Trong đề bài kỳ thi Đình năm 1442, chính vua Lê Thái Tông yêu cầu các sĩ tử
"hãy đem hết hiểu biết của mình trả lời" cho mình về việc cầu hiền
tài, chiêu hiền đãi sĩ. Thí sinh Nguyễn Trực đã nói với nhà vua trong bài
thi của mình rằng: "Bệ hạ muốn quân tử tiến, tiểu nhân lùi thì không gì bằng gần
gũi bề tôi khí tiết, sử dụng kẻ sỹ chính trực để họ đưa vua đi đúng đường, đặt
vua vào chỗ không lầm lỗi".
Các ngươi hãy đem hết hiểu biết của mình trả lời, trẫm sẽ đích thân xem
xét
Nhà vua đã ra một đề bài như thế này: "Đức Thái tổ Cao hoàng đế ta lấy
được thiên hạ, nhiều phen xuống chiếu cầu hiền mà không có một ai trúng tuyển.
Trẫm từ khi lên ngôi tới nay, gắng sức trị nước, thế mà việc chọn nhân tài vẫn
mịt mở thăm thẳm. Sao người quân từ khó tìm, kẻ tiểu nhân khó biết như vậy? Các
ngươi hãy đem hết hiểu biết của mình trả lời, trẫm sẽ đích thân xem xét".
Xem thế đủ biết lòng vua chân thành là vậy!
Thí sinh Nguyễn Trực trả lời rằng: "Bệ hạ muốn quân tử tiến, tiểu nhân lùi
thì không gì bằng gần gũi bề tôi khí tiết, sử dụng kẻ sỹ chính trực để họ đưa
vua đi đúng đường và đặt vua vào chỗ không lầm lỗi". Rồi lại nói thẳng với
nhà vua rằng: "Vua có nhân, không ai không có nhân; Vua có nghĩa, không ai
không có nghĩa; Vua chân chính, không ai không chân chính. Trước hết, vua chân
chính rồi cả nước sẽ bình yên". Lời một thí sinh nói với vua như thế! Rất
thẳng thắn!
Thí sinh Nguyễn Trực cho rằng đạo của người làm vua là tự mình chọn người
tài. Song ông cũng cho rằng: "tiến cử tài năng cho đất nước, lại là chức
trách của bậc đại thần".
Ông cho rằng, nếu các đại thần mà "ngầm nuôi mưu gian ghen ghét hiền tài cất
nhắc bè lũ. Bản thân chúng đã chả ra gì, thì làm sao tiến cử được nhân tài!
...Người xưa có câu: Ai tiến cử nhân tài, sẽ được ban thưởng mức cao nhất. Kẻ
nào che lấp tài năng, phải bị trị tội nặng".
"Thần cho rằng: lừa dối bề trên, hãm hại hiền tài, lấy bọn theo mình làm
giỏi, lấy bọn múa mép làm tài, mua quan bán tước, hối lộ ngang nhiên, những việc
như vậy, đâu phải vì nước tiến cử nhân tài, vì vua lựa chọn bề tôi? Do vậy mà
người quân tử khó tìm, kẻ tiểu nhân khó biết".
"Ôi, quân tử và tiểu nhân hoàn toàn trái ngược nhau. Đạo quân tử mạnh thì đạo
tiểu nhân suy; đạo quân tử suy thì đạo tiểu nhân mạnh. Như âm với dương, như
ngày với đêm không thể cùng song song vận hành; như nước với lửa, như thơm với
thối, không thể cùng chứa trong một rọ. Cho nên bậc bề trên, mỗi lúc dùng người
phải bình tĩnh, phải chuyển tâm, phải thử thách, phải thận trọng mới được".
"...Hãy nhớ ba điều Trí, Nhân, Dũng là đạt đức của thiên hạ. Không có Trí thì
không thể hiểu người; không có Nhân thì không thể chọn người; không có Dũng thì
không thể dùng người. Lấy Trí hiểu người thì có thể hiểu biết rõ ràng và đầy đủ
tài năng của họ. Lấy Nhân chọn người thì không bỏ người tài khi họ cùng khốn và
chọn được người hết lòng trung thành. Lấy Dũng dùng người thì tin dùng không
nghi ngờ và chuyên tâm nghe hết mọi điều. Nếu có cả ba điều Trí, Nhân, Dũng này
thì lẽ dùng, bỏ rõ ràng, lòng yêu, ghét chính đáng. Đó chính là ý nghĩa của câu
'Chỉ có người nhân mới biết yêu người, biết ghét người' vậy".
Lời phân tích của Nguyễn Trực thật trong sáng, thẳng thắn và bộc trực. Giữa
thời quân chủ, trong một bài văn của sĩ tử đi thi, (nếu đỗ thì sẽ bắt đầu bước
lên hoạn lộ) mà có cơ hội để bộc trực như vậy, đủ biết không khí chiêu hiền đãi
sĩ, chuộng lời nói thẳng của người xưa như thế nào!
Kỳ thi ấy (1442), vua lấy đỗ Nguyễn Trực (1417 - 1473) là Trạng nguyên. Và
ông chính là vị Trạng nguyên đầu tiên của triều Lê. Tấm bia ghi về khoa thi này
là tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu được dựng năm 1484.
Nguyễn Trực cũng không phụ tấm lòng cầu hiền của nhà vua. Năm 1444 ông dẫn
đầu đoàn sứ bộ sang sứ nhà Minh. Giữa triều đình phương Bắc, Nguyễn Trực đã hoàn
thành sứ mệnh bằng kiến thức uyên bác, tài ứng đối nhạy bén, sắc sảo, sự vững
vàng cứng cỏi và trên hết là ý thức tự hào dân tộc rất chính đáng của mình,
khiến vua tôi nhà Minh phải kiêng nể. Năm 1457 viên sứ thần nhà Minh là Hoàng
Gián sang ta. Lê Nhân Tông đã triệu Nguyễn Trực về triều để tiếp sứ. Hoàng Gián
vặn vẹo đủ điều, nhưng điều nào cũng được Nguyễn Trực giảng giải phân minh,
khiến cho vị "thiên sứ" nọ phải thán phục thốt lên "Quốc hữu nhân tài"(nước Việt
có nhân tài).
Tài năng và phẩm chất của Nguyễn Trực được Lê Thánh Tông đánh giá cao, cử ông
làm Quốc tử giám tế tửu (như chức Hiệu trưởng một đại học hoàng gia). Nguyễn
Trực tham gia hiệu đính, phê duyệt bộ "bách khoa toàn thư" của thời ấy: Thiên
Nam dư hạ tập. Theo lệnh của Lê Thánh Tông bộ Thiên Nam dư hạ tập
biên soạn xong, phải mang đến tận nhà để Nguyễn Trực phê duyệt mới được xuất
bản.
Biết rõ dĩ vãng, rộng nhìn tương lai
Trên văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3
(1442) - khoa mà Nguyễn Trực được đề ở vị trí đầu tiên, Hàn lâm viện Thừa chỉ
Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung viết: "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.
Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước
yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc
giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc
cần kíp".
Bài văn còn có đoạn: "Việc dựng tấm đá này có lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó
làm răn, người thiện lấy đó làm gắng, biết rõ dĩ vãng, rộng nhìn tương lai, vừa
là để rèn giũa danh tiết của kẻ sĩ, vừa là để củng cố mệnh mạch nước nhà".
Như vậy, thông điệp mà người xưa gửi rất rõ ràng. Xác định nhân tài là
"nguyên khí" của quốc gia, có quan hệ đến sự hưng vong của thế nước. Vì vậy các
bậc thánh đế minh vương luôn luôn coi việc bồi dưỡng, kén chọn nhân tài, vun
trồng nguyên khí quốc gia là việc cần thiết, thường xuyên liên tục và đặt trong
tình trạng cấp bách.
Việc chọn người tài, đưa vào các vị trí quan trọng của đất nước là quyết định
của nguyên thủ quốc gia. Nhưng việc tiến cử tài năng cho đất nước, lại là
chức trách của những người đang nắm những trọng trách trong các cơ quan quyền
lực giúp việc cho nguyên thủ. Điều này cho thấy, trách nhiệm của những người này
là tìm kiếm người có năng lực để gánh vác việc nước là vô cùng quan trọng. Nếu
nguyên thủ quốc gia mà thành thực cầu hiền, muốn kén chọn nhân tài, lại được các
quan chức thuộc quyền tiến cử bằng sự minh bạch, sáng suốt, ngay thẳng và không
vụ lợi thì người tài sẽ xuất hiện, đem hết tâm sức cùng đưa thế nước đi lên. Nói
như Nguyễn Trực cách đây 568 năm thì những bậc hiền tài, kẻ sỹ khí tiết đó sẽ
"đưa vua đi đúng đường và đặt vua vào chỗ không lầm lỗi".
Nếu trong việc tiến cử người vào các chức vụ quan trọng mà có chuyện mua
quan bán chức, chạy chức chạy quyền, kéo bè kéo cánh, để bọn sâu mọt chui vào
hàng ngũ quan chức thì sẽ làm thế nước nguy nan, khiến nguyên thủ đi lạc đường
và rơi vào lầm lỗi.
Khi có được hiền tài, thế nước sẽ mạnh. Ngược lại, khi kẻ tiểu nhân và dốt
nát được trao những trọng trách thì thế nước suy yếu vì những hành xử của họ. Và
khi ấy nhân tài sẽ rũ áo mà đi, quay lưng với thời cuộc, cho dù họ đã từng có
những nỗ lực đóng góp trước đó. Họ đi ẩn cư nơi rừng sâu núi thẳm, lánh tục tìm
nhàn, ngâm thơ vịnh nguyệt, bạn cùng hạc nội mây ngàn. Họ ẩn cư ngay giữa chốn
phồn hoa đô hội, bằng sự im lặng, "giả điếc, giả câm" của mình. Sự lãng phí
không biết nói sao cho hết!
Hiểu xưa để biết nay, như lời người xưa "biết rõ dĩ vãng, rộng nhìn
tương lai", thiết nghĩ chúng ta nên phải tổ chức lại việc cầu hiền tài trong
thời đại mới. Hiện nay, mặc dù đã có nhiều tỉnh thành quyết tâm thực hiện việc
chiêu hiền đãi sĩ, nhưng việc này chưa thực sự có hiệu quả. Chưa có ai thống kê
được các tỉnh thành đó đã đón được bao nhiêu nhân tài về làm việc. Quan niệm về
nhân tài hiện nay cũng chưa được đưa ra một cách thống nhất. Người ta vẫn coi
các sinh viên tốt nghiệp xuất sắc ở các Đại học là những nhân tài, cần được trải
thảm đỏ đón về, mà không hiểu rằng việc có kết quả xuất sắc ấy, nhiều khi chỉ là
"học gạo". Lại cũng có những bạn trẻ tài năng than rằng, thảm đỏ có trải ra
thật, nhưng bước lên đó lại đầy chông gai.
Để chiêu dụ nhân tài, các tỉnh thường đưa ra các tiêu chí về học hàm học vị,
nhưng thực chất của các học hàm học vị đó ra sao thì không ai kiểm chứng được.
Để chiêu dụ nhân tài, các tỉnh thường đưa ra các ưu đãi như: cấp cho các căn hộ,
trả lương ở mức cao, bổ nhiệm cho chức vụ... Nhưng những người tài cao vẫn chỉ
về rồi lại đi. Họ vấp phải một môi trường làm việc cũ kỹ, không phát huy được
trí lực của bản thân họ. Họ không muốn bị biến thành một công chức "sáng vác ô
đi, tối vác về". Họ lại ra đi! Vì nhà cửa, tiền lương, chức vụ không phải là cái
mà người tài bận tâm trước nhất!
Sao người tài khó biết và khó dùng vậy?