Thứ tư, 14/10/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
CÙNG NGHIÊN CỨU VÀ KHAI THÁC GIÁ TRỊ CỦA GIA PHẢ E-mail
18/10/2010

CÙNG NGHIÊN CỨU VÀ KHAI THÁC GIÁ TRỊ CỦA GIA PHẢ

 
NGHIÊN CỨU VÀ KHAI THÁC GIÁ TRỊ CỦA GIA PHẢ,
KINH NGHIỆM PHẢ ĐIỆP HỌC TRUNG QUỐC

Phan Văn Các

Gia phả là hình thái thư tịch đặc biệt dùng hình thức biểu phả để ghi chép sự phồn diễn thế hệ và sự tích các nhân vật quan trọng của một gia tộc lấy quan hệ huyết thống làm sợi dây xuyên suốt. Gia phả có giá trị nhiều mặt cần được nghiên cứu khai thác. Trung Quốc là nước sớm có gia phả, số lượng gia phả hiện có nhiều nhất và có truyền thống Phả điệp học phát triển, hơn nữa bởi lẽ các gia phả Việt Nam trước đây đều viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, về phương diện văn hóa và nhất là văn tự có rất nhiều điểm giống với gia phả Trung Quốc, việc học hỏi tham khảo kinh nghiệm gia phả học Trung Quốc là rất bổ ích. Dưới đây xin giới thiệu một số kinh nghiệm Phả điệp học Trung Quốc trên phương diện nghiên cứu và khai thác các giá trị của gia phả.

Về thời điểm cụ thể ra đời gia phả ở Trung Quốc, từ xưa đến nay có nhiều thuyết khác nhau, nhưng quy nạp lại trong giới học thuật Trung Hoa từng có 4 quan điểm chính:

- Quan điểm cho rằng sự khởi đầu từ thời Tống;

- Quan điểm khởi đầu từ thời Chiến Quốc - Tần Hán;

- Quan điểm khởi đầu từ thời Chu;

- Quan điểm khởi đầu từ thời Ân Thương.

Đến nay được biết, mảnh giáp cốt kí hiệu Khố (庫) 1506, được định niên đại thời Vũ Đinh (武 丁), ông vua thứ 23 thuộc thế hệ thứ 10 của nhà Thương, cách nay khoảng trên 3200 năm, trong đó ghi chép được 13 tên người, 11 người có quan hệ cha con và 2 người có quan hệ anh em, nghĩa là chép thế hệ 11 đời, nếu tính bình quân mỗi đời 30 năm thì lịch sử gia tộc này có thể đẩy sớm thêm 3 thế kỉ nữa. Đây là tư liệu gia phả sớm nhất của Trung Quốc và cũng là của thế giới.

Từ khi ra đời đến nay, gia phả ở Trung Quốc đã có các tên gọi khác nhau như: phả, lục, kí, chí, bạ, thặng, điệp, sử, hệ, tập, khảo, biên, truyện...; kết hợp với các chữ chỉ dòng họ như gia, tộc, tông, thế, thế hệ, thế gia, tính, chi, bản chi, thị tộc, thống tông, tông thế... (giới phả lục Trung Quốc đã thống kê có trên 80 loại). Riêng từ gia phả thì sớm nhất thấy Vương thị gia phả (王 氏 家 譜) dẫn trong Thế thuyết tân ngữ chú (世 說 新 語 註) của Lưu Hiếu Tiêu (劉 孝 標) thời Lục Triều, còn trong Văn tuyển chú (文 選 註) của Lí Thiện (李 善) đầu đời Đường thì ngoài Vương thị gia phả còn dẫn Nhan thị gia phả; ngoài ra Tùy thư Kinh tịch chí (隨 書 經 籍 誌) có chép Dương thị gia phả trạng cập mộ kí (楊 氏 家 譜 狀 及 墓 記); các bộ gia phả này đều do người thời Nam Bắc triều soạn, như vậy từ gia phả đã ra đời trước thời Nam Bắc triều là điều chắc chắn.

Khi đặt tên cho gia phả, thì trước hai chữ gia phả, soạn giả thường ghi tính thị (tên họ), địa danh, quân vọng (nơi phát tích dòng họ), đường hiệu (tên từ đường, để phân biệt các gia tộc hoặc các chi phái) và kỉ tu (biên soạn hoặc sửa chữa lần thứ mấy), thí dụ: Phần Hồ Liễu thị đệ tam thứ toản tu gia phả (汾 湖 柳 氏 第 三 次 纂 修 家 譜), Hoàng Sơn Vương thị Phụ đức đường chi phả (黃 山 王 氏 輔 德 堂 支 譜).

Riêng gia phả nhà vua thì thường gọi là Ngọc điệp (玉 牒). Gia phả các hoàng thất thì có từ xưa bởi vì xã hội cổ đại Trung Hoa xây dựng trên nền tảng chế độ tông pháp phong kiến quân chủ thế tập, các triều đại thường đặt hẳn cơ quan chuyên môn ghi chép biên soạn, hình thành nên hệ thống gia phả hoàng thất đời này sang đời khác, ngày nay gọi là hệ thống ngọc điệp. Nhưng từ ngọc điệp được bắt đầu sử dụng từ bao giờ thì ngày nay không thể khảo chứng được, chỉ biết là không muộn hơn năm thứ 2 Đại Hòa (大 和) thời Đường Văn Tông (828).

Tất cả ngọc điệp từ đời Đường về trước đều đã mất, đến nay chỉ còn phả điệp hoàng tộc từ đời Tống.

Trừ phả điệp hoàng tộc ra, thì trong dân gian, gia phả họ Khổng là có dung lượng lớn nhất, ghi chép thế hệ gia tộc dài lâu nhất, đáng tin cậy nhất và ảnh hưởng rộng nhất, mang tên Khổng Tử thế gia phả (孔 子 世 家 譜). Khổng Phủ biên soạn sửa chữa, gia phả đã in ra nhiều lần, song nay chỉ còn 4 loại: bản in niên hiệu Thiên Khải (天 啟) đời Minh, bản in niên hiệu Khang Hi, Càn Long đời Thanh, và bản in thời Dân quốc. Bản thời Dân quốc gồm 4 tập, 108 quyển và một quyển thủ là 109, hơn 9.900 trang, đóng thành 154 sách.

Con số gia phả hiện lưu giữ ở Trung Quốc chưa ai thống kê được. Các nhà Phả học ở Trung Quốc chỉ đưa ra được một con số ước lượng khoảng 30.000, hiện đang biên soạn Trung Quốc gia phả tổng mục (中 國 家 譜 總 目), sách này biên soạn xong sẽ cho một con số chuẩn xác tin cậy. Đài Loan khu tộc phả mục lục cho biết ở Đài Loan có hơn 106.000. Ngoài ra, các thư viện ở Mĩ lưu giữ khoảng 20.000 loại tư liệu gia phả Trung Quốc, Nhật Bản khoảng hơn 1.500 bộ.

*
* *

Trong lịch sử Trung Quốc, trải qua các thời kì, giá trị của gia phả có sự thay đổi trên các mặt xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa. Từ đời Thương - Chu đến đời Hán, tác dụng chủ yếu của gia phả là thờ cúng tổ tiên, chứng minh huyết thống, phân biệt thế hệ, đồng thời cũng là chỗ dựa để kế thừa quyền lực và tài sản. Sau xã hội môn phiệt Ngụy Tấn - Nam Bắc triều, tầm quan trọng của gia phả về chính trị - xã hội tăng lên rõ rệt: tác dụng chủ yếu của gia phả là chứng minh môn đệ, làm quan cũng như dựng vợ gả chồng và giao tiếp xã hội đều dựa vào gia phả, gia phả trở thành một công cụ chính trị. Đời Tùy - Đường, chọn kẻ sĩ bằng khoa cử, nên tác dụng chính trị của gia phả trong việc tuyển quan lại giảm đi, còn tác dụng về phương diện hôn nhân thì tăng lên. Từ đời Tống về sau, tuyển sĩ và hôn giá đều không coi trọng môn đệ nữa, viết gia phả trở thành việc riêng nội bộ của gia tộc, cốt để ghi chép lịch sử gia tộc, giữ cho huyết thống được thuần khiết, tôn tổ, kính tông, đoàn kết hòa mục trong các thành viên gia tộc, giáo dục con cháu, đề cao địa vị và danh tiếng của gia tộc mình trong xã hội; chức năng giáo dục của gia phả tăng cường rõ rệt, trong gia phả xuất hiện nhiều các thiện cử ân vinh của tổ tiên, các lời gia huấn, gia châm ít nhiều có tác dụng truyền bá luân lí phong kiến, ổn định trật tự xã hội. Vì thế việc biên soạn gia phả từ đời Đường về trước cũng như từ đời Tống về sau đều được nhà nước phong kiến ủng hộ và khuyến khích. Ngoài ra thời Minh - Thanh, chế độ khoa cử đều quy định chỉ tiêu số lượng lấy đỗ cho các địa phương, nhiều học trò đi thi đã mạo đổi quê quán, chuyển đến những vùng văn hóa kém phát triển để dự thi, mong dễ đỗ hơn, tựa như nay ta thi vào đại học học sinh chuyển vùng trong hồ sơ để được điểm ưu tiên, vì thế thường xảy ra tố tụng. Khi đó gia phả có tác dụng chứng minh. Đời Thanh, kì nhân tập tước hay ra làm quan đều phải xuất trình gia phả làm bằng cứ, đó có lẽ là tác dụng chính trị cuối cùng của gia phả.

Ngày nay, với tư cách là một loại tư liệu lịch sử, gia phả có tác dụng quan trọng giúp chúng ta hiểu biết quá khứ. Giá trị của gia phả đại thể biểu hiện trên các mặt sau:

1. Gia phả có giá trị tư liệu quyền uy đối với việc nghiên cứu các nhân vật cổ đại. Tra cứu khảo sát các nhân vật thời xưa, chủ yếu là thông qua truyện kí trong chính sử, các văn tập, bút kí và phương chí cổ. Với một số nhân vật không nổi tiếng lắm, thì các loại tư liệu trên ít khi đề cập, thảng hoặc có nhắc đến thì cũng chỉ đôi nét đơn sơ, ngay cả một số nhân vật nổi tiếng, có khi cũng rơi vào tình trạng tương tự. Nhưng gia phả thì khác, đặc điểm của gia phả là ghi chép các nhân vật của gia tộc, trong các bản thế hệ lục, dưới mỗi tên người đều ghi rõ thuộc chi nào, nhánh nào, danh, tự, hiệu, hàng đệ (con thứ mấy), ngày giờ tháng năm sinh - mất, hưởng thọ, vợ cả vợ lẽ, con trai con gái, mộ táng ở đâu, đặc biệt là về công danh, quan tước, ghi chép khá tỉ mỉ, về văn chương còn thu thập cả hành trạng hữu quan, truyện ký, mộ chí v.v..., các nhân vật trọng yếu của gia tộc còn chép cả tiểu sử và tác phẩm, có khi cả thơ văn đối trướng mừng thi đỗ, mừng bổ dụng và nhất là phúng viếng tang ma. Những tư liệu này dĩ nhiên có thể có phần khoa trương, đề cao, nhưng đại đa số là có thể tin cậy được. Qua gia phả, chúng ta chẳng những có thể biết về bản thân nhân vật mình đang nghiên cứu mà còn có thể biết cả thế thứ của họ, cả tổ tiên và con cháu họ. Dùng tư liệu gia phả có thể đính chính được nhiều điểm sai sót nghi vấn trong tiểu sử nhân vật. Nhờ nghiên cứu Ngũ khánh đường trùng tu Liêu Đông Tào thị tông phả (五 慶 堂 重 修 遼 東 曹 氏 宗 譜), người ta khảo chứng được quê tổ của Tào Tuyết Cần tác giả Hồng lâu mộng là Liêu Dương, sau dời đến ở Thẩm Dương, không phải như trước kia thường nói là ở Phong Nhuận, Hà Bắc; tổ tiên của Tào Tuyết Cần vốn là võ quan triều Minh, trong chiến tranh đã đầu hàng người Mãn, ban đầu lệ thuộc vào Hán quân kì, sau mới đổi về Mãn Châu chính bạch kì (滿 洲 正 白 旗). Sử dụng tư liệu gia phả đã giải quyết được một nghi vấn lớn trong Hồng học là vấn đề quê tổ và kì tịch (旗 籍)(1) của Tào Tuyết Cần. Hay như qua Lâm Lí tông phả (林 李 宗 譜) ở Tuyền Châu (泉 州), người ta khảo chứng được rằng nhà tư tưởng Lí Chí (李 贄) đời Minh, vốn họ Lâm, tên là Tải Chí (載 贄), bố và ông nội đều theo đạo Ixlam, bản thân ông cũng có huyết thống Ả-rập hoặc Ba Tư. Giáp sơn Bắc loan Tôn thị tông phả (甲 山 北 灣 孫 氏 宗 譜) mới phát hiện gần đây ở Tô Châu có giá trị tham khảo quan trọng làm rõ thêm thân thế, tính danh của Tôn Tử và quan hệ của ông với Tôn Tẫn. Giới nghiên cứu trước đây thường cho rằng Tôn Tử tên là Vũ, tự là Trường Khanh (長 卿), là cháu 8 đời của Điền Hoàn (田 完). Nhưng phả chép Tôn Tử tên là Khai (開), tự là Tử Cương (子 疆), là cháu 6 đời của Điền Hoàn, phả còn chép Tôn Tẫn là chắt chứ không phải cháu của Tôn Tử như giới sử học trước đây vẫn nói, và ghi rõ Khai (Tôn Tử) sinh ra Minh (明), Minh sinh ra Khiên ). Mặc dù thời đại (岍), Khiên sinh ra Tẫn (臏 hoạt động của Tôn Tử với Tôn Tẫn cách nhau hơn 140 năm, trước đây có học giả đã ngờ rằng nếu chỉ cách 3 đời thì dường như chưa đủ, nhưng khổ nỗi không có chứng cứ, nay phát hiện được bản phả này, vấn đề hoàn toàn được giải quyết. Những năm gần đây, nhiều gia phả lần lượt được phát hiện như Hồng thị tông phả (洪 氏 宗 譜), Tân thị tông phả (辛 氏 宗 譜), Tử Dương Chu thị Kiến An phả (紫 陽 朱 氏 建 安 譜), Nhạc thị tông phả (岳 氏 宗 譜), Dương gia tông phả (楊 家 宗 譜), Tống thị tông phả (宋 氏 宗 譜), Phú Điền Văn thị tộc phả (富 田 文 氏 族 譜), Triệu thị gia phả (趙 氏 家 譜), Nhuận Châu Bao thị gia phả (潤 州 包 氏 家 譜)... đã cung cấp cho giới nghiên cứu nhiều tư liệu quý báu cho phép hiểu thêm tuổi thanh thiếu niên của Hồng Tú Toàn, Tân Khí Tật, Nhạc Phi, Dương Gia Tướng, Tống Ưng Tinh, Văn Thiên Tường, Triệu Khuông Dậu, Bao Chửng... cùng với sự tích của hậu duệ các nhân vật lịch sử ấy.

2. Gia phả cũng là sử liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử dân số. Thế thứ trong gia phả là bộ phận cơ bản nhất của gia phả, trong đó ghi tỉ mỉ việc sinh tử của người họ, chi tiết và tin cậy hơn tài liệu quan phương. Qua gia phả, có thể tìm hiểu số lượng nhân khẩu, kết cấu nhân khẩu, tốc độ và nguyên nhân tăng giảm dân số, cấu thành xã hội nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, trình độ văn hóa, tuổi thọ v.v.. của nhân khẩu trong gia tộc qua các thời kì.

3. Gia phả cung cấp tư liệu cơ bản nhất để nghiên cứu chế độ tông tộc thời phong kiến. Chế độ tông tộc là bộ phận tổ thành quan trọng của quan hệ tông pháp phong kiến. Gia phả giới thiệu và thể hiện chế độ tông tộc phong kiến rất toàn diện. Gia phả ghi chép về sự cấu thành tông tộc, về tổ chức, quy mô, kết cấu, chức năng, phạm vi quản lí của từ đường và quan hệ của từ đường với quan phủ..., về loại hình, số lượng, sự hình thành, phương thức kinh doanh và cách sử dụng thu nhập của các tài sản thờ tự, về quy mô, phạm vi thu nhận học sinh, nguồn vốn, phương thức duy trì và nội dung khen thưởng của trường học gia tộc v.v... Các điều tộc ước, tông quy, gia huấn, gia châm ghi trong gia phả là dùng đạo đức luân lí phong kiến để ràng buộc quan niệm tư tưởng của người trong gia tộc. Quy chế của từ đường cùng gia lễ đã quy định các chuẩn mực hành vi cùng lễ nghi tế tự, tang hôn, kể cả việc không cho làm một số nghề nào đó, cho đến trình tự lập tự, thừa tự và những biện pháp trừng phạt khi vi phạm... Thần quyền, tộc quyền và phu quyền phong kiến đều thể hiện rõ trong gia phả, thể hiện tập trung hơn ở các loại hình tư liệu khác rất nhiều.

4. Gia phả cũng cung cấp những tư liệu “bàn nhất” cho việc nghiên cứu vấn đề di dân. Trong lịch sử Trung Quốc, luôn luôn diễn ra sự lưu động dân số ở các triều đại. Bất kì một cuốn gia phả nào cũng ghi chép nguồn gốc và tình hình di chuyển của dòng họ, cụ tổ của gia tộc mình từ đâu chuyển đến, nguyên nhân dời chỗ ở, đi qua những đâu rồi đến định cư ở đất này v.v. đều có trình bày rõ. Ngoài ra, sau khi gia tộc định cư ở đây, lại có chi nhánh nào dời đi, do nguyên nhân gì, số lượng người đi, dời chỗ ở đến đâu, đời sống của di dân, quan hệ giữa di dân với người bản địa... đều có ghi chép. Nếu tiến hành phân tích tư liệu di dân trong hàng loạt gia phả, thì kết luận rút ra đại thể sẽ khớp với kết luận của một số nhà khoa học tự nhiên nghiên cứu lịch sử phân bố tính thị Trung Quốc qua các triều đại, từ góc độ di truyền học. Ngoài ra qua việc khảo sát tình hình phát triển của một số dân tộc ở những thời đại khác nhau và địa vực khác nhau, cũng có thể thấy được những vấn đề này. Thí dụ như qua khảo sát gia phả dân tộc Xa (畬) ở Chiết Giang, có thể hiểu được rằng dân tộc Dao ngày nay cư trú ở Chiết Giang đều mới thiên di đến từ Minh sơ về sau, trước Minh sơ ở Chiết Giang không có dân tộc Xa. Hay như nghiên cứu tư liệu di dân trong gia phả ở các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, An Huy, người ta phát hiện được tầm quan trọng của huyện Hồng Động tỉnh Sơn Tây trong cuộc di dân đại quy mô những năm đầu triều Minh.

5. Gia phả trở thành nhân tố quan trọng liên hệ đoàn kết người Hoa hải ngoại, tăng cường sức ngưng tụ dân tộc. Từ thập kỉ 60 thế kỉ XX đến nay, trên thế giới đã có cả một cao trào “tìm về cội nguồn”. Từ giữa và cuối thập kỉ 70, người da đen quốc tịch Mĩ A.likx Ha-li qua việc tham quan thực địa và tìm đọc gia phả, viết nên tác phẩm Cội nguồn nổi tiếng thế giới, thì cơn sốt tìm về cội nguồn càng dâng cao. Dân tộc Trung Hoa từ xưa vốn có truyền thống văn hóa tôn tổ kính tông, nhớ về nguồn cội. Hoa kiều ở trên thế giới hiện có trên 55 triệu, phân bố ở hơn 100 quốc gia và khu vực khắp năm châu, mặc dù phần lớn đã nhập quốc tịch nước sở tại, song vẫn giữ nguyên bản sắc văn hóa dân tộc. Trong ngót một vạn xã đoàn người Hoa trên thế giới, thì các tổ chức có tính chất huyết thống mà tiêu biểu là hội dòng họ, Hội đồng hương, chiếm tỉ lệ rất cao và gia phả đang phát huy tác dụng tích cực.

6. Gia phả trở thành công cụ đắc lực xúc tiến công cuộc hòa bình thống nhất hai bờ, chống lại chủ trương đòi tách Đài Loan độc lập, phục vụ tích cực cho chính sách “một nước Trung Quốc” của Đảng và Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Ngoài ra, gia phả còn cung cấp nhiều tư liệu tin cậy cho việc nghiên cứu các lĩnh vực lịch sử địa phương, kết cấu và chức năng của gia đình, cơ cấu xã hội, địa vị của phụ nữ, ưu sinh học, dân tục học, kinh tế sử, lịch sử khoa học kĩ thuật, lịch sử tôn giáo, quan hệ với nước ngoài v.v.

Trên thực tế, người xưa cũng đã sớm nhận thức được giá trị của gia phả và đã đánh giá rất cao. Bùi Tùng Chi (裴 松 之) thời Nam Bắc triều chú Tam quốc chí (三 國 志), Lưu Hiếu Tiêu chú Thế thuyết tân ngữ, Ngụy Thu (魏 收) viết Ngụy thư (魏 書), Âu Dương Tu đời Tống soạn Tân Đường thư (新 唐 書) đều đã từng sử dụng nhiều tư liệu gia phả. Trịnh Tiều (鄭 樵) đời Tống, Chương Học Thành (章 學 誠) đời Thanh, Dịch Hi Ngô (易 熙 吳) thời cận đại... đều đã giới thiệu và bình giá về giá trị của gia phả.

Tuy nhiên, do chỗ gia phả đều do tư nhân biên soạn, nên có những điều ghi chép không thực, nói quá sự thật, nhất là trên các phương diện công danh, thành tích trị nhậm... của tiền nhân, thậm chí có cả những điều giả thác, cố tình bịa đặt tô vẽ, mà khi sử dụng, ta không thể nhắm mắt nghe theo, trái lại phải có sự giám định, sàng lọc cẩn thận.

Tình trạng bịa đặt ngụy tạo trong gia phả vốn có nguồn gốc từ xưa và đã kéo dài trong lịch sử. Là một tư liệu gia tộc, gia phả tất nhiên có ý thức tự ngã rất mạnh. Đồng thời, gia phả còn có tác dụng tự khoe, đề cao lòng tự hào gia tộc, nhằm thúc đẩy đoàn kết nội bộ gia tộc và đề cao vai trò địa vị của gia tộc trong xã hội. Trong xã hội phong kiến Trung Quốc, văn hóa Nho gia là dòng chính trong ý thức xã hội, nhiều gia tộc trong khi biên soạn gia phả đã có ý thức hoặc không có ý thức nhào nặn hình tượng tổ tiên theo lễ giáo Nho gia, nên đã “ẩn ác dương thiện”, đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại. Mặc dù rất nhiều gia phả ở lời nói đầu thường có khẩu hiệu thật hay ho, những là “chép theo sự thực”, “tín dĩ truyền tín, nghi dĩ truyền nghi”, những là “bất hư thực, bất ẩn ác” v.v.; nhưng rất ít gia phả làm đúng được như vậy mà ở đại đa số gia phả vẫn tồn tại các căn bệnh như nhận nhằng tổ tiên, mạo nhận danh tộc, “thấy người sang bắt quàng làm họ”, bịa đặt thế hệ, ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị sử liệu của gia phả.

Tình trạng bịa đặt ngụy tạo trong gia phả Trung Quốc đã diễn ra từ thời Tề, Lương Nam triều, nổi bật là việc Tề Cao Đế Tiêu Đạo Thành (簫 道 成) được ghi rõ là cháu 24 đời của Tiêu Hà (簫 何) khai quốc công thần đời Tây Hán, chép trong Nam Tề thư, Cao Đế kỉ (南 齊 書 高, 帝 紀), và Lương Vũ Đế Tiêu Diễn (簫 衍) là cháu họ Tiêu Đạo Thành tức là cháu 25 đời của Tiêu Hà ghi trong Lương thư, Vũ Đế kỉ (梁 書, 武 帝 紀).

Khảo sát tình trạng bịa đặt ngụy tạo trong gia phả qua các triều đại, giới phả học Trung Quốc đã quy nạp thành 6 dạng biểu hiện dưới đây:

1. Nhận nhằng tổ tiên: Khi truy tìm nguồn gốc dòng họ, thường có tình trạng “thấy người sang bắt quàng làm họ”, vin rồng dựa phượng lấy đế vương khanh tướng, quý trụ danh thần thời Thượng cổ hoặc thời Hán Đường làm thủy tổ hoặc viễn tổ của họ mình. Tình trạng đó có từ xa xưa, trở thành căn bệnh phổ biến trong gia phả, đời Tống đời Nguyên về sau lại càng rõ rệt, đến thời Minh Thanh đạt tới đỉnh cao, ngay cả các vị phả học đại sư như Âu Dương Tu (歐 陽 修), Tô Tuân (蘇 詢) cũng không thoát khỏi. Trong gia phả của mình Âu Dương Tu đẩy viễn tổ lên đến Hạ Vũ (夏 武), ở giữa kinh qua Việt Vương Câu Tiễn; Tô Tuân thì lấy Chuyên Húc (顓 頊) làm thủy tổ, và Chúc Dung (祝 融) cũng là tiên nhân trong họ. Đến thời Minh Thanh, lại càng phổ biến, thông thường hễ là gia phả họ Lâm, thì ắt đẩy lên đến Tỉ Can (比 干), họ Trần thì phải đến Trần Vũ Đế Trần Bá Tiên (陳 霸 先) thời Nam triều, họ Lí thì phải đến Lí Nhĩ (李 耳) và Lí Thế Dân (李 世 民), họ Hồng đến Cung Công (共 工), họ Trương đến Trương Lương (張 良), họ Viên đến Viên Thiệu (袁 紹), đến Hậu Tắc (后 稷 ), họ Ngô đến Thái Bá (太 伯), họ Khương đến Khương Thượng (姜 尚), họ Tiền (錢) đến tận Thiếu Điển (少 典), Hoàng Đế (皇 帝)... Có gia tộc còn lôi cả nhân vật thần thoại vào làm thủy tổ của mình.

2. Nêu địa vọng lung tung, nhằm đề cao địa vị của gia tộc. Tệ này trong gia phả xem ra còn bừa bãi hơn cả tệ nhận nhằng tổ tiên. Phàm gia phả họ Vương thì ắt xuất xứ từ Lang Nha (琅 玡), họ Lí ắt từ Lũng Tây (隴 西) đến, họ Trương ắt từ Thanh Hà (清 河), họ Lưu ắt từ Bành Thành (彭 城), họ Châu (周) từ Nhữ Nam (汝 南), họ Cố từ Vũ Lăng, họ Chu (朱) từ Bái Quốc (沛 國), họ Chung (鍾) từ Dĩnh Xuyên (潁 川)... thành một thông lệ.

3. Liệt kê rất dài các thế hệ, song không đáng tin cậy. Các gia phả từ Minh - Thanh lại đây, thường chép viễn tổ hoặc thủy tổ đến tận thời viễn cổ, rồi ghi các thế hệ hết sức rõ ràng, mấy mươi đời, thậm chí đến trăm đời, đâu ra đấy rất rành rọt. Nhưng thực tế thì sao? Thật ra nếu là gia phả viết lần đầu thì trong phạm vi mười đời còn có thể tin được chứ mười đời trở lên thì phải tồn nghi; nếu là gia phả viết tiếp, thời gian gián cách không dài, thì phần liên tục có thể tin, còn gián cách dài thì hãy tồn nghi. Khi viết gia phả mới, tư liệu phần nhiều là do hồi ức, hoặc chép ở “sử” ở “chí” ra, thì ở những chỗ ghép nối dễ có sự gán ghép, ít độ tin cậy. Ngay cả Khổng Tử thế gia phả vẫn được coi là chép các thế hệ rành rọt đáng tin cậy nhất Trung Quốc thì ở một số đời vẫn còn có chỗ phải bàn.

4. Trong gia phả một số dòng họ di cư đến nơi mới về sau phát đạt lên, thì phần nhiều người ta “sáng tác” rất nhiều ở vị tổ di cư này.

5. Vẽ vời, bịa đặt công danh, quan tước cho tiền nhân. Khốn nỗi tác giả của những gia phả này sống ở đời sau, lại thiếu kiến thức lịch sử nên công danh, quan tước bịa ra không khớp với triều đại ấy.

6. Viết cái đẹp tốt, không viết cái xấu xa. Hầu như tất cả các gia phả đều có khoản “bất thư” (不 書) tức là những tiêu chuẩn không cho phép “nhập phả”, phần nhiều là quy định những trường hợp “bất đạo, loạn luân, loạn tông, tuyệt nghĩa, nhục tiên” (不 道, 亂 倫, 亂 宗, 絕 義, 辱 先) thì không được vào gia phả. Thế là trong các gia phả đều chỉ có người tốt, chính nhân quân tử, hầu như không có người xấu. Có nghĩa là hễ người xấu, thì dù đích thực là tổ tiên mình, cũng không thừa nhận. Thí dụ như họ Dương (楊) ở Việt Châu (越 州) vốn là hậu duệ của Tùy Dạng Đế (隨 煬 帝), nhưng vì ông này ô danh quá nên gia phả không thừa nhận. Nên mới có tình trạng là những nhân vật đại gian đại ác trong lịch sử như Lí Lâm Phủ (李 林 甫), Tần Cối (秦 檜) thì trong gia phả không tìm thấy, dường như họ chẳng có tổ tiên cha mẹ, cũng không có con cháu gì, chẳng biết ở đâu mọc ra.

7. Để đạt mục đích lòe đời, người ta nhờ đến những nhân sĩ tiếng tăm cùng họ hoặc khác họ làm sang cho gia phả của mình. Chẳng hạn như đưa vào gia phả những lời vua ban như thánh chỉ, sắc thư, thượng dụ, tứ phi (thơ vua ban) và những văn thơ nhà nước như cáo thị, công văn; rồi mời các danh thần thạc nho đề tựa viết bạt cho gia phả, mời các nhân vật nổi tiếng trong họ đề tựa, viết tán từ, tụng phi... Nhưng những người viết phả dân gian phần nhiều không phải học giả, thiếu tri thức chuyên môn và thường thức lịch sử, nên trong những điều bịa đặt lộ ra những sai sót sơ đẳng về kiến thức niên đại, quan chức, địa danh diên cách..., xem biết ngay là bịa đặt, gắn ghép.

Bởi thế, gia phả tuy là một nguồn sử liệu quý giá không gì thay thế được, nhưng cũng chứa đựng không ít thông tin giả, người sử dụng phải hết sức thận trọng, phải biết đối chiếu với các nguồn tư liệu khác để sàng lọc, lựa chọn.

P.V.C

CHÚ THÍCH

(1) Kì tịch: Tổ chức quân đội và biên chế hộ khẩu của tộc Mãn đời Thanh, gọi theo hiệu cờ có 8 kì. Về sau đặt thêm Mông Cổ bát kì và Hán quân bát kì.

*Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 1 (56) - 2003, trang 14-21.

* Tác giả Phan Văn Các (sinh năm 1936) là Giáo sư, nguyên Viện trưởng,

nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

*   *   *

GIA PHẢ VÀ ĐẠO LÝ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN

GIA PHẢ - NGUỒN CẢM XÚC DẠT DÀO VỀ ĐẠO LÝ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN

Mai Xuân Hải

Hai tiếng "Gia phả" đối với người Việt Nam ta xưa nay thật vô cùng thiêng liêng. Bởi gia phả chính là bộ sử sống của gia đình, của dòng họ, mà ở đó tổ tiên, ông bà các đời của chúng ta, những người liên tục truyền nối từ thuở vô thủy tới nay đã mang đến cho ta mạng sống, cho ta được làm người đã hiện lên rõ rệt...

Xưa kia, bất kể dòng họ lớn nhỏ nào cũng thường có gia phả. Dòng họ nhỏ đôi khi chỉ vào mươi trang ghi chép vắn tắt họ, tên, ngày giỗ, phần mộ của các cụ. Dòng họ lớn thì gia phả viết rất quy củ, có phép tắc, có đủ lời tựa, lời dẫn, phàm lệ, đủ cả phần chính phả, ngoại phả. Ngoài việc ghi chép họ tên, thụy hiệu, ngày sinh ngày mất, phần mộ, chức tước, hành trạng, công lao lúc sống của các cụ, gia phả còn ghi chép cả thơ văn, bi ký, hoành phi, câu đối, văn khấn, nghi thức cúng giỗ, điều lệ dòng họ, về việc xây dựng từ đường, ruộng họ, cùng các đđạo sắc phong, chế cáo ban tặng của nhà vua. Phần nhiều là gia phả viết tay, đôi khi những dòng họ có điều kiện kinh tế và có ý thức cao, gia phả còn được khắc in.

Nhưng dù dài ngắn mặc lòng, gia phả vẫn là những bộ sử riêng của gia đình, dòng họ viết về những bậc tiền bối với tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, “phục bản phản thủy”, “thận chung truy viễn”, nên nó thường tràn đầy một tình cảm thiêng liêng, một trách nhiệm, một bổn phận cao cả đối với các lớp tiền bối và cả các lớp con cháu sau này, một thái độ thành kính, biết ơn công lao sinh thành, gây dựng, vun đắp của tổ tiên, nên có sức lôi cuốn, có sức cảm hóa mạnh mẽ các lớp cháu con.

Đọc gia phả chúng ta sẽ thu hoạch được rất nhiều tri thức bổ ích. Chúng ta sẽ hiểu sâu hơn về các mặt sinh hoạt xã hội, phong tục tập quán, những sự kiện lịch sử mà nhiều khi không được ghi chép trong chính sử của triều đình. Rồi còn văn chương, thơ phú, triết lý... Quả thật có những cuốn giả thực sự có tính chất “bách khoa toàn thư” về dòng họ, về xã hội quá khứ. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào khía cạnh nhận thức của gia phả, chúng tôi chỉ xin trích dịch một vài đoạn văn, một vài mẩu chuyện trong một số cuốn gia phả, nói lên những suy nghĩ và đạo đức, đạo lý làm người của ông cha, thân thiết gần gũi với chúng ta, mà ngày nay, những nét đẹp đạo đức ấy, đã từ lâu được người Việt Nam ta chấp nhận, trở thành đạo đức truyền thống, tâm linh dân tộc, rất giàu cảm xúc uống nước nhớ nguồn, được các gia đình của mọi dòng họ Việt Nam vẫn thường dạy dỗ con cháu, đặng góp vào việc đánh thức những cảm xúc hướng thiện trong chúng ta trong cuộc hành trình trở về cội nguồn đang diễn ra sôi nổi hôm nay.

Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu từ những trang của lời tựa, mà ở đây chúng ta thường bắt gặp những suy nghĩ dung dị về đạo đức làm con, đạo làm người, về mục đích của việc biên soạn gia phả.

Bài tựa gia phả họ Tăng ở thôn Nghiêm Thắng, huyện Đô Lương, Nghệ An viết: “Cây có nghìn cành vạn lá là nhờ có gốc. Nước có nghìn suối vạn dòng là nhờ có nguồn. Con người ta họ hàng con cháu đông đảo, ai mà không bắt nguồn từ tổ tiên?”.

Bài tựa gia phả họ Nguyễn Nhân ở làng Xuân Dương, huyện Thanh Chương, Nghệ An viết: “Có người hỏi tôi viết gia phả để làm gì? Tôi đáp: Đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, con người nhờ đó được sinh ra. Vì thế con người ta sinh ra phải kính trọng cha mẹ, tôn kính tổ tông. Lúc bắt đầu là từ một gốc, sau chia ra nhiều nhánh, rồi nối tiếp nghìn vạn con cháu. Bởi lẽ đó, nếu không chép phả thì con cháu các đời sau làm sao mà biết được?”.

Bài tựa gia phả họ Đỗ thôn Đại Định, xã Cao Đài huyện Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú viết: “Phép làm gia phả là chi chép nguồn gốc tổ tông, như cành có gốc, như nước có nguồn, có vật nào mà lại không như vậy? Làm con cháu nếu không biết họ hàng tông tộc bắt nguồn từ đâu, khi đối đáp với người ngoài thì dụng dạ rỗng tuếch, chẳng biết nói gì, hoặc nói về tổ tiên thì ú ớ cái lưỡi. Kế thừa máu thịt của ông cha mà như thế, phỏng có hổ thẹn không?”.

Bài tựa gia phả họ Mai ở Phương Liệt viết: “Kính nghĩ các cụ tổ tiên ta phúc đức đầy đặn, ăn ở hiếu hạnh. Cụ thủy tổ ta sinh ra ở đất Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay), nảy nở điềm lành ở vùng sông Nhĩ (sông Hồng). Trải qua các đời thứ hai, thứ ba, thứ tưu, thứ năm nối nhau kế thừa, có người văn học tiếng tăm, có người đạo đức ngời sáng. Được như vậy là do tổ tiên gây dựng từ lâu đời. Làm con cháu mà không biết ăn ở đầy đặn, không biết báo đáp công ơn tổ tiên thì còn ra quái gì nữa! Kinh Thi nói: “Tưởng nhớ tổ tiên, tu dưỡng đạo đức, một niềm tu dưỡng, giữ lấy nếp nhà” làm cho sự nghiệp của tiền nhân được vẻ vang, làm gì có con đường nào khác nữa đâu. Những người khéo đọc gia phả hãy nên suy ngẫm về điều đó...”.

Ngày nay chúng ta đọc bất cứ bài tựa nào của bất cứ một cuốn gia phả nào của người Việt Nam chúng ta, chúng ta đều được đọc những dòng chữ, những suy nghĩ về ông bà tổ tiên thành kính, trân trọng như thế.

Đấy là ở bài tựa. Còn về nội dung thì sao? Trong rất nhiều cuốn gia phả ngoài phần chép tên tuổi, ngày giỗ, phần mộ, còn có những dòng miêu tả hành trạng, tính cách, điều ăn nết ở rất sống động, đọc lên, chúng ta có cảm giác như các cụ “canh tường như tại”(1), đang sống cùng cháu con, đang dạy dỗ cháu con, chính bằng cuộc sống của mình.

Gia phả họ Bùi xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Đông (nay là Hà Tây) viết về cụ tổ đời thứ 10 là cụ Ôn Mục Đoan Khiết công như sau: “Tính cụ nghiêm thẳng, trị nhà cần kiệm có phép, thờ phụng cha mẹ rất hiếu thảo, giữ mình kính cẩn, đãi người chân thành, đối với hàng xóm thì hòa mục lễ nghĩa, tương thân tương ái, không ai chê trách gì được...”. Khi viết về cụ bà, gia phả chép càng cảm động hơn: “... Cụ bà hiệu là Từ Tường nhụ nhân, tính nết cần kiệm tần tảo, rất mực thương yêu chồng con. Thuở còn hàn vi, mỗi khi đi chợ về, cụ đều giành ra vài đồng tiền kẽm để mua giấy bút cho con đi học. Cụ Khắc Trai công chăm chỉ học hành, ngày sau thành đạt, phần nhiều là nhờ công lao dậy dỗ của cụ vậy. Sau này cụ Khắc Trai công làm quan ở viện Hàn lâm, thường xót xa về nỗi mẹ già đã qua đời, không được phụng dưỡng. Đến ngày giỗ mẹ, cụ xúc động làm một bài thơ rằng:

“Quan cao nơi viện Hàn lâm,

Cảm thương nhớ mẹ, ướt đầm lệ sa.

Giờ đây tuổi hạc đã già,

Ba mươi năm trước, xót xa nhớ người.

Công danh vinh hiển ở đời,

Cũng là ơn mẹ, khôn nguôi báo đền..

Ấy nhờ phúc ấm tổ tiên,

Quế lan tươi tốt, vững bền dài xa..”

Gia phả họ Lê ỡ xã Phù Xá, huyện Kim Hoa, phù Đa Phúc, tỉnh Bắc Ninh, là một vọng tộc lớn ở Bắc Ninh xưa, gia phả viết rất kỹ càng đầy đủ. Đặc biệt những dòng viết về công tích đạo đức của tiền nhân đọc lên rất xúc động. Như đoạn viết về cụ tổ đời thứ 8 rằng: “... Khi cụ làm xã trưởng, cụ xử sự công bằng, được dân xã tin yêu... Vả lại, bấy giờ gặp lúc lắm gian nan, dân tình đói kém, phàm gặp người nào có tai ách, cụ đều rủ lòng chu cấp, mọi người đều được hưởng ơn trạch. Sau khi cụ mất, hai xã tưởng nhớ công đức, đều xin được thờ cụ ở trong đình... Kìa như họ nhà ta đối với dân chúng hai xã Đông Đoài có ơn trạch rất lớn, là bắt đầu từ cụ tằng tổ Nghiêm Quang hầu vậy. Cụ tổ ta nối theo, xây dựng nhà tế đường, sửa sang hương lệ, sắp đặt kỷ cương, đời đời tuân theo, cũng là một việc làm to tát cho dân. Nghìn năm hương hỏa vẫn còn trường tồn nơi miếu xã, mà nhà ta nối đời hưng thịnh. Đó thực là nhờ các cụ liệt tổ nhà ta để lại ơn trạch đến vô cùng vậy”.

Cũng trong cuốn gia phả họ Lê ở Phù Xá này, đọc đến đoạn văn bia, đọc bài minh họa sau đây, con cháu nào mà không tự hào chính đáng về tiên tổ: “Kìa như cụ chỉ là người ở nơi thôn dã cuộc đời gặp nhiều cảnh ngộ vất vả gian nan, mà sừng sững hơn hẳn bọn lưu tục, ưa văn học, thích bố thí, lấy đạo làm việc thiện để lại cho con cháu, làm vinh hiển cho gia tộc, xóm làng. Khi mất lại được vua ban cáo mệnh phong tặng, vẻ vang cả nơi chín suối. Hai xã Đông Đoài chịu ơn và tưởng nhớ công đức cụ, đã phối thờ cụ ở trong đình, để mọi người tới đó kỷ niệm cụ không bao giờ mất vậy.

Khám thờ bốn thước, khu mộ tốt tươi, dựng tấm bia to, khắc sâu công đức.

Có bài minh ca ngợi rằng:

“Núi Sóc Sơn cao vút,

Sông Nguyệt Bảo trong xanh.

Nhà họ Lê ta ấy

Hàm chứa bao tinh anh.

Cụ đội ơn tiên tổ,

Gia sản giầu thêm nhanh.

Một đời làm việc thiện,

Con nối nghiệp cha anh.

Mọc lên cây ngọc quý,

Được triều đình tôn vinh.

Hiển hách tên tuổi ấy.

Còn mãi với trời xanh.

Bia đá này ghi khắc,

Không mờ mòn đức âm.

Núi Thái Sơn sừng sững,

Ngưỡng mộ mãi ngàn năm”.

Gia phả (bản khắc in) họ Đỗ ở làng Chương Dương, huyện Thường Tín tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây), những tấm gương sáng ngời về đạo đức của các cụ còn được viết xen kẽ thành những mẩu chuyện nho nhỏ, rất giầu ý nghĩa giáo dục và giá trị văn chương, đọc lên con cháu nhớ mãi. Xin nêu ra đây vài truyện.

1. Truyện nhường ao của cụ Đoan Lương

Cụ tổ đời thứ 6 là cụ Đoan Lương (húy Tông) thi đỗ Tam trường khoa thi Hương năm Quý Mão (1723) niên hiệu Bảo Thái thứ 4, làm quan Đồng tri châu châu Lộc Bình, xứ Lạng Sơn. Khi về hưu, cụ giữ chức văn trưởng hội Tư văn ở làng. Cụ có mua một cái ao, phía đông giáp chân đê, phía tây và nam liền với cái ao của ông Trung úy Lượng, phía bắc giáp đường xóm Thượng Phúc. Nguyên phía trước nhà ông Lượng có bốn cái ao liền bờ, vuông hình chữ điền, cụ mua một cái, ông Lượng mua ba cái. Ý ông Lượng muốn mua nốt cái ao của cụ, phá bỏ bờ thành một cái ao to để thả cá và trồng sen trước cửa nhà cho đẹp. Ông Lượng có lần hỏi mua, nhưng cụ không bán, nên ông Lượng để bụng thù.

Nhân ngày cuối năm, cụ cho người lên dọn ao, cắt cỏ xung quanh bờ cao và đánh cá ăn tết. Thấy vậy ông Lượng vu cho cụ là đẽo vạc chân đê, mở rộng ao, định làm đơn thưa kiện. Có người mách với cụ, cụ bèn gọi các con đến bảo rằng: “Việc dọn ao, cắt cỏ, đánh cá là việc nhà ta làm hàng năm. Nay ông Lượng muốn mua cái ao của ta không được, bèn vu ra chuyện đẽo vạc chân đê để đi thưa kiện. Gặp được quan thanh liêm thì chẳng nói làm gì. Nhưng thời buổi kim tiền này, quan thấy kiện như kiến thấy mỡ, nén bạc đâm bạc tờ giấy. Vả lại, quan bênh quan, đồng tiền trên lẽ phải, ta dù có lý đến mấy cũng thua. Cổ nhân có câu: “Thua kiện mười bốn quan năm, được kiện mười lăm quan chẵn”, mà đã gây sự kiện cáo, hẳn sinh oán thù, một đời kiện ba đời thù, như thế phỏng có ích gì?”. Sau đó cụ bèn chủ động đến nhà ông Lượng, bảo với ông Lượng rằng: “Ông muốn mua cái ao của tôi, phá bờ thành cái ao to trước nhà, trồng sen thả cá cho đẹp thì tôi nhượng lại cho, việc gì phải thưa với kiện”. Rồi cụ đưa văn tự ao cho ông Lượng.

Về sau, sau khi ông Lượng chết, con cháu ông Lượng không chịu làm ăn, ham mê rượu chè cờ bạc, lại đem chiếc ao to ấy bán cho cháu cụ là cụ Ôn Văn đời thứ 8.

2. Sự tích ngôi mộ cụ Ôn Văn

Ngôi mộ cụ Đỗ Đình Đại (hiệu Ôn Văn) đời thứ 8 để ở gò con Nhạn, xứ đồng Mật, làng Bạch Mai, tổng Kim Liên, huyện Thọ Xương, sau là huyện Hoàn Long, Hà Nội.

Năm Tân Mão (1831) cụ Đỗ Danh Tuấn 15 tuổi lên trọ ở làng Bạch Mai để lên Hà Nội học. Ở chỗ cổng làng Bạch Mai có bà bán nước chè tươi và quà bánh cho khách bộ hành qua lại. Như thường lệ, sáng nào cụ cũng ra đấy uống bát nước chè tươi nóng hổi, hút điếu thuốc lào, rồi mới đi lên Hà Nội học.

Một hôm cụ ra quán nước đã thấy một ông lão, áo quần rách rưới lôi thôi, râu tóc bạc phơ ngồi ở trong quán. Cụ vào uống nước xong, cầm lấy cái điếu, thông bã vê thuốc, châm đóm định hút. Vừa lúc ấy ông lão giằng điếu tranh hút. Cụ vui vẻ châm lửa nhường ông lão hút trước, còn mình thông bã hút sau, sắc mặt không có tí gì là bực tức. Cách hai hôm sau, ông lão lại tranh hút như trước, nhưng cụ vẫn một niềm kính cẩn, sắc mặt không hề bực tức. Cách ba ngày sau, ông lão vẫn tranh hút như hai lần trước, cụ vẫn một niềm vui vẻ mời ông lão hút trước. Khi ông cụ đi khỏi, ông lão hỏi bà hàng rằng cậu học trò này quê quán ở đâu bà có biết không? Bà hàng bảo, tôi nghe nói cậu ở dưới phủ Thường Tín lên đây trọ học. Ông thân sinh cậu là Tri huyện, Tri phủ gì đấy. Ông lão bảo: Con nhà gia thế có khác, có phúc mới có người con như thế.

Một hôm cậu đi học về, gặp ông lão ở Cầu Dền, ông lão gọi lại và bảo cho cậu biết, rằng lão chính là thảy Địa lí đi để đất cho thiên hạ, thấy đây có ngôi đất đẹp, lão thử xem nhà nào có đức thì sẽ để cho. Lão đã thử nhiều người, chẳng ai vừa ý. Nay thấy cậu khiêm nhường, lễ nghĩa, trọng người cao tuổi, lão để ngôi đất ấy cho. Cậu về thưa với quan nhà, lên mua thửa ruộng ấy. Nhớ đến ngày 16 tháng chạp, sớm tinh sương, có đủ mặt ở đấy, lão đến cắm hương cho. Nhớ mua thêm mươi thúng gạch vụn, cát, vôi bột, để lúc lấp huyệt cần dùng đến...

Đúng hẹn sáng sớm tinh mơ ngày 16 tháng chạp, ông lão đã có mặt, cắm đất đào huyệt, đặt quan tài, phân kim ngắm hướng xong, cho lấp đất. Lúc lấp đâts còn cách mặt ruộng ba gang tay, ông lão bảo trộn đều gạch, cát, vôi bột đổ xuống dầy một gang, tưới nước nện chặt (đó gọi là đất tam hợp, sau này cho con cháu dễ nhận), sau đó đắp đất lên như ngôi mộ khác. Ông lão còn bảo, nếu muốn xây phải đợi ngoài 100 năm mới xây và đặt mộ chí được. Khi cụ Trường Ấn (bố cụ Tuấn) đưa biếu lễ vật và tiền, ông lão không nhận, chỉ lấy 1 phẩm oản, 1 quả chuối mà thôi.

Tính đến năm an táng cụ là năm Tân Mão (1831) đến năm Bính Tý (1936) cháu đời thứ 12 là cụ Đỗ Danh Doãn (hiệu Tế Xuyên) xây mộ cụ vừa đúng 105 năm, đúng như thày địa lý nói. Nếu không có đất tam hợp thì năm Canh Tý (1900) bọn thù nghịch đã đào mất mộ rồi. Thực là công việc ở đời đều bởi ông Tạo hóa định liệu trước cả, người đời chỉ biết làm theo, đến đâu biết đấy. Cứ chịu khó làm lụng, thực thà hiền lành, ắt được hưởng lộc trời cho, chỉ có sớm muộn mà thôi.

3. Truyện đào trộm ngôi mội cụ Ôn Văn ở Bạch Mai

Ngôi mộ cụ Ôn Văn an táng ở gò con Nhạn, xứu Đồng Mật, làng Bạch Mai, huyện Thọ Xương, sau là huyện Hoàn Long, Hà Nội. Năm Canh Tý (1900) ở Chương Dương có kẻ thù nghịch cho người lên đào trộm, nhưng không được. Chuyện rằng:

Tối 30 tháng Chạp năm Canh Tý (1900) trời tối như mực, lại mưa phùn gió bấc, đêm tĩnh mịch vắng vẻ. Ở cổng làng Bạch Mai có cái điếm canh, cách ngôi mộ cụ Ôn Văn chừng 100m. Trong điếm có 7, 8 người tuần phiên canh gác. Họ chung nhau mua mấy con cá rán, ít xôi, chai rượu để đến lúc giao thừa cùng nhau nâng chén mừng xuân. Chính trong lúc mấy anh em trương tuần quây quân đánh bạc làm vui, thì ngoài mộ bọn thù nghịch đang đào trộm ngôi mộ cụ. Đúng lúc ấy, chợt có con mèo ở đâu đến tha mất con cá rán, bọn tuần vội đứng lên đuổi bắt mèo. Nhưng trời tối, họ chẳng biết mèo chạy đằng nào, chỉ hô hoán lên: “Nó kia, nó kia, bắt lấy nó!” Mấy tên đào trộm mộ nghe tiếng hô hoán, tưởng lộ chuyện, vội bỏ về thẳng. Sáng hôm sau, anh em đi tuần qua đấy mới biết ngôi mộ đêm qua bị đào trộm, đất cát đang còn bừa bãi. Cụ Diên, người chủ thửa ruộng và trông nom ngôi mộ, vội cho người xuống báo ngay cho cụ Xuân Trạch biết. Cụ Xuân Trạch liền lên làm lễ điền hoàn và đắp lại ngôi mộ như cũ.

Cụ Diên thường nói: “Từ ngày tôi trông nom ngôi mộ, tôi ăn nên làm ra, con cái học hành thành đạt, nên trông nom rất cẩn thận”. Việc đào trộm mộ ở Bạch Mai có nhiều người biết. Họ bảo nhau rằng: “Đó là quan Thổ thần hóa làm mèo vào tha cá để báo cho anh em tuần phu biết, chứ có phải mèo thật đâu, vì số cá rán chẳng mất con nào cả”. Về sau chuyện mới rõ ràng, có ông Bát Hanh, người làng Chương Dương đi lính cho Pháp, được ban hàm bát phẩm, bị cụ Xuân Trạch giật mất chức Tiên chỉ, nên để tâm báo thù, cho người lên đào trộm mộ.

Sau này con trai ông Bát hanh nghèo túng, phải quay về nhờ vả cụ Danh Doãn, là cháu đời thứ 12. Thế mới biết cổ nhân nói: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” chẳng sai tí nào.

4. Truyện vứt thuốc phiện vào thùng phân

Cụ tổ đời thứ 9 họ Đỗ ở Chương Dương là cụ Ôn Cung, thụy là Đoan Lượng. Cụ đỗ Cử nhân năm Ất Dậu (1825) lúc 29 tuổi, sau làm quan Tri huyện Lang Tài, thăng Tri phủ Quốc Oai, rồi giữ chức Lễ khoa Cấp sự trung. Thời kỳ cụ làm việc ở Khoa đạo 7 năm, hai lần đi thanh tra ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định, lúc về chỉ có mấy gói thuốc Bắc, có quan Bố chính Bình Định là Phan đại nhân, người làng Phù Ủng, Hải Dương là người nghiện thuốc phiện, có tặng cụ hai lọ thuốc phiện, chừng độ 30 lạng. Cụ miễn cưỡng phải nhận để yên lòng người cùng xứ, làm quan nơi xa gặp nhau. Cụ xử sự cận với nhân tình như vậy đấy.

Về nhà cụ nói dối cụ bà rằng, đó là hai lọ thuốc cao, khi nào cụ bảo mở thì mới được mở.

Một hôm cụ bà đi vắng, cụ đem hai lọ thuốc phiện đó vứt vò thùng phân. Cụ bà về biết chuyện, có phàn nàn rằng: “Hai lọ thuốc đắt tiền, giá đến hơn 300 quan, sao không bán đi chẳng được món tiền to hay sao. Tiếc quá! tiếc quá!”. Cụ bảo: “Thuốc ấy là vật giết người, làm tan nát cửa nhà, mình đã không dùng, sao nỡ tham lợi bán cho kẻ khác kiếm vài trăm quan tiền thì yên tâm sao đánh!”. Kể từ khi cụ được bổ nhiệm chức Hữu kinh lịch tỉnh Quảng Trị, đến Giám sát ngự sử đạo Thanh Hóa, hơn 15 năm, dân gian có việc thưa kiện, trước cụ lấy điều nghĩa lý hòa giải, sau mới lấy luật phát phân xử nhanh chóng, không để đọng án, kéo dài dây dưa, tốn phí thời gian đi lại, phiền nhiễu cho dân.

Đấy, gia phả viết về ông cha như thế, con cháu muôn đời sau đọc đến, ai mà không cảm động, ai mà không tự hào. Những tấm gương sáng như thế, con cháu nào mà không noi theo. Trong ngôn ngữ ta có từ “bách tính”, nghĩa là trăm họ, đồng nghĩa với từ “quốc gia”, “dân tộc”, “đất nước”. Nhiều nhà họp thành họ, nhiều họ họp thành làng, nhiều làng họp thành nước. Mọi nhà, mọi họ làm việc thiện tất sẽ có nhiều phúc khánh. Cả nước làm việc thiện, nước tất sẽ hưng vượng.

Bài viết nhỏ này chỉ xin trích dịch một số đoạn, dăm ba truyện dồi dào cảm xúc về đạo lý uống nước nhớ nguồn mà trong bất cứ một cuốn gia phả của dòng họ nào cũng đều có thể tìm thấy, những mong tiếp thêm một chút ít sức mạnh tinh thần truyền thống cho chúng ta trên con đường chấn hưng dân tộc Việt Nam ta hôm nay(2).

Chú thích:

1. Canh tường: theo sách Hậu Hán thư - Lý Cố truyện: “Sau khi vua Nghiêu chết, vua Thuấn tưởng nhớ suốt 3 năm, khi ngồi như thấy bóng vua Nghiêu ở trên tường, khi ăn như thấy bóng vua Nghiêu ở trong bát canh. Sau đó, từ này được dùng như một động từ, chỉ sự tưởng nhớ không quên.

2. Cảm ơn bạn Đỗ Diễn Hịch đã cung cấp một số tư liệu về dòng họ Đỗ ở Chương Dương, Thường Tín, Hà Tây.

*Tác giả Mai Xuân Hải - cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm (đã nghỉ hưu).

Thông báo Hán Nôm học 1996 ( tr.115-128)

Gia phả

Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác, vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tiên tổ ... trong thời đại mà họ đã sinh ra và lớn lên của một gia đình hay một dòng họ.

Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một gia đình hay một dòng họ. Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi là Phổ truyền. Các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan), có khi gọi gia phả của vương triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc phả, Thế phả...

Tại các nước Đông Á, chịu ảnh hưởng của Đạo Khổng, các thế hệ sau trong dòng họ hay vương triều phải giữ đạo Trung đạo Hiếu. Việc xây dựng và lưu truyền gia phả được xem là một cách ghi nhớ công ơn tổ tiên, gây dựng lòng tự hào trong dòng tộc.

Ở Tây phương, người ta có tập tục làm cây phả hệ, tương tự như Tông đồ của người Hoa hay người Việt.

Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử học về sau. Nó còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền học, huyết học, y học nữa.

Môn học nghiên cứu về gia phả là gia phả học.

Tại Trung Quốc, gia phả đã xuất hiện dưới dạng thức "thế bản" từ thời nhà Chu (111-256 TCN).

Tại Việt Nam, gia phả sơ giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha. Theo các nhà sử học phỏng đoán thì gia phả đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú ở Giao Chỉ, hoặc gần hơn tức là từ thời Lý Nam Đế (khoảng nǎm 476-545). Nhưng phải đến thời nhà Lý, nhà Trần mới xuất hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích toàn họ), phả ký (ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên).

Mới đầu gia phả xuất hiện chỉ trong Hoàng tộc cùng giới quan lại, nhà Lý có Hoàng Triều Ngọc Điệp - năm 1026; nhà Trần có Hoàng Tông Ngọc Điệp, nhà Lê có Hoàng Lê Ngọc Phả... Cùng với sự xuất hiện các gia phả của Hoàng tộc là gia phả của các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến ghi chép gia phả trong nhân dân.

Trước đây, gia phả chủ yếu được ghi chép bằng chữ Hán-Nôm, nhưng số người giỏi không nhiều, qua nhiều năm chiến tranh, nhiều bộ, cuốn gia phả của nhiều dòng họ cũng mất dần...

Tục làm gia phả phát triển mạnh ở hai miền Bắc và Trung, miền Nam rất ít gia đình làm gia phả ở đấy còn được gọi là "gia phổ" và biến thái thành "tông chi" tức tờ "tông chi tông đồ".

Trong gia phả, người đứng đầu ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi hết những chi tiết về thân thích và dòng dõi; những người con khác sao lại bản gia phả chính đó. Các gia đình giữ gìn kỹ lưỡng và truyền từ đời cha tới đời con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình, một họ. Họ và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã hội, xác định cá thể trong một toàn thể.

Cấu trúc

Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là một gia phả được ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương, có nội dung cơ bản như sau:

  1. Thông tin rõ ràng về người sao lục (biên soạn).
  2. Nêu nguồn gốc xuất xứ của gia tộc, là phả ký hay là gia sử.
  3. Ghi Thuỷ Tổ của dòng họ.
  4. Ghi từng phả hệ phát sinh từ Thuỷ Tổ cho đến các đời con cháu sau này. Có phần phả đồ, là cách vẽ như một cây, từng gia đình là từng nhánh, từ gốc đến ngọn cho dễ theo dõi từng đời. Đối với tiền nhân có các mục sau đây:
    • Tên: Gồm tên huý, tên tự, biệt hiệu, thụy hiệu và tên gọi thông thường. Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ai?
    • Ngày tháng năm sinh (mất), giờ (nếu nhớ). Mộ nguyên táng, cải táng, di táng tại đâu? Thời gian nào?
    • Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau khi mất.
    • Vợ: chánh thất, kế thất, thứ thất... Họ tên, con thứ mấy của ai? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
    • Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái thì cước chú kỹ: con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh, con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì? (Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời sau).
    • Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng... Những lời dạy bảo con cháu đời sau (di huấn), những lời di chúc...
    • Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc biệt của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn hay, những bài thuốc gia truyền...đó là những tài sản quý giá mà chúng ta để thất truyền, chưa biết khai thác.
  5. Tiếp theo, là tộc ước. Đây là những quy định-quy ước trong tộc họ, đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội phạt, tất nhiên là phải phù hợp với luật pháp chung.
    • Với một tộc họ lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái. Phần này sẽ ghi những thông tin chi phái, ai là bắt đâu chi, chi hiện ở đâu, nhà thờ chi...
    • Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân v.v.

Gia phả học là môn học nghiên cứu về gia phả.

Môn học này đang được phát triển ở khắp nơi trên thế giới. Lý do là ngày càng có nhiều người trong xã hội, trong gia đình nhận thấy gia phả là tài liệu quý báu cho nhiều ngành học. Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội học, nhà sử học về sau. Nó còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền học, huyết học, y học. Một lý do nữa là với tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật ghi chép, sưu tầm những tin tức, tra cứu lịch sử ... càng ngày càng thuận lợi hơn.

Việc phổ biến gia phả giới hạn trong vòng gia đình, tông tộc hay mở rộng ra trên Internet cho công chúng trong phạm vi rộng khắp đã làm cho nhiều người băn khoăn về vấn đề bí mật cá nhân. Lợi điểm của việc phổ biến rộng rãi là nhiều người có dịp đọc đến có thể tìm ra một sự nối kết, có ý hướng sử dụng nó vào những mục đích nghiêm chỉnh - hướng thiện, như bổ sung kiến thức cho văn hóa, cho lịch sử.

Mục từ Gia phả trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

*   *   * 

 

Hoa Sen - Giải Ba

 

KHO GIA PHẢ Ở VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

GIA PHẢ VÀ TƯ LIỆU GIA PHẢ Ở
THƯ VIỆN VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Trần Thị Kim Anh

1/ Gia phả được hình thành trên cơ sở tồn tại của các gia tộc. Gia tộc, theo quan điểm của Nho giáo, là sự liên kết quan hệ huyết thống theo phụ hệ. Từ một ông tổ truyền xuống đến bốn đời được gọi là một tông tộc, một gia tộc.

Xã hội người Việt từ khi phát triển theo chế độ phụ hệ, đã dần hình thành các tông tộc. Nhưng tông tộc chỉ thực sự được xem xét khi chế độ tông pháp ra đời. Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa Hán, người Việt do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, cũng nhìn nhận tông tộc trên cơ sở chế độ tông pháp. Chế độ tông pháp lấy quan hệ huyết thống làm cơ sở, tôn sùng tổ tiên, dựa vào quan hệ huyết thống để phân biệt tôn ti, thân sơ, qui định quyền lợi và nghĩa vụ cho các cá nhân trong một tông tộc. Càng về sau, khi Nho giáo đã thâm nhập và có địa vị vững chắc trong xã hội người Việt, chế độ tông pháp càng được nhìn nhận một cách nghiêm ngặt hơn, đặc biệt đối với hoàng tộc và các dòng họ lớn. Do có vấn đề truyền ngôi kế vị, thừa kế... cho nên sự phân biệt dòng đích, dòng thứ, đại tông, tiểu tông, trực hệ, bàng hệ là hết sức cần thiết. Đối với xã hội đa thê, điều này lại càng thực sự quan trọng. Hơn nữa, chế độ tông pháp còn có quan hệ hết sức mật thiết với chế độ tang phục, nó là nền tảng để định ra chế độ tang phục, mà chế độ tang phục lại là một trong những cơ sở để các bộ luật phong kiến chế định trách nhiệm và quyền lợi của các cá nhân trước pháp luật. Hai bộ hình luật phong kiến nổi tiếng là Bộ luật Hồng Đức đời Lê và Bộ luật Gia Long đời Nguyễn, trong nhiều điều luật, đã căn cứ vào chế độ tang phục, tức sự phân biệt giữa người thân, hàng phải chịu tang với hàng không phải chịu tang, và giữa những người thân với nhau trong hàng phải chịu tang(1), để định ra mức phạt cùng quyền lợi của phạm nhân và nạn nhân. Chính vì vậy, để tránh nhầm lẫn, rối loạn về quan hệ thân sơ, nhu cầu chép lại thế thứ tông tộc xuất hiện, mà gia phả là hình thức để thể hiện.

Tuy nhiên ban đầu, việc chép phả có lẽ chỉ hạn chế chủ yếu trong hoàng tộc và chỉ chú trọng vào thế thứ. Sau này, kể cho đến giai đoạn Lý - Trần - Lê sơ, nhiều dòng họ phiệt duyệt xuất hiện, bao gồm gia tộc của các công thần võ tướng, các danh sĩ khoa hoạn được tước phong công hầu, ban phong thực ấp, thuộc hàng cao môn vọng tộc, đời nào cũng có người làm quan, đỗ đạt. Còn ở các làng quê, với điều kiện kinh tế mang tính tự nhiên, các dòng họ thường phải tụ cư để sinh sống, có những dòng họ tồn tại đến hàng chục đời, với số nhân đinh lớn, có lực lượng làm kinh tế lớn, giữ vai trò chính trị trong làng, nên đã phát triển thành những dòng họ phú hào, có thế lực và ảnh hưởng lớn trong làng xã. Đối với các dòng họ nói trên, việc chép phả để tôn sùng tổ tiên, khuếch trương dòng họ là vấn đề cần thiết, cho nên rất có thể ở giai đoạn này, nhiều gia phả của các dòng họ lớn đã ra đời. Tiếc rằng hiện nay chúng ta không có được chút gì về tư liệu gia phả của thời đó ngoài những đoạn truy nguyên về gốc tích dòng họ mình nằm trong phần Tự văn của một số bộ phả ở thời kỳ cuối Lê và thời Nguyễn, như họ Đinh cho rằng họ mình thuộc dòng dõi Đinh Tiên Hoàng, họ Phùng cho rằng mình thuộc dòng họ Phùng Hưng... song tuy là chép vậy nhưng không đủ căn cứ.

Sau khi nhà Lê Trung hưng, đặc biệt vào nửa cuối thế kỉ XVIII và thời Nguyễn, qua tư liệu về phả còn lại, có thể thấy ở giai đoạn này, việc chép phả rất được coi trọng và trở nên khá phổ biến. Không chỉ các tộc họ lớn mới có phả, mà có thể nói gần như họ nào cũng có phả. Nhiều họ lớn còn chia thành chi phả, phái phả. Phả thời kỳ này không chỉ đơn thuần ghi về thế thứ mà đã trở nên khá hoàn bị. Nhìn trên đại thể, một cuốn phả đầy đủ được cấu thành bởi các phần sau: Tự văn, Phả lệ, Tộc qui, Tộc mộ, Từ đường, Tộc điền, Phả hệ, đôi khi có thêm lời Bạt . Nhiều gia phả còn có các bản vẽ mộ tổ, từ đường, tộc điền, sơ đồ dinh thự; chép các khế ước, chúc thư, bằng sắc, thơ văn... khiến có bộ lớn tới dăm bảy trăm trang, thậm chí đến hơn ngàn trang.

Phần Tự văn có thể được viết nhiều lần, có phả có đến hai ba bài tự văn, thường thì do các thành viên có danh vọng trong tộc viết, có nhà mời các bậc thức giả có tiếng soạn giúp. Tự văn chủ yếu trình bày ý nghĩa của việc làm phả, nguồn gốc của dòng tộc, những sự kiện chính diễn ra trong lịch sử dòng tộc. Phần Phả lệ nói về thể lệ chép phả, có phả ghi qui định về tư cách người được ghi tên trong phả. Phần Tộc qui ghi các qui định của dòng họ về thể lệ cúng tế, trông coi từ đường, cày cấy tộc điền… Tộc mộ, Từ đường, Tộc điền được ghi cụ thể, rõ ràng diện tích và vị trí, phần nhiều có bản vẽ. Phần Phả hệ là bộ phận quan trọng nhất trong gia phả. Phần này liệt kê tính danh húy tự của tổ tông, tình hình công danh, khoa hoạn (nếu có), hôn nhân, con cái, tuổi thọ, ngày giỗ, nơi táng. Con gái cũng được ghi vào phả nhưng ít khi ghi húy tự, đôi khi cho biết gả vào họ nào. Nhiều phả có ghi tỉ mỉ hành trạng của những người đem lại vinh hiển cho dòng họ, là các bậc danh tướng, danh khoa, danh sĩ, trung thần, hiếu tử, liệt phụ... cùng bằng sắc thơ văn của họ. Tuy nhiên không phải cuốn phả nào cũng có đầy đủ các phần như vậy, nhiều phả chỉ có phần thế thứ các đời, ngày giỗ và phần mộ, thông thường đây là phả của các dòng họ nhỏ.

Tóm lại, có thể nói người Việt từ lâu đời, do ảnh hưởng của Nho giáo, đã sử dụng gia phả để chỉ rõ thống hệ, nhằm mục đích “đôn hiếu đễ, trọng nhân luân, mục tông tộc, hậu phong tục.” Việc viết gia phả từ xưa cho đến tận ngày nay đối với nhiều dòng họ luôn là việc quan trọng. Việc này thường do người trưởng họ hoặc một người có danh vọng trong dòng họ chủ trì. Về nguyên tắc, phả phải luôn được viết tiếp, nếu bỏ qua sẽ bị coi là bất hiếu. Sau khi làm xong, phả được sao thành nhiều bản giao cho các chi cất giữ cẩn thận để tránh bị mất và để lưu truyền lâu dài từ đời này sang đời khác. Nhiều dòng họ dùng bia đá để ghi lại tông phả của họ mình.

2/ Tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm hiện nay còn lưu giữ được gần 250 gia phả của 28 họ, bao gồm các họ: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Doãn, Dương, Hoàng, Đặng, Đàm, Đoàn, Ngô, Phạm, Lương, Phan, Hà, Nhữ, Hồ, Trương, Lưu, Mạc, Nghiêm, Thẩm, Trịnh, Tường, Vương. Nếu so với con số các họ ở nước ta mới được công bố gần đây là 964 họ thì quá ít ỏi, nhưng có lẽ đây vẫn là nơi có số gia phả tập trung lớn nhất trên toàn quốc.

Về địa vực phân bố thì trừ hai cuốn phả của họ Mạc ở Hà Tiên và họ Lê ở Thừa Thiên, còn đều là phả của các dòng họ thuộc 16 tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra. Nếu sử dụng cách phân chia Nam Bắc thời Lê Trịnh thì đây hầu hết là phả Đàng ngoài. Cụ thể phân bố như sau (theo địa danh hiện tại):

1. Bắc Ninh, có các họ: Trần, Nguyễn, Đàm, Nghiêm, Trịnh.

2. Hà Nội: Trần, Nguyễn, Vũ, Bùi, Đỗ, Lê, Dương, Đặng, Ngô, Phạm, Phan, Lưu, Thẩm, Vương.

3. Hà Tây: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Đỗ, Lê, Doãn, Hoàng, Đặng, Đàm, Đoàn, Ngô, Lương, Phan, Trịnh.

4. Hà Tiên: Mạc.

5. Hà Tĩnh: Nguyễn, Hoàng, Ngô, Lương, Phan.

6. Hải Dương: Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Ngô, Phạm, Nhữ.

7. Hưng Yên: Nguyễn, Vũ, Đỗ, Trương, Tường.

8. Nam Định: Trần, Bùi, Lê.

9. Nam Hà: Nguyễn.

10. Nghệ An: Nguyễn, Đinh, Hồ.

11. Ninh Bình: Nguyễn.

12. Phú Thọ: Nguyễn.

13. Thái Bình: Nguyễn, Lê, Phạm.

14. Thanh Hóa: Trần, Nguyễn, Vũ, Lê, Hoàng, Ngô, Hà, Trịnh.

15. Thừa Thiên: Lê.

16. Vĩnh Phú: Nguyễn, Vũ.

Về niên đại, phả có niên đại sớm nhất được biên soạn vào thời Cảnh Hưng (1740 - 1786), cũng có một số phả mang niên đại biên soạn sớm hơn, vào các thời Vĩnh Tộ (1619 – 1628), Chính Hòa (1680 - 1705), Vĩnh Thịnh (1705 - 1719), nhưng đều là các bản sao. Còn hầu hết đều được soạn, biên tập, sao chép vào các thời Gia Long (1802 - 1820), Minh Mệnh (1820 - 1840), Tự Đức (1848 - 1883)... cho đến niên đại muộn nhất là Bảo Đại 1936. Có bộ thậm chí chỉ mới được sao vào năm 1962. Trừ một bản là Chương Dương Đỗ phả của dòng họ Đỗ ở Hà Tây được khắc in ở đền Lễ Môn vào năm Tự Đức Canh Thìn (1880), còn lại hầu như toàn bộ đều là các văn bản chép tay. Gia phả có số trang ít nhất là 8 trang, gia phả có số trang lớn nhất là 1200 trang, còn lại đều khoảng từ vài chục đến vài trăm trang. Dòng họ chép được thế thứ dài nhất là 17 đời. Nhiều bộ phả do các Cử nhân, Tiến sĩ hoặc các nhân vật nổi tiếng soạn, biên tập hoặc viết tự văn, như Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quýnh biên tập bộ Bối Khê Trạng nguyên gia phả; Cử nhân Bùi Xuân Nghi soạn Bùi thị gia phả; Cao Xuân Dục viết tự văn cho Đài Phong Đặng thị gia phả; Bùi Huy Bích viết tự văn cho Đinh gia tộc phả; Nguyễn Nghiễm soạn Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả; Thám hoa Vũ Công Tể soạn và viết tự văn Hải Bối Vũ công tộc gia phả; Hồ Tam Kiểm viết tự văn cho Hồ gia thế phả ; Lê Hữu Mưu soạn Văn Xá Lê tộc thế phả; Lê Quý Kiệt biên tập và viết lời bạt cho Kinh Bắc Như Quỳnh Trương thị quí thích thế phả; Ngô Thì Nhậm biên soạn Lương Xá Đặng thị gia phả; Lưu Đĩnh viết tự văn cho Lưu thị phả kí Phạm Đình Hổ soạn Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả...

Phần lớn số phả này là phả của các dòng họ có những nhân vật nổi tiếng, nhiều người đỗ đạt, làm quan như: phả của dòng họ Trạng nguyên Nguyễn Trực ở Bối Khê; Tiến sĩ Trần Mô ở Di ái; dòng họ Nguyễn Huy ở Phú Thị; họ Dương ở Lạc Đạo; họ Nguyễn ở Bát Tràng; họ Nguyễn - Đa Ngưu; họ Dương (Bá Cung) - Nhị Khê; họ Nguyễn - Đại Mỗ; dòng họ của Tiến sĩ Đàm Thận Huy ở Ông Mặc; họ Đinh ở Nghệ An; họ Đinh - Hàn Giang; họ Ngô - Đông Anh; họ Lương - Nhị Khê; họ Nguyễn (Du) - Tiên Điền; họ Nguyễn (Công Trứ), họ Nguyễn (Thiếp), họ Phan (Đình Phùng) - Hà Tĩnh; họ Hồ - Quỳnh Lưu; họ Nguyễn ở Nông Cống; họ Lưu - Nguyệt áng; họ Vũ - Mộ Trạch; họ Nhữ - Hoạch Trạch; họ Ngô Thì - Tả Thanh Oai; họ Phan Huy - Sài Sơn; họ Phạm, họ Phan - Đông Ngạc; họ Bùi - Thanh Trì; họ Lê (Hữu Trác) - Liêu Xá; dòng họ của Thượng thư Lê Anh Tuấn; dòng họ của danh sĩ Phạm Đình Hổ... Chính vì vậy xét về số trang cũng như nội dung, đây là khối tư liệu khá đồ sộ và phong phú.

Ngoài việc nghiên cứu lịch sử hình thành, phát triển của các dòng họ và giúp tìm hiểu, bổ sung tư liệu cho tiểu sử các danh nhân, ở đây người ta còn có thể khai thác được nhiều loại tư liệu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhiều gia phả cho tư liệu về đăng khoa; có những gia phả cung cấp tư liệu về ngành nghề thủ công truyền thống như phả của họ Nguyễn ở Bình Vọng cho biết về nghề sơn thiếp, làm dù, làm lọng; phả của họ Phạm ở Đan Loan cho biết về nghề nhuộm và sự phát triển của nghề này ở Thăng Long... Mảng tư liệu về phong tục, nghi thức cúng tế tổ tiên cũng là mảng tư liệu quí; tư liệu về phong thủy - sự phát đạt của các dòng họ dựa trên phong thủy là những tư liệu rất hữu ích giúp cho việc nghiên cứu về địa lí nhân văn; nhiều tư liệu lịch sử không có trong chính sử nhưng gia phả lại có; tư liệu về đời sống xã hội thời kì cuối Lê và Nguyễn cũng là mảng tư liệu hết sức phong phú; đối với việc nghiên cứu xã hội học lịch sử như nghiên cứu về hôn nhân, dân số..., người ta cũng có thể lấy được tư liệu từ đây. Đó là còn chưa kể đến số lượng lớn bằng, sắc phong tặng, thơ, văn, phú, tế, hoành phi, câu đối, văn bia bắt gặp trong hầu hết các bộ phả, là nguồn tư liệu quí giá có thể làm giàu có thêm cho kho tàng văn học cổ nếu được khai thác.

Tuy nhiên khi sử dụng các tư liệu này cũng nên hết sức thận trọng, bởi phả là loại hình văn học chức năng mang tính chủ quan cao, khi viết về dòng họ mình, do tự tôn, người ta luôn có ý thức thêm vào những điều tốt đẹp, bớt đi những sự không hay. Chẳng hạn, chân dung của Đinh Tích Nhưỡng trong gia phả họ Đinh và hình ảnh ông ta dưới ngòi bút các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí và Vũ trung tùy bút gần như trái ngược nhau. Trường hợp Nguyễn Hoãn - một sủng thần đời Cảnh Hưng cũng vậy... hoặc như ở mảng văn chương, sự nhầm lẫn giữa tác phẩm của người nọ với người kia là rất nhiều... Đối với các tư liệu liên quan đến lịch sử cũng phải rất dè dặt.

Nhưng dù sao đây vẫn là một phông tư liệu quan trọng cần được bổ sung và có kế hoạch nghiên cứu khai thác. Gần đây, Trung tâm Phả học thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm được thành lập, chúng tôi thực sự vui mừng trước sự kiện này. Hy vọng rằng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Viện và được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, Trung tâm sẽ đề ra được những biện pháp hữu hiệu nhằm nghiên cứu khai thác số gia phả nói trên và về lâu dài sẽ tiến hành sưu tầm bổ sung thêm bằng những gia phả hiện còn nằm ở các dòng họ trên toàn quốc, trở thành Trung tâm bảo tồn, quản lí và nghiên cứu gia phả mang tầm cỡ quốc gia.

Hà Nội, tháng 10 năm 2002

T.T.K.A

Chú thích:

(1) Hàng phải chịu tang (Hữu phục) là những người thân trong hàng Ngũ phục, bao gồm năm mức để tang người thân là: Trảm thôi - để tang 3 năm, Cơ thân - 1 năm, Đại công - 9 tháng, Tiểu công - 6 tháng, Ty ma - 3 tháng. Hàng không phải chịu tang (Vô phục) là những người họ xa trong tộc họ hoặc họ ngoại, không nằm trong hàng Ngũ phục.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 1 - 2003.

 

Theo nguồn blog Nguyễn Xuân Diện


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn