Thứ sáu, 03/07/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Phó Giáo sư Đỗ Ngọc Quỹ và sách “Văn hoá Trà thế giới và Việt Nam” E-mail
26/04/2010

Nhân dịp Phó Giáo sư Đỗ Ngọc Quỹ được nhà nước tặng giải Bạc cho cuốn sách “Văn hoá Trà thế giới và Việt Nam” Chúng tôi xin chân trọng giới thiệu bảng tóm tắt chân dung một người con họ Đỗ có nhiều đóng góp cho ngành Chè Việt Nam.

  Hoạt động nghiên cứu khoa học

Phó giáo sư Đỗ Ngọc Quỹ- Sinh năm 1923 tại Hà Nội. Tốt nghiệp kỹ sư Canh nông, Đại học Nông Lâm nghiệp Đông Dương. Nguyên Phó Viện trưởng Viện Cây công nghiệp. Cây ăn quả - Bộ Nông nghiệp.Hoạt động:

-         1945-1946: Thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, cán bộ tiền khởi nghĩa, chiến sỹ Trung đoàn Thủ đô Quyết tử, Liên khu 1 Anh hùng - Đồng Xuân, phóng viên Báo Chiến Thắng của Ban Tuyên truyền Trung đoàn, Hà Nội.

-         1958. Thực tập khoa học tại Sở Nghiên cứu Chè Kỳ Môn, An Huy, Trung Quốc.

-         1964-1966. Nghiên cứu viên, Đại học Nông nghiệp Chiết Giang và Viện Nghiên cứu Chè Trung Quốc.

-         1947 -1984. Giám đốc Trại thí nghiệm Chè Phú Hộ.

-         1972-1974. Trưởng đoàn chuyên gia Chè của Bộ NN tại Cuba.-         1977. Ký hợp tác khoa học kỹ thuật với Srilanka về nhập giống chè, trong đó dòng chè 777 được công nhận giống Quốc gia năm 1995.

-         1978. Ký hợp tác khoa học kỹ thuật với Gruzia (Liên Xô cũ) về chế biến trà đen.

-         1985-1987. Phó viện trưởng Viện Cây công nghiệp, Cây ăn quả.

-         1987. Trưởng đoàn Chuyên gia Chè của Bộ Nông nghiệp tại Algiêri.

-         1987. Nghỉ hưu.

-         1988-2008. Thành viên Ban Khoa học Kỹ thuật, Hiệp hội chè Việt Nam – Hà Nội.Giải thưởng:

-         1979. Bằng khen của Uỷ ban KHKT Nhà nước về biên soạn tiêu chuẩn “Yêu cầu kỹ thuật chè đọt tươi” và “Hai tiêu chuẩn giống chè giâm cành PH-1”.

-         1981. Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư.

-         1982. Giải thưởng Hùng Vương.

-         1987. Bằng sáng chế đồng tác giả giống chè cấp Nhà nước PH-1

-         Huy chương vàng Hội chợ Triển lãm Giảng Võ giống chè PH-1.

-         Bằng Tuổi trẻ sáng tạo Matxcơva cho giống chè PH-1 Khoa học văn hoá trà thế giới và Việt NamĐã từ lâu, chè đi vào thơ ca Việt Nam như là một biểu tượng của tâm hồn người Việt, đậm nét bản sắc văn hoá Việt Nam:

Chè ngon, nước chát xin mờiNước non non nước, nghĩa người chớ quên.                                                  (Ca dao Việt Nam).

Việt Nam được coi là cái nôi của cây chè. Phong tục uống chè và sự phát triển của cây chè Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc. Người Việt xưa dù là sống trên núi cao, dưới đồng bằng châu thổ hay bên bờ biển, dù là người sang, kẻ hèn tất thảy đều giữ một tập tục uống trà. Đó là tập tục biểu thị sự trân trọng, lòng hiếu khách. Đằng sau tách trà nóng là biết bao điều được đề cập, thổ lộ từ việc hệ trọng nhất đến bình dân nhất. Tập tục uống trà của người Việt Nam thật đặc biệt ở cách dâng mời và đầy ngụ ý. Dù vui hay buồn, dù nắng hay mưa khách cũng không thể chối từ một chén trà nóng khi chủ nhà trân trọng dâng mời.Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam gắn chặt với cây chè và phong tục uống trà. Uống chè tươi, chè mạn hảo là nét bản sắc văn hoá ẩm thực cảu người Việt từ thuở hồng hoang cho đến tận ngày nay. Lời chào đon đả “Chè ngon nước chát xin mời/ Nước non non nước nghĩa người chớ quên”. Bát nước chè xanh nước chát là biểu tượng tâm hồn của người Việt hiếu khách, thủy chung.

Văn hoá trà, một thành tố của văn hoá ẩm thực, là một lĩnh vực bao la mới mẻ chưa được thảo luận sâu rộng ở Việt Nam. Các Hội thảo chuyên đề và ấn phẩm về Văn hoá chè còn quá ít và sơ sài so với một số nước và vùng lãnh thổ như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc…mặc dầu Việt Nam nằm trong cái nôi của cây chè thế giới. Việt Nam ngày nay giàu về tài liệu kỹ thuật trồng chè nhưng còn thiếu một công trình giới thiệu đầy đủ về khái niệm, nội dung, giá trị văn hoá trong giao tiếp lễ nghi, giáo dục nhân cách và sáng tác nghệ thuật của tục uống trà.

Cùng với trồng chè, tục uống trà của người Việt đã tạo nên một nét bản sắc văn hoá “Hồn trà Việt” lưu truyền trong lịch sử đất nước. Nét đẹp ẩm thực uống trà được thể hiện qua những vần thơ, những câu ca dao, tục ngữ, những điệu hò dân gian trữ tình và những áng thi văn bất hủ của các danh nhân văn hóa Việt Nam.

Thế nhưng bước vào thời kỳ hội nhập, người tiêu dùng trà Việt Nam đã bắt đầu làm quen với nhiều cách uống trà mới được “Tây hoá” như trà đá, trà túi lipton, trà hoà tan, trà vị hoa quả Dilmah, trà dược liệu…Nhiều quán trà “Thế hệ trẻ”, “Thế hệ mới” mọc lên như nấm. Phòng trà Nhật Bản mở cửa đã trình diễn phong cách Trà đạo- chado trong khuôn viên trà thất chashitsu “Hoà-Kính- Thanh- Tịnh” của các samourai thời trị vì Nhật hoàng Meiji.Tuy vậy phong tục uống trà cổ Việt Nam vẫn còn đâu đó tại “Lư trà quán”, “Hiên trà Trường Xuân”, uống trà tàu đậm nét truyền thống cha ông. Tập quán uống chè tươi đã bị lãng quên lâu nay đã lại được phục hồi ở Hà Nội, vùng dậy ở các vùng nông thôn Nghệ An, các công sở, các quán vỉa hè, tỉnh lỵ và ngay tại các gia đình, khu tập thể cơ quan nấu chè tươi luân phiên. Sự hiện diện này như đang thách thức làm đối trọng với làn sóng “Tây hoá” uống trà túi của lớp thanh niên trẻ thời hội nhập.Thực tiễn tập quán ẩm thực trong đời sống cong người Việt Nam hiện nay cho thấy, nền văn hoá trà Việt Nam cũng đang diễn biến theo xu hướng “Đa cực và đa văn minh”.

Có nên hối tiếc quá khứ vàng son của các danh nhân văn hoá uống trà thời xưa trong một không gian mở, như là một biểu tượng của một nhân sinh quan, một nghệ thuật sống, một cái nhìn bao quát về cuộc đời trong chén trà Phương Đông? Nên chăng uống trà như Nguyễn Trãi-một danh nhân văn hoá thế giới, đã coi uống trà như một giá trị thư giãn và thẩm mỹ, một cách giao tiếp, ứng xử xã hội, làm phong phú đời sống tâm hồn con người trần tục, trút hết phiền muộn trong bài thơ “Loạn hậu đáo Côn Sơn”. Hay uống trà như Lê Thánh Tông của Hội Tao Đàn, ngâm thơ uống trà với bạn tri kỷ trong thi văn “Lại vịnh cảnh mùa hè”; hoặc uống trà như Phạm Đình Hổ- một nhà nho uyên thâm, cảm nhận thú vui uống trà như hoà mình vào thiên nhiên hữu tình, gửi gắm tâm tình vào cây cỏ trong bút ký “Vũ Trung tuỳ bút”; hay như Nguyễn Tuân một nhà văn lãng tử mà sành điệu về thưởng thức trà Tàu, một thú vui thư giãn và thanh lịch của kẻ sỹ Thăng Long với “Chén trà sương– Vang bóng một thời”.Có nên chào đón luồng gió mới của nền văn minh hiện đại với phong cách uống trà “Uống nhanh, uống liền” của lớp thế hệ trẻ với nhịp sống hối hả, khẩn trương ở thời đại thị trường là chiến trường?

Do đó cuốn sách “Khoa học văn hoá Trà thế giới và Việt Nam” sẽ trình bày những thông tin về giá trị vật thể và phi vật thể của cây chè trong một hệ thống gắn bó hữu cơ, nhằm giới thiệu với bạn đọc một cái nhìn đầy đủ hơn về văn hoá trà Việt Nam. 

a.      Khái luận văn hoá trà thế giới và Việt Nam.

b.     Lịch sử phát triển chè thế giới và Việt Nam.

c.     Khoa học sản xuất chè thế giới và Việt Nam.

d.     Phong tục tập quán uống trà thế giới và Việt Nam.

e.      Giá trị bảo vệ sức khoẻ của trà.

f.       Giá trị tinh thần (phi vật thể) của trà.Ngày nay, dọc theo chiều dài của đất nước từ miền núi phía Bắc, miền Trung vào cao nguyên Lâm Đồng cây chè trải dài một màu xanh ngút ngàn, biểu tượng của một loài cây có sức sống mãnh liệt trên vùng đồi đất dốc. Chè là cây đa dụng, cây công nghiệp, cây rừng và còn ý nghĩa cả về dược liệu. Trồng chè đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xoá đói, giảm nghèo, bảo vệ đất và môi trường sinh thái.Nhằm giúp bà con họ Đỗ Việt Nam một cái nhìn đầy đủ hơn về văn hoá trà Việt Nam, xin chân trọng giới thiệu cuốn sách “Khoa học văn hoá Trà thế giới và Việt Nam” của Phó Giáo sư Đỗ Ngọc Quỹ và TS. Đỗ Thị Ngọc Oanh. Mục tiêu của cuốn sách là tìm hiểu lịch sử phát triển văn hoá Trà thế giới và Việt Nam.

Tác giả là nhà khoa học họ Đỗ có kiến thức uyên thâm, dày kinh nghiệm và đầy nhiệt huyết với trên 60 năm gắn bó với cây chè, 37 năm (1947-1984) là Giám đốc Trại Thí Nghiệm chè Phú Hộ. Để hoàn thành cuốn sách, tác giả đã dành trọn 5 năm (2002-2006) tổng kết thực tiễn, tham khảo nhiều tư liệu khác nhau cùng nhiều chuyến đi khảo sát thực tế về chè ở cả 3 miền, Bắc, Trung, Nam của đất nước. Cuốn sách được xuất bản vào dịp sinh nhật lần thứ 85 của tác giả- Là món quá quý giá mà tác giả dành cho những người làm chè và uống trà. Cuốn sách “Khoa học văn hoá Trà thế giới và Việt Nam” được xuất bản, sẽ cung cấp những thông tin tư liệu bổ ích và góp phần đưa vị thế của cây chè Việt Nam lên một tầm cao mới.Cuốn sách trên của PGS Đỗ Ngọc Quỹ và con gái là TS Đỗ Ngọc Oanh đã được tặng giải Bạc về sách năm 2009                              

Đỗ Dương sưu tầm và biên soạn

 

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn