. Nhưng sao Kiều cứ tự khoác tội về cho mình đến thế. Đúng là tâm lý này
chỉ có ở những người có bản tính sống cho người khác hơn cho mình. Bình thường
như thế đã quý. Trong đau khổ vẫn có được tâm thế đó thì giá trị lại được đáng
nhân lên bội phần. Kiều vị tha nhưng Kiều không vô ngã, phi ngã. Ngược lại,
trong đau khổ, sau cái mặc cảm tội lỗi, Kiều vẫn biết thương mình đau
khổ, thương đến chết ngất đi được. Ở đây, nhà đạo đức học ghi nhận đạo đức của
Kiều đã đành. Nhà triết học còn phải ghi nhận thêm một điều mà lịch sử tư tưởng
Việt Nam trước Kiều chưa thấy xuất hiện là sự tự ý thức của cá nhân về cá
thể mình. Vấn đề mà phương Tây quen gọi là l’individu (vấn đề cá thể) một yếu tố
rất có ý nghĩa trong triết học nhân bản.[4]
Với Kiều, tiếp theo nỗi đau trao
duyên là nỗi đau làm đĩ. Hậu thế, từ gần hai trăm năm qua, trừ một vài trường
hợp vì lẽ này lẽ khác mà đã nghĩ sai, nói sai về Kiều, còn nữa không ai không
thấy Kiều đã không cưỡng nổi sự đểu cáng của thế gian mà phải làm đĩ về thể xác
chứ tuyệt đối không làm đĩ trong tâm hồn. Sống trong cảnh nhơ nhuốc “ong qua
bướm lại đã thừa xấu xa”, những tình cảm thiêng liêng cao đẹp, tình gia
đình, tình yêu chàng Kim vẫn còn đó và đặc biệt nữa là cái ý thức cá nhân từng
trỗi dậy trong tình yêu, trong nỗi đau trao duyên, vẫn còn đây trong nỗi đau làm
đĩ qua những lời tự thương: “Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa
giữa đường/ Người sao dày gió dạn sương/ Thân sao bướm chán ong chường bấy
thân”. Và nữa, trong cái giật mình: “Giật mình mình lại thương mình xót
xa”. Hình tượng Thúy Kiều đúng là hình tượng bi kịch, khác với hình tượng
tha hóa. Cả đời Kiều là thế. Cuộc đời đau khổ của Kiều là thế. Ở đây, một cuộc
tranh chấp gay gắt giữa cái ác và cái thiện trong đó cái thiện vẫn cố ngoi lên,
không chịu đầu hàng đã diễn ra trên thân phận nàng Kiều. Bi kịch của Thúy Kiều
xét đến cùng là sự phản ánh bi kịch của Việt nam cuối thế kỉ 18, đầu thế kỉ 19.
Một dịp khác, chúng tôi sẽ nói rõ vấn đề này hơn.
Thúy Kiều cũng đẹp trong cách ứng xử
của một người chiến thắng dù chỉ là một quãng đời. Từ chốn lầu xanh, Kiều đã làm
lẽ Thúc Sinh mà Kiều đã thừa biết là “Dấm thanh cũng tội bằng ba lửa nồng”.
Trong hoàn cảnh của Kiều, không thể nào khác bởi dù sao làm lẽ cũng còn đỡ
khổ, đỡ nhục hơn làm đĩ. Nhất là lại gặp được cái anh chàng Thúc dù sau đó hèn
nhát đã văng ra một câu nói chẳng ra gì với Kiều “Thôi thì xa chạy cao bay/
Ái ân ta có ngần này ấy thôi” nhưng lúc đầu là yêu quý Kiều thực sự. Kiều bị
Hoạn Thư đánh ghen một cách hiểm độc như mọi người đã thấy. Vấn đề đặt ra ở đây
là chuyện về sau, Kiều lấy Từ Hải và từ thân phận một con đĩ, một con vợ lẽ bị
vợ cả đánh ghen tàn nhẫn, Kiều trở thành bà chánh án xử tội những kẻ đã gây tội
ác cho mình mà riêng với Hoạn Thư, có vấn đề thế nào là thỏa đáng nhất, thế nào
là tối ưu trong cách xử sự. Chúng ta đều đã biết chuyện người chiến thắng xử
người chiến bại, không chỉ là chuyện của riêng Kiều với Hoạn Thư mà cũng là
chuyện muôn đời vẫn xảy ra trong sự sống con người. Ở đây, Kiều tha Hoạn Thư. Đã
có một cách nghĩ nhất thời tưởng như chân lý mà nay nghĩ lại thấy phi lý. Đó là
ý kiến cho rằng tha Hoạn Thư vì nó là “Con nhà họ Hoạn danh gia”, trong
khi với bọn lưu manh xuất thân bình dân thì trừng trị hết. Đúng là một cách áp
dụng giai cấp luận quá thô thiển, vô hình trung che khuất vẻ đẹp của Thúy Kiều
trong trường hợp ứng xử này. Với chuyện tha hay không tha Hoạn Thư, quả thật
không thể đơn giản trong cách nghĩ. Bởi ở đây không thể không tính đến chuyện
đánh giá con người Hoạn Thư thế nào cho đúng trong quan niệm về con người mà từ
đó là bút pháp của Nguyễn Du trong khi xây dựng nhân vật Hoạn Thư. Nó phức tạp
chứ không quá đơn giản như những ai đó đã từng nghĩ. Đó là chưa kể còn có vấn đề
thái độ, lời lẽ của Hoạn Thư trước phiên tòa một phần đã đẩy Kiều vào thế phải
tha nàng. Những người từng cho Kiều sai quả thật còn quên đi hai sự thật quan
trọng này. Một, Hoạn Thư là vợ Thúc Sinh. Quan hệ Kiều – Hoạn Thư không chỉ là
quan hệ tay đôi mà là tay ba: Kiều – Hoạn Thư – Thúc Sinh. Thử hỏi: trên đời
này, có ai vừa với Thúc Sinh thì “gấm trăm cuốn bạc nghìn cân” tặng cho
chàng (mà tặng là đúng với chữ nghĩa mà Kiều đã nói) rồi ngay sau đó lại phứt
đầu vợ của chàng? Kiều làm thế thì còn gì là Kiều. Hai, quan hệ Kiều và Hoạn Thư
cũng không chỉ là quan hệ một chiều: Hoạn thư là tội nhân. Kiều là nạn nhân. Mà
là quan hệ hai chiều: Hoạn Thư vừa là tội nhân vừa là nạn nhân. Kiều cũng thế,
vừa là nạn nhân vừa là tội nhân. Chính Kiều tự biết điều đó. Cứ đọc lại Truyện
Kiều thì thấy. Thành ra, ở đây, chuyện Kiều tha Hoạn Thư nhưng ít ra cũng đã làm
cho Hoạn Thư một phen thất hồn khiếp vía, mất hết uy thế như thế là đủ lắm rồi.
Chân lý là thực tiễn. Pháp lý chân chính phải dựa trên cơ sở thực tiễn. Không
biết với ai thế nào, chứ với tôi, từ lâu vẫn nghĩ nếu lần đó Kiều cũng giết Hoạn
Thư như giết bọn Ưng Khuyển, Tú Bà…thì Kiều đã chết trong tôi. Bởi tôi đang muốn
nghĩ về cách xử sự của kẻ chiến thắng đối với kẻ chiến bại trong lịch sử thế nào
là phải nhất. Cách xử sự của Kiều càng làm tôi quý nể nàng hơn, càng thấy nàng
đẹp hơn.
Kiều cũng còn đẹp trong sai lầm. Việc
Kiều xui Từ Hải ra hàng để rồi Từ Hải vì nhẹ dạ nghe vợ mà chết dù như chưa chịu
chết: chết đứng, người đời có thể thông cảm với hoàn cảnh quá mệt mỏi trong cuộc
sống của Kiều nhưng vẫn không thể không coi đó là sai lầm lớn trong đời Kiều.
Điều đáng nói, Kiều không phải là thần thánh để tuyệt đối không có sai lầm. Kiều
là con người trần gian với tất cả cái hay và cả cái không hay dễ thường đã có.
Kiều chẳng đã ăn cắp đồ tế khí ở Quan Âm các của nhà Hoạn Thư trong khi bỏ trốn
đó sao. Vấn đề là thái độ của Kiều như thế nào sau khi đã sai lầm xui Từ Hải ra
hàng để chết. Thì Kiều đã vật vã, đã tự hối, và sau khi bị gả cho thổ quan, Kiều
chẳng đã nhảy xuống sông Tiền Đường trầm mình hay sao. Lúc này, ai nỡ chê trách
Kiều nữa không.
Kiều tiếp tục đẹp trong cuộc tái ngộ.
Tái ngộ đối với Kiều, dù là chuyện vớt vát tí chút nhưng cũng là hạnh phúc chứ
gì. Vấn đề đặt ra là nhân cách Thúy Kiều thể hiện thế nào là hay, là đẹp trong
hoàn cảnh này. Thì đây, lúc đầu Kiều không chịu tái hợp, mặc cho Thúy Vân đã sẵn
sàng nhường lại chồng cho chị, mặc cho Kim Trọng đã nói với Kiều những lời quá
tốt để phải mang tiếng với nhà phê bình Hoài Thanh sau này là lạc quan tếu.
Nhưng sau đó, do sức ép của gia đình, của nghĩa cha con, Kiều đã chịu trở về và
có cảnh tái hợp với chàng Kim trong tâm trạng đầy bi kịch: “Người yêu ta xấu
vì người/ Yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau”. “Bâng khuâng duyên mới ngậm ngùi
tình xưa”. Đúng là Kiều đã ứng xử đúng với nhân cách cao đẹp của mình. Không
muốn tái hợp là bởi thương chàng Kim, không muốn chàng phải lấy lại mình, một
người đàn bà “Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa”. Và cũng là vì thương mình
đã thân tàn ma dại. Kiều là người biết tự thương và tự trọng. Cứ tưởng tượng,
trong cảnh tái hợp này, Kiều chỉ biết một bề vui sướng, vồ vập hạnh phúc thì hẳn
là ai có rộng lượng, dễ dãi mấy cũng bớt yêu quý Kiều kể cả với Nguyễn Du nếu
cũng như thế thì tác phẩm của cụ cũng bị hao hụt ít nhiều ở địa vị thiên tài
trong lịch sử văn học Việt Nam.
Bạn đọc kính mến!
Như thế là tôi đã làm xong bài luận
mà đề ra là “Con Kiều đẹp nhất nước Nam” của một bà cụ già quê Tiên Điền,
không biết chữ nhưng thuộc lòng Truyện Kiều từ đầu chí cuối. Ý tứ trong bài luận
của tôi hẳn là có nhiều điều đã quá quen thuộc với bạn đọc. Nhưng bằng một
phương pháp tiếp cận và một khái niệm công cụ ít nhiều có cải tiến, nâng cao,
may gì bài luận này sẽ đưa đến một hệ thống luận cứ trong đó vừa có thành tố cũ
vừa có thành tố mới trong việc nhận diện thêm một lần nữa hình tượng Thúy Kiều
trong khoa Kiều học ở đầu thế kỉ XXI, cũng là đầu thiên niên kỉ III này. Để cho
rõ Thúy Kiều hơn, đáng lẽ luận văn phải vận dụng thêm phương pháp so sánh, mặc
dù trong khi nói “con Kiều đẹp nhất nước Nam” thì tôi cũng đã gặp lại các
nàng Cúc Hoa, Phương Hoa, Dao Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Cô Chí, Cô Liên, Cô Triệu,
Chị Dậu…ngày trước kể cả chị Út Tịch ngày nay. Nhưng khuôn khổ bài viết đã buộc
người viết phải dừng lại. Chỉ mong được sự chỉ giáo thêm./.
[1] Nguyễn Bách Khoa, Nguyễn Du
và Truyện Kiều, Nxb Hàn Thuyên 1942.
[2] Nguyễn Đình Chú, Nhà văn
Đặng Thai Mai chọn câu Kiều hay nhất – In trong Đặng Thai Mai và văn
học – Nxb Nghệ An - 1994
[3] Nguyễn Đình Chú, Nhà văn
Đặng Thai Mai chọn câu Kiều hay nhất – In trong Đặng Thai Mai và văn
học – Nxb Nghệ An - 1994
[4] Nguyễn Đình Chú, Vấn đề ngã
và phi ngã trong văn học Việt Nam thời trung cận đại. Tạp chí văn học số 5 –
1999.
Lên trang viet-studies ngày 31-1-10
|