Trong buổi liên hoan Chèo ở huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, Ông Đỗ Châu đã đặt vấn đề với Đại sứ Italia Alfredo Matacotta Cordella “giúp thêm một dự án viện trợ trước khi ông mãn nhiệm ở Việt Nam”. Ông Đỗ Châu và giáo sư Đình Quang đã trao bản dự án xin viện trợ “Phục hồi và phát triển Chèo ở hai huyện Vũ Thư và Đông Anh”, để Đại sứ chuyển đến Tiến sĩ Luis Durnwalder Chủ tịch tỉnh Bolzano - Italia đặt vấn đề được giúp đỡ …(Và) dự án “Phục hồi Chèo” được chấp nhận.
Năm 2000, câu lạc bộ Chèo làng Dục Tú được thành lập. Đội chèo đã tham gia biểu diễn các “buổi liên hoan nghệ thuật truyền thống không chuyên” ở Hà Nội và các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Đội chèo Dục Tú đã nhận được nhiều huy chương (vàng, bạc, đồng) và bằng khen cho cả đội Chèo và nhiều diễn viên.
Ông Đỗ Châu và giáo sư Hà Văn Cầu đã dựng tích chèo lịch sử “Cô gái họ Đỗ miền đất Dộc” và đội Chèo Dục Tú đã có nhiều buổi biểu diễn thành công vở chèo này.
Nhân ngày Lễ họp mặt lần thứ 13 của dòng họ Đỗ Việt Nam tại thôn Hà Vỹ xã Liên Hà huyện Đông Anh thành phồ Hà Nội, đêm 21 - 3 - 2010 đội Chèo Dục Tú được trình diễn vở chèo lịch sử “Cô gái họ Đỗ miền đất Dộc” để vinh danh một thôn nữ họ Đỗ trong lịch sử 1100 năm về trước với đại diện bà con dòng họ Đỗ Việt Nam.
Vở chèo lịch sử “Cô gái họ Đỗ miền đất Dộc” kể về Vương phi Đỗ Thị Sa của vua Ngô Quyền. Nàng là nghĩa nữ của cụ Đỗ Phúc Thiện tổ đời thứ tư Đỗ tộc Dục Tú. Nàng mồ côi mẹ từ khi còn ẵm ngửa, được hai cụ Đỗ Phúc Thiện đón về nuôi dưỡng. Nàng trưởng thành trong sự yêu thương chăm sóc của bố mẹ nuôi, của dòng họ Đỗ và của làng Dộc. Tình cảm của cô thôn nữ đã dành nhiều cho mảnh đất Dộc quê hương với dòng Cổ Giang hiền hòa, vì nơi ấy, mọi người đã ấp ủ dưỡng dục cô nên Người.
Nàng là người con gái siêng năng, thông minh, có ý thức tự lập, nhưng khiêm nhường nết na, trên kính dưới nhường, thuận hòa với bà con trong họ ngoài làng; Người nàng luôn toát ra “mùi hương quế” thươm tho nên ai ai cũng yêu mến, quý trọng.
Nàng hàng ngày lúc cầy cấy, lúc cửi canh luôn chân luôn tay. Một hôm cắt cỏ cho trâu bên bờ Cổ Giang, Nàng vừa làm vừa hát:
Tay cầm bán nguyệt xênh sang,
Hàng ngàn ngọn cỏ lại hàng tay ta…
Đất này còn lắm cỏ hoang,
Một mình tay thiếp sửa sang cõi bờ…
Lúc ấy Ngô Vương đang tuần du trên dòng Cổ Giang, trong sương mai mát mẻ, Ngô Vương đang suy tư về trận thủy chiến với quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thì bỗng nghe tiếng hát của “ai đó” vô tình cắt ngang dòng suy nghĩ, làm thức tỉnh người anh hùng! Nhà Vua lên Bến Dộc cho người đi tìm xem ai đã cắt ngang dòng suy nghĩ của mình! Đến chầu nhà Vua, là một cô thôn nữ mảnh mai giản dị, có đôi mắt tinh anh và từ người nàng tỏa ra “mùi hương quế” thươm tho! Sau đôi lời đối thoại, Ngô Vương cảm thấy trân trọng cô thôn nữ sắc có nhiều suy nghĩ sáng sủa khác người, bèn đón nàng về cung, phong làm Thứ Phi, giao cho quản lý Nội cung cùng Dương Hoàng hậu. Để tôn vinh địa danh đã sinh ra người con gái tài trí, vua Ngô Quyền đã ban mỹ tự cho đất Dộc là “trại Dục Tú”. Vương phi Đỗ Thị Sa rất cảm phục “trí anh hùng” và “lòng khoan dung” của Ngô Vương. Nàng ra sức quản lý Nội cung, giúp nuôi dậy hai hoàng tử Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Văn và cùng Ngô Vương tham gia chăm xóc dân tình ở đô thành, như dậy dân nghề cửi canh, lập chợ buôn bán (sau này dân làng đặt tên là chợ Sa).
Khi Ngô Vương lâm bệnh Người cho Nàng hồi hương với đất ban trên 100 mẫu ruộng. Đỗ Vương phi đã đem toàn bộ đất Vua ban, cúng vào công điền làng Dục Tú, trong đó có cả ruộng hậu dành cho chùa làng. Dân làng Dục Tú biết ơn Người, suy tôn là Đỗ Đức Bà, xây Miếu Vương phi trên đê cạnh Lăng mộ của Người ở cánh đồng để phụng thờ (ngôi miếu đã bị giặc Pháp phá năm 1950). Trong nhà thờ Đỗ Đức Bà hiện nay (ở thôn Dục Tú 2) vẫn còn đôi câu đối thờ, ca tụng Người:
Diễn phái vân nhưng gia hữu khánh,
Âm thư bồ liễu hồ sinh quan.
Đỗ Như Cự
Đỗ Nguyễn Phước tộc,
Thuộc Đỗ Tộc - Dục Tú.