NGHIÊN CỨU VÀ KHAI THÁC GIÁ TRỊ CỦA GIA PHẢ,
KINH NGHIỆM PHẢ ĐIỆP HỌC TRUNG QUỐC
Phan Văn Các
Gia
phả là hình thái thư tịch đặc biệt dùng hình thức biểu phả để ghi chép
sự phồn diễn thế hệ và sự tích các nhân vật quan trọng của một gia tộc
lấy quan hệ huyết thống làm sợi dây xuyên suốt. Gia phả có giá trị
nhiều mặt cần được nghiên cứu khai thác. Trung Quốc là nước sớm có gia
phả, số lượng gia phả hiện có nhiều nhất và có truyền thống Phả điệp
học phát triển, hơn nữa bởi lẽ các gia phả Việt Nam trước đây đều viết
bằng chữ Hán và chữ Nôm, về phương diện văn hóa và nhất là văn tự có
rất nhiều điểm giống với gia phả Trung Quốc, việc học hỏi tham khảo
kinh nghiệm gia phả học Trung Quốc là rất bổ ích. Dưới đây xin giới
thiệu một số kinh nghiệm Phả điệp học Trung Quốc trên phương diện
nghiên cứu và khai thác các giá trị của gia phả.
Về
thời điểm cụ thể ra đời gia phả ở Trung Quốc, từ xưa đến nay có nhiều
thuyết khác nhau, nhưng quy nạp lại trong giới học thuật Trung Hoa từng
có 4 quan điểm chính:
- Quan điểm cho rằng sự khởi đầu từ thời Tống;
- Quan điểm khởi đầu từ thời Chiến Quốc - Tần Hán;
- Quan điểm khởi đầu từ thời Chu;
- Quan điểm khởi đầu từ thời Ân Thương.
Đến nay được biết, mảnh giáp cốt kí hiệu Khố (庫) 1506, được định niên đại thời Vũ Đinh (武 丁),
ông vua thứ 23 thuộc thế hệ thứ 10 của nhà Thương, cách nay khoảng trên
3200 năm, trong đó ghi chép được 13 tên người, 11 người có quan hệ cha
con và 2 người có quan hệ anh em, nghĩa là chép thế hệ 11 đời, nếu tính
bình quân mỗi đời 30 năm thì lịch sử gia tộc này có thể đẩy sớm thêm 3
thế kỉ nữa. Đây là tư liệu gia phả sớm nhất của Trung Quốc và cũng là
của thế giới.
Từ
khi ra đời đến nay, gia phả ở Trung Quốc đã có các tên gọi khác nhau
như: phả, lục, kí, chí, bạ, thặng, điệp, sử, hệ, tập, khảo, biên,
truyện...; kết hợp với các chữ chỉ dòng họ như gia, tộc, tông, thế, thế
hệ, thế gia, tính, chi, bản chi, thị tộc, thống tông, tông thế... (giới
phả lục Trung Quốc đã thống kê có trên 80 loại). Riêng từ gia phả thì
sớm nhất thấy Vương thị gia phả (王 氏 家 譜) dẫn trong Thế thuyết tân ngữ chú (世 說 新 語 註) của Lưu Hiếu Tiêu (劉 孝 標) thời Lục Triều, còn trong Văn tuyển chú (文 選 註) của Lí Thiện (李 善) đầu đời Đường thì ngoài Vương thị gia phả còn dẫn Nhan thị gia phả; ngoài ra Tùy thư Kinh tịch chí (隨 書 經 籍 誌) có chép Dương thị gia phả trạng cập mộ kí (楊 氏 家 譜 狀 及 墓 記);
các bộ gia phả này đều do người thời Nam Bắc triều soạn, như vậy từ gia
phả đã ra đời trước thời Nam Bắc triều là điều chắc chắn.
Khi
đặt tên cho gia phả, thì trước hai chữ gia phả, soạn giả thường ghi
tính thị (tên họ), địa danh, quân vọng (nơi phát tích dòng họ), đường
hiệu (tên từ đường, để phân biệt các gia tộc hoặc các chi phái) và kỉ
tu (biên soạn hoặc sửa chữa lần thứ mấy), thí dụ: Phần Hồ Liễu thị đệ tam thứ toản tu gia phả (汾 湖 柳 氏 第 三 次 纂 修 家 譜), Hoàng Sơn Vương thị Phụ đức đường chi phả (黃 山 王 氏 輔 德 堂 支 譜).
Riêng gia phả nhà vua thì thường gọi là Ngọc điệp (玉 牒).
Gia phả các hoàng thất thì có từ xưa bởi vì xã hội cổ đại Trung Hoa xây
dựng trên nền tảng chế độ tông pháp phong kiến quân chủ thế tập, các
triều đại thường đặt hẳn cơ quan chuyên môn ghi chép biên soạn, hình
thành nên hệ thống gia phả hoàng thất đời này sang đời khác, ngày nay
gọi là hệ thống ngọc điệp. Nhưng từ ngọc điệp được bắt đầu sử dụng từ
bao giờ thì ngày nay không thể khảo chứng được, chỉ biết là không muộn
hơn năm thứ 2 Đại Hòa (大 和) thời Đường Văn Tông (828).
Tất cả ngọc điệp từ đời Đường về trước đều đã mất, đến nay chỉ còn phả điệp hoàng tộc từ đời Tống.
Trừ
phả điệp hoàng tộc ra, thì trong dân gian, gia phả họ Khổng là có dung
lượng lớn nhất, ghi chép thế hệ gia tộc dài lâu nhất, đáng tin cậy nhất
và ảnh hưởng rộng nhất, mang tên Khổng Tử thế gia phả (孔 子 世 家 譜). Khổng Phủ biên soạn sửa chữa, gia phả đã in ra nhiều lần, song nay chỉ còn 4 loại: bản in niên hiệu Thiên Khải (天 啟)
đời Minh, bản in niên hiệu Khang Hi, Càn Long đời Thanh, và bản in thời
Dân quốc. Bản thời Dân quốc gồm 4 tập, 108 quyển và một quyển thủ là
109, hơn 9.900 trang, đóng thành 154 sách.
Con
số gia phả hiện lưu giữ ở Trung Quốc chưa ai thống kê được. Các nhà Phả
học ở Trung Quốc chỉ đưa ra được một con số ước lượng khoảng 30.000,
hiện đang biên soạn Trung Quốc gia phả tổng mục (中 國 家 譜 總 目), sách này biên soạn xong sẽ cho một con số chuẩn xác tin cậy. Đài Loan khu tộc phả mục lục
cho biết ở Đài Loan có hơn 106.000. Ngoài ra, các thư viện ở Mĩ lưu giữ
khoảng 20.000 loại tư liệu gia phả Trung Quốc, Nhật Bản khoảng hơn
1.500 bộ.
*
* *
Trong
lịch sử Trung Quốc, trải qua các thời kì, giá trị của gia phả có sự
thay đổi trên các mặt xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa. Từ đời
Thương - Chu đến đời Hán, tác dụng chủ yếu của gia phả là thờ cúng tổ
tiên, chứng minh huyết thống, phân biệt thế hệ, đồng thời cũng là chỗ
dựa để kế thừa quyền lực và tài sản. Sau xã hội môn phiệt Ngụy Tấn -
Nam Bắc triều, tầm quan trọng của gia phả về chính trị - xã hội tăng
lên rõ rệt: tác dụng chủ yếu của gia phả là chứng minh môn đệ, làm quan
cũng như dựng vợ gả chồng và giao tiếp xã hội đều dựa vào gia phả, gia
phả trở thành một công cụ chính trị. Đời Tùy - Đường, chọn kẻ sĩ bằng
khoa cử, nên tác dụng chính trị của gia phả trong việc tuyển quan lại
giảm đi, còn tác dụng về phương diện hôn nhân thì tăng lên. Từ đời Tống
về sau, tuyển sĩ và hôn giá đều không coi trọng môn đệ nữa, viết gia
phả trở thành việc riêng nội bộ của gia tộc, cốt để ghi chép lịch sử
gia tộc, giữ cho huyết thống được thuần khiết, tôn tổ, kính tông, đoàn
kết hòa mục trong các thành viên gia tộc, giáo dục con cháu, đề cao địa
vị và danh tiếng của gia tộc mình trong xã hội; chức năng giáo dục của
gia phả tăng cường rõ rệt, trong gia phả xuất hiện nhiều các thiện cử
ân vinh của tổ tiên, các lời gia huấn, gia châm ít nhiều có tác dụng
truyền bá luân lí phong kiến, ổn định trật tự xã hội. Vì thế việc biên
soạn gia phả từ đời Đường về trước cũng như từ đời Tống về sau đều được
nhà nước phong kiến ủng hộ và khuyến khích. Ngoài ra thời Minh - Thanh,
chế độ khoa cử đều quy định chỉ tiêu số lượng lấy đỗ cho các địa
phương, nhiều học trò đi thi đã mạo đổi quê quán, chuyển đến những vùng
văn hóa kém phát triển để dự thi, mong dễ đỗ hơn, tựa như nay ta thi
vào đại học học sinh chuyển vùng trong hồ sơ để được điểm ưu tiên, vì
thế thường xảy ra tố tụng. Khi đó gia phả có tác dụng chứng minh. Đời
Thanh, kì nhân tập tước hay ra làm quan đều phải xuất trình gia phả làm
bằng cứ, đó có lẽ là tác dụng chính trị cuối cùng của gia phả.
Ngày
nay, với tư cách là một loại tư liệu lịch sử, gia phả có tác dụng quan
trọng giúp chúng ta hiểu biết quá khứ. Giá trị của gia phả đại thể biểu
hiện trên các mặt sau:
1.
Gia phả có giá trị tư liệu quyền uy đối với việc nghiên cứu các nhân
vật cổ đại. Tra cứu khảo sát các nhân vật thời xưa, chủ yếu là thông
qua truyện kí trong chính sử, các văn tập, bút kí và phương chí cổ. Với
một số nhân vật không nổi tiếng lắm, thì các loại tư liệu trên ít khi
đề cập, thảng hoặc có nhắc đến thì cũng chỉ đôi nét đơn sơ, ngay cả một
số nhân vật nổi tiếng, có khi cũng rơi vào tình trạng tương tự. Nhưng
gia phả thì khác, đặc điểm của gia phả là ghi chép các nhân vật của gia
tộc, trong các bản thế hệ lục, dưới mỗi tên người đều ghi rõ thuộc chi
nào, nhánh nào, danh, tự, hiệu, hàng đệ (con thứ mấy), ngày giờ tháng
năm sinh - mất, hưởng thọ, vợ cả vợ lẽ, con trai con gái, mộ táng ở
đâu, đặc biệt là về công danh, quan tước, ghi chép khá tỉ mỉ, về văn
chương còn thu thập cả hành trạng hữu quan, truyện ký, mộ chí v.v...,
các nhân vật trọng yếu của gia tộc còn chép cả tiểu sử và tác phẩm, có
khi cả thơ văn đối trướng mừng thi đỗ, mừng bổ dụng và nhất là phúng
viếng tang ma. Những tư liệu này dĩ nhiên có thể có phần khoa trương,
đề cao, nhưng đại đa số là có thể tin cậy được. Qua gia phả, chúng ta
chẳng những có thể biết về bản thân nhân vật mình đang nghiên cứu mà
còn có thể biết cả thế thứ của họ, cả tổ tiên và con cháu họ. Dùng tư
liệu gia phả có thể đính chính được nhiều điểm sai sót nghi vấn trong
tiểu sử nhân vật. Nhờ nghiên cứu Ngũ khánh đường trùng tu Liêu Đông Tào thị tông phả (五 慶 堂 重 修 遼 東 曹 氏 宗 譜),
người ta khảo chứng được quê tổ của Tào Tuyết Cần tác giả Hồng lâu mộng
là Liêu Dương, sau dời đến ở Thẩm Dương, không phải như trước kia
thường nói là ở Phong Nhuận, Hà Bắc; tổ tiên của Tào Tuyết Cần vốn là
võ quan triều Minh, trong chiến tranh đã đầu hàng người Mãn, ban đầu lệ
thuộc vào Hán quân kì, sau mới đổi về Mãn Châu chính bạch kì (滿 洲 正 白 旗). Sử dụng tư liệu gia phả đã giải quyết được một nghi vấn lớn trong Hồng học là vấn đề quê tổ và kì tịch (旗 籍)(1) của Tào Tuyết Cần. Hay như qua Lâm Lí tông phả (林 李 宗 譜) ở Tuyền Châu (泉 州), người ta khảo chứng được rằng nhà tư tưởng Lí Chí (李 贄) đời Minh, vốn họ Lâm, tên là Tải Chí (載 贄), bố và ông nội đều theo đạo Ixlam, bản thân ông cũng có huyết thống Ả-rập hoặc Ba Tư. Giáp sơn Bắc loan Tôn thị tông phả (甲 山 北 灣 孫 氏 宗 譜)
mới phát hiện gần đây ở Tô Châu có giá trị tham khảo quan trọng làm rõ
thêm thân thế, tính danh của Tôn Tử và quan hệ của ông với Tôn Tẫn.
Giới nghiên cứu trước đây thường cho rằng Tôn Tử tên là Vũ, tự là
Trường Khanh (長 卿), là cháu 8 đời của Điền Hoàn (田 完). Nhưng phả chép Tôn Tử tên là Khai (開), tự là Tử Cương (子 疆),
là cháu 6 đời của Điền Hoàn, phả còn chép Tôn Tẫn là chắt chứ không
phải cháu của Tôn Tử như giới sử học trước đây vẫn nói, và ghi rõ Khai
(Tôn Tử) sinh ra Minh (明), Minh sinh ra Khiên ). Mặc dù thời đại (岍), Khiên sinh ra Tẫn (臏
hoạt động của Tôn Tử với Tôn Tẫn cách nhau hơn 140 năm, trước đây có
học giả đã ngờ rằng nếu chỉ cách 3 đời thì dường như chưa đủ, nhưng khổ
nỗi không có chứng cứ, nay phát hiện được bản phả này, vấn đề hoàn toàn
được giải quyết. Những năm gần đây, nhiều gia phả lần lượt được phát
hiện như Hồng thị tông phả (洪 氏 宗 譜), Tân thị tông phả (辛 氏 宗 譜), Tử Dương Chu thị Kiến An phả (紫 陽 朱 氏 建 安 譜), Nhạc thị tông phả (岳 氏 宗 譜), Dương gia tông phả (楊 家 宗 譜), Tống thị tông phả (宋 氏 宗 譜), Phú Điền Văn thị tộc phả (富 田 文 氏 族 譜), Triệu thị gia phả (趙 氏 家 譜), Nhuận Châu Bao thị gia phả (潤 州 包 氏 家 譜)...
đã cung cấp cho giới nghiên cứu nhiều tư liệu quý báu cho phép hiểu
thêm tuổi thanh thiếu niên của Hồng Tú Toàn, Tân Khí Tật, Nhạc Phi,
Dương Gia Tướng, Tống Ưng Tinh, Văn Thiên Tường, Triệu Khuông Dậu, Bao
Chửng... cùng với sự tích của hậu duệ các nhân vật lịch sử ấy.
2.
Gia phả cũng là sử liệu quan trọng để nghiên cứu lịch sử dân số. Thế
thứ trong gia phả là bộ phận cơ bản nhất của gia phả, trong đó ghi tỉ
mỉ việc sinh tử của người họ, chi tiết và tin cậy hơn tài liệu quan
phương. Qua gia phả, có thể tìm hiểu số lượng nhân khẩu, kết cấu nhân
khẩu, tốc độ và nguyên nhân tăng giảm dân số, cấu thành xã hội nghề
nghiệp, tình trạng hôn nhân, trình độ văn hóa, tuổi thọ v.v.. của nhân
khẩu trong gia tộc qua các thời kì.
3.
Gia phả cung cấp tư liệu cơ bản nhất để nghiên cứu chế độ tông tộc thời
phong kiến. Chế độ tông tộc là bộ phận tổ thành quan trọng của quan hệ
tông pháp phong kiến. Gia phả giới thiệu và thể hiện chế độ tông tộc
phong kiến rất toàn diện. Gia phả ghi chép về sự cấu thành tông tộc, về
tổ chức, quy mô, kết cấu, chức năng, phạm vi quản lí của từ đường và
quan hệ của từ đường với quan phủ..., về loại hình, số lượng, sự hình
thành, phương thức kinh doanh và cách sử dụng thu nhập của các tài sản
thờ tự, về quy mô, phạm vi thu nhận học sinh, nguồn vốn, phương thức
duy trì và nội dung khen thưởng của trường học gia tộc v.v... Các điều
tộc ước, tông quy, gia huấn, gia châm ghi trong gia phả là dùng đạo đức
luân lí phong kiến để ràng buộc quan niệm tư tưởng của người trong gia
tộc. Quy chế của từ đường cùng gia lễ đã quy định các chuẩn mực hành vi
cùng lễ nghi tế tự, tang hôn, kể cả việc không cho làm một số nghề nào
đó, cho đến trình tự lập tự, thừa tự và những biện pháp trừng phạt khi
vi phạm... Thần quyền, tộc quyền và phu quyền phong kiến đều thể hiện
rõ trong gia phả, thể hiện tập trung hơn ở các loại hình tư liệu khác
rất nhiều.
4.
Gia phả cũng cung cấp những tư liệu “bàn nhất” cho việc nghiên cứu vấn
đề di dân. Trong lịch sử Trung Quốc, luôn luôn diễn ra sự lưu động dân
số ở các triều đại. Bất kì một cuốn gia phả nào cũng ghi chép nguồn gốc
và tình hình di chuyển của dòng họ, cụ tổ của gia tộc mình từ đâu
chuyển đến, nguyên nhân dời chỗ ở, đi qua những đâu rồi đến định cư ở
đất này v.v. đều có trình bày rõ. Ngoài ra, sau khi gia tộc định cư ở
đây, lại có chi nhánh nào dời đi, do nguyên nhân gì, số lượng người đi,
dời chỗ ở đến đâu, đời sống của di dân, quan hệ giữa di dân với người
bản địa... đều có ghi chép. Nếu tiến hành phân tích tư liệu di dân
trong hàng loạt gia phả, thì kết luận rút ra đại thể sẽ khớp với kết
luận của một số nhà khoa học tự nhiên nghiên cứu lịch sử phân bố tính
thị Trung Quốc qua các triều đại, từ góc độ di truyền học. Ngoài ra qua
việc khảo sát tình hình phát triển của một số dân tộc ở những thời đại
khác nhau và địa vực khác nhau, cũng có thể thấy được những vấn đề này.
Thí dụ như qua khảo sát gia phả dân tộc Xa (畬)
ở Chiết Giang, có thể hiểu được rằng dân tộc Dao ngày nay cư trú ở
Chiết Giang đều mới thiên di đến từ Minh sơ về sau, trước Minh sơ ở
Chiết Giang không có dân tộc Xa. Hay như nghiên cứu tư liệu di dân
trong gia phả ở các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam, Sơn Đông, An Huy, người ta
phát hiện được tầm quan trọng của huyện Hồng Động tỉnh Sơn Tây trong
cuộc di dân đại quy mô những năm đầu triều Minh.
5.
Gia phả trở thành nhân tố quan trọng liên hệ đoàn kết người Hoa hải
ngoại, tăng cường sức ngưng tụ dân tộc. Từ thập kỉ 60 thế kỉ XX đến
nay, trên thế giới đã có cả một cao trào “tìm về cội nguồn”. Từ giữa và
cuối thập kỉ 70, người da đen quốc tịch Mĩ A.likx Ha-li qua việc tham
quan thực địa và tìm đọc gia phả, viết nên tác phẩm Cội nguồn nổi tiếng
thế giới, thì cơn sốt tìm về cội nguồn càng dâng cao. Dân tộc Trung Hoa
từ xưa vốn có truyền thống văn hóa tôn tổ kính tông, nhớ về nguồn cội.
Hoa kiều ở trên thế giới hiện có trên 55 triệu, phân bố ở hơn 100 quốc
gia và khu vực khắp năm châu, mặc dù phần lớn đã nhập quốc tịch nước sở
tại, song vẫn giữ nguyên bản sắc văn hóa dân tộc. Trong ngót một vạn xã
đoàn người Hoa trên thế giới, thì các tổ chức có tính chất huyết thống
mà tiêu biểu là hội dòng họ, Hội đồng hương, chiếm tỉ lệ rất cao và gia
phả đang phát huy tác dụng tích cực.
6.
Gia phả trở thành công cụ đắc lực xúc tiến công cuộc hòa bình thống
nhất hai bờ, chống lại chủ trương đòi tách Đài Loan độc lập, phục vụ
tích cực cho chính sách “một nước Trung Quốc” của Đảng và Nhà nước Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa.
Ngoài
ra, gia phả còn cung cấp nhiều tư liệu tin cậy cho việc nghiên cứu các
lĩnh vực lịch sử địa phương, kết cấu và chức năng của gia đình, cơ cấu
xã hội, địa vị của phụ nữ, ưu sinh học, dân tục học, kinh tế sử, lịch
sử khoa học kĩ thuật, lịch sử tôn giáo, quan hệ với nước ngoài v.v.
Trên thực tế, người xưa cũng đã sớm nhận thức được giá trị của gia phả và đã đánh giá rất cao. Bùi Tùng Chi (裴 松 之) thời Nam Bắc triều chú Tam quốc chí (三 國 志), Lưu Hiếu Tiêu chú Thế thuyết tân ngữ, Ngụy Thu (魏 收) viết Ngụy thư (魏 書), Âu Dương Tu đời Tống soạn Tân Đường thư (新 唐 書) đều đã từng sử dụng nhiều tư liệu gia phả. Trịnh Tiều (鄭 樵) đời Tống, Chương Học Thành (章 學 誠) đời Thanh, Dịch Hi Ngô (易 熙 吳) thời cận đại... đều đã giới thiệu và bình giá về giá trị của gia phả.
Tuy
nhiên, do chỗ gia phả đều do tư nhân biên soạn, nên có những điều ghi
chép không thực, nói quá sự thật, nhất là trên các phương diện công
danh, thành tích trị nhậm... của tiền nhân, thậm chí có cả những điều
giả thác, cố tình bịa đặt tô vẽ, mà khi sử dụng, ta không thể nhắm mắt
nghe theo, trái lại phải có sự giám định, sàng lọc cẩn thận.
Tình
trạng bịa đặt ngụy tạo trong gia phả vốn có nguồn gốc từ xưa và đã kéo
dài trong lịch sử. Là một tư liệu gia tộc, gia phả tất nhiên có ý thức
tự ngã rất mạnh. Đồng thời, gia phả còn có tác dụng tự khoe, đề cao
lòng tự hào gia tộc, nhằm thúc đẩy đoàn kết nội bộ gia tộc và đề cao
vai trò địa vị của gia tộc trong xã hội. Trong xã hội phong kiến Trung
Quốc, văn hóa Nho gia là dòng chính trong ý thức xã hội, nhiều gia tộc
trong khi biên soạn gia phả đã có ý thức hoặc không có ý thức nhào nặn
hình tượng tổ tiên theo lễ giáo Nho gia, nên đã “ẩn ác dương thiện”,
đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại. Mặc dù rất nhiều gia phả ở lời nói đầu
thường có khẩu hiệu thật hay ho, những là “chép theo sự thực”, “tín dĩ
truyền tín, nghi dĩ truyền nghi”, những là “bất hư thực, bất ẩn ác”
v.v.; nhưng rất ít gia phả làm đúng được như vậy mà ở đại đa số gia phả
vẫn tồn tại các căn bệnh như nhận nhằng tổ tiên, mạo nhận danh tộc,
“thấy người sang bắt quàng làm họ”, bịa đặt thế hệ, ảnh hưởng trực tiếp
đến giá trị sử liệu của gia phả.
Tình
trạng bịa đặt ngụy tạo trong gia phả Trung Quốc đã diễn ra từ thời Tề,
Lương Nam triều, nổi bật là việc Tề Cao Đế Tiêu Đạo Thành (簫 道 成) được ghi rõ là cháu 24 đời của Tiêu Hà (簫 何) khai quốc công thần đời Tây Hán, chép trong Nam Tề thư, Cao Đế kỉ (南 齊 書 高, 帝 紀), và Lương Vũ Đế Tiêu Diễn (簫 衍) là cháu họ Tiêu Đạo Thành tức là cháu 25 đời của Tiêu Hà ghi trong Lương thư, Vũ Đế kỉ (梁 書, 武 帝 紀).
Khảo
sát tình trạng bịa đặt ngụy tạo trong gia phả qua các triều đại, giới
phả học Trung Quốc đã quy nạp thành 6 dạng biểu hiện dưới đây:
1.
Nhận nhằng tổ tiên: Khi truy tìm nguồn gốc dòng họ, thường có tình
trạng “thấy người sang bắt quàng làm họ”, vin rồng dựa phượng lấy đế
vương khanh tướng, quý trụ danh thần thời Thượng cổ hoặc thời Hán Đường
làm thủy tổ hoặc viễn tổ của họ mình. Tình trạng đó có từ xa xưa, trở
thành căn bệnh phổ biến trong gia phả, đời Tống đời Nguyên về sau lại
càng rõ rệt, đến thời Minh Thanh đạt tới đỉnh cao, ngay cả các vị phả
học đại sư như Âu Dương Tu (歐 陽 修), Tô Tuân (蘇 詢) cũng không thoát khỏi. Trong gia phả của mình Âu Dương Tu đẩy viễn tổ lên đến Hạ Vũ (夏 武), ở giữa kinh qua Việt Vương Câu Tiễn; Tô Tuân thì lấy Chuyên Húc (顓 頊) làm thủy tổ, và Chúc Dung (祝 融)
cũng là tiên nhân trong họ. Đến thời Minh Thanh, lại càng phổ biến,
thông thường hễ là gia phả họ Lâm, thì ắt đẩy lên đến Tỉ Can (比 干), họ Trần thì phải đến Trần Vũ Đế Trần Bá Tiên (陳 霸 先) thời Nam triều, họ Lí thì phải đến Lí Nhĩ (李 耳) và Lí Thế Dân (李 世 民), họ Hồng đến Cung Công (共 工), họ Trương đến Trương Lương (張 良), họ Viên đến Viên Thiệu (袁 紹), đến Hậu Tắc (后 稷 ), họ Ngô đến Thái Bá (太 伯), họ Khương đến Khương Thượng (姜 尚), họ Tiền (錢) đến tận Thiếu Điển (少 典), Hoàng Đế (皇 帝)... Có gia tộc còn lôi cả nhân vật thần thoại vào làm thủy tổ của mình.
2.
Nêu địa vọng lung tung, nhằm đề cao địa vị của gia tộc. Tệ này trong
gia phả xem ra còn bừa bãi hơn cả tệ nhận nhằng tổ tiên. Phàm gia phả
họ Vương thì ắt xuất xứ từ Lang Nha (琅 玡), họ Lí ắt từ Lũng Tây (隴 西) đến, họ Trương ắt từ Thanh Hà (清 河), họ Lưu ắt từ Bành Thành (彭 城), họ Châu (周) từ Nhữ Nam (汝 南), họ Cố từ Vũ Lăng, họ Chu (朱) từ Bái Quốc (沛 國), họ Chung (鍾) từ Dĩnh Xuyên (潁 川)... thành một thông lệ.
3.
Liệt kê rất dài các thế hệ, song không đáng tin cậy. Các gia phả từ
Minh - Thanh lại đây, thường chép viễn tổ hoặc thủy tổ đến tận thời
viễn cổ, rồi ghi các thế hệ hết sức rõ ràng, mấy mươi đời, thậm chí đến
trăm đời, đâu ra đấy rất rành rọt. Nhưng thực tế thì sao? Thật ra nếu
là gia phả viết lần đầu thì trong phạm vi mười đời còn có thể tin được
chứ mười đời trở lên thì phải tồn nghi; nếu là gia phả viết tiếp, thời
gian gián cách không dài, thì phần liên tục có thể tin, còn gián cách
dài thì hãy tồn nghi. Khi viết gia phả mới, tư liệu phần nhiều là do
hồi ức, hoặc chép ở “sử” ở “chí” ra, thì ở những chỗ ghép nối dễ có sự
gán ghép, ít độ tin cậy. Ngay cả Khổng Tử thế gia phả vẫn được coi là
chép các thế hệ rành rọt đáng tin cậy nhất Trung Quốc thì ở một số đời
vẫn còn có chỗ phải bàn.
4.
Trong gia phả một số dòng họ di cư đến nơi mới về sau phát đạt lên, thì
phần nhiều người ta “sáng tác” rất nhiều ở vị tổ di cư này.
5.
Vẽ vời, bịa đặt công danh, quan tước cho tiền nhân. Khốn nỗi tác giả
của những gia phả này sống ở đời sau, lại thiếu kiến thức lịch sử nên
công danh, quan tước bịa ra không khớp với triều đại ấy.
6. Viết cái đẹp tốt, không viết cái xấu xa. Hầu như tất cả các gia phả đều có khoản “bất thư” (不 書)
tức là những tiêu chuẩn không cho phép “nhập phả”, phần nhiều là quy
định những trường hợp “bất đạo, loạn luân, loạn tông, tuyệt nghĩa, nhục
tiên” (不 道, 亂 倫, 亂 宗, 絕 義, 辱 先)
thì không được vào gia phả. Thế là trong các gia phả đều chỉ có người
tốt, chính nhân quân tử, hầu như không có người xấu. Có nghĩa là hễ
người xấu, thì dù đích thực là tổ tiên mình, cũng không thừa nhận. Thí
dụ như họ Dương (楊) ở Việt Châu (越 州) vốn là hậu duệ của Tùy Dạng Đế (隨 煬 帝),
nhưng vì ông này ô danh quá nên gia phả không thừa nhận. Nên mới có
tình trạng là những nhân vật đại gian đại ác trong lịch sử như Lí Lâm
Phủ (李 林 甫), Tần Cối (秦 檜) thì trong gia phả không tìm thấy, dường như họ chẳng có tổ tiên cha mẹ, cũng không có con cháu gì, chẳng biết ở đâu mọc ra.
7.
Để đạt mục đích lòe đời, người ta nhờ đến những nhân sĩ tiếng tăm cùng
họ hoặc khác họ làm sang cho gia phả của mình. Chẳng hạn như đưa vào
gia phả những lời vua ban như thánh chỉ, sắc thư, thượng dụ, tứ phi
(thơ vua ban) và những văn thơ nhà nước như cáo thị, công văn; rồi mời
các danh thần thạc nho đề tựa viết bạt cho gia phả, mời các nhân vật
nổi tiếng trong họ đề tựa, viết tán từ, tụng phi... Nhưng những người
viết phả dân gian phần nhiều không phải học giả, thiếu tri thức chuyên
môn và thường thức lịch sử, nên trong những điều bịa đặt lộ ra những
sai sót sơ đẳng về kiến thức niên đại, quan chức, địa danh diên
cách..., xem biết ngay là bịa đặt, gắn ghép.
Bởi
thế, gia phả tuy là một nguồn sử liệu quý giá không gì thay thế được,
nhưng cũng chứa đựng không ít thông tin giả, người sử dụng phải hết sức
thận trọng, phải biết đối chiếu với các nguồn tư liệu khác để sàng lọc,
lựa chọn.
P.V.C
CHÚ THÍCH
(1)
Kì tịch: Tổ chức quân đội và biên chế hộ khẩu của tộc Mãn đời Thanh,
gọi theo hiệu cờ có 8 kì. Về sau đặt thêm Mông Cổ bát kì và Hán quân
bát kì.
*Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 1 (56) - 2003, trang 14-21.
* Tác giả Phan Văn Các (sinh năm 1936) là Giáo sư, nguyên Viện trưởng,
nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
* * *
GIA
PHẢ - NGUỒN CẢM XÚC DẠT DÀO VỀ ĐẠO LÝ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN
Mai Xuân Hải
Hai tiếng "Gia
phả" đối với người Việt Nam ta xưa nay thật vô cùng thiêng liêng. Bởi gia phả
chính là bộ sử sống của gia đình, của dòng họ, mà ở đó tổ tiên, ông bà các đời
của chúng ta, những người liên tục truyền nối từ thuở vô thủy tới nay đã mang
đến cho ta mạng sống, cho ta được làm người đã hiện lên rõ
rệt...
Xưa kia, bất kể dòng họ lớn nhỏ nào cũng thường có gia
phả. Dòng họ nhỏ đôi khi chỉ vào mươi trang ghi chép vắn tắt họ, tên, ngày giỗ,
phần mộ của các cụ. Dòng họ lớn thì gia phả viết rất quy củ, có phép tắc, có đủ
lời tựa, lời dẫn, phàm lệ, đủ cả phần chính phả, ngoại phả. Ngoài việc ghi chép
họ tên, thụy hiệu, ngày sinh ngày mất, phần mộ, chức tước, hành trạng, công lao
lúc sống của các cụ, gia phả còn ghi chép cả thơ văn, bi ký, hoành phi, câu đối,
văn khấn, nghi thức cúng giỗ, điều lệ dòng họ, về việc xây dựng từ đường, ruộng
họ, cùng các đđạo sắc phong, chế cáo ban tặng của nhà vua. Phần nhiều là gia phả
viết tay, đôi khi những dòng họ có điều kiện kinh tế và có ý thức cao, gia phả
còn được khắc in.
Nhưng dù dài ngắn mặc lòng, gia phả vẫn là những bộ sử
riêng của gia đình, dòng họ viết về những bậc tiền bối với tinh thần “uống nước
nhớ nguồn”, “phục bản phản thủy”, “thận chung truy viễn”, nên nó thường tràn đầy
một tình cảm thiêng liêng, một trách nhiệm, một bổn phận cao cả đối với các lớp
tiền bối và cả các lớp con cháu sau này, một thái độ thành kính, biết ơn công
lao sinh thành, gây dựng, vun đắp của tổ tiên, nên có sức lôi cuốn, có sức cảm
hóa mạnh mẽ các lớp cháu con.
Đọc gia phả chúng ta sẽ thu hoạch được rất nhiều tri
thức bổ ích. Chúng ta sẽ hiểu sâu hơn về các mặt sinh hoạt xã hội, phong tục tập
quán, những sự kiện lịch sử mà nhiều khi không được ghi chép trong chính sử của
triều đình. Rồi còn văn chương, thơ phú, triết lý... Quả thật có những cuốn giả
thực sự có tính chất “bách khoa toàn thư” về dòng họ, về xã hội quá khứ. Nhưng
trong bài viết này, chúng tôi không đi sâu vào khía cạnh nhận thức của gia phả,
chúng tôi chỉ xin trích dịch một vài đoạn văn, một vài mẩu chuyện trong một số
cuốn gia phả, nói lên những suy nghĩ và đạo đức, đạo lý làm người của ông cha,
thân thiết gần gũi với chúng ta, mà ngày nay, những nét đẹp đạo đức ấy, đã từ
lâu được người Việt Nam ta chấp nhận, trở thành đạo đức truyền thống, tâm linh
dân tộc, rất giàu cảm xúc uống nước nhớ nguồn, được các gia đình của mọi dòng họ
Việt Nam vẫn thường dạy dỗ con cháu, đặng góp vào việc đánh thức những cảm xúc
hướng thiện trong chúng ta trong cuộc hành trình trở về cội nguồn đang diễn ra
sôi nổi hôm nay.
Trước hết, chúng ta hãy bắt đầu từ những trang của lời
tựa, mà ở đây chúng ta thường bắt gặp những suy nghĩ dung dị về đạo đức làm con,
đạo làm người, về mục đích của việc biên soạn gia phả.
Bài tựa gia phả họ Tăng ở thôn Nghiêm Thắng, huyện Đô
Lương, Nghệ An viết: “Cây có nghìn cành vạn lá là nhờ có gốc. Nước có nghìn suối
vạn dòng là nhờ có nguồn. Con người ta họ hàng con cháu đông đảo, ai mà không
bắt nguồn từ tổ tiên?”.
Bài tựa gia phả họ Nguyễn Nhân ở làng Xuân Dương, huyện
Thanh Chương, Nghệ An viết: “Có người hỏi tôi viết gia phả để làm gì? Tôi đáp:
Đạo Càn thành nam, đạo Khôn thành nữ, con người nhờ đó được sinh ra. Vì thế con
người ta sinh ra phải kính trọng cha mẹ, tôn kính tổ tông. Lúc bắt đầu là từ một
gốc, sau chia ra nhiều nhánh, rồi nối tiếp nghìn vạn con cháu. Bởi lẽ đó, nếu
không chép phả thì con cháu các đời sau làm sao mà biết được?”.
Bài tựa gia phả họ Đỗ thôn Đại Định, xã Cao Đài huyện
Vĩnh Lạc, Vĩnh Phú viết: “Phép làm gia phả là chi chép nguồn gốc tổ tông, như
cành có gốc, như nước có nguồn, có vật nào mà lại không như vậy? Làm con cháu
nếu không biết họ hàng tông tộc bắt nguồn từ đâu, khi đối đáp với người ngoài
thì dụng dạ rỗng tuếch, chẳng biết nói gì, hoặc nói về tổ tiên thì ú ớ cái lưỡi.
Kế thừa máu thịt của ông cha mà như thế, phỏng có hổ thẹn không?”.
Bài tựa gia phả họ Mai ở Phương Liệt viết: “Kính nghĩ
các cụ tổ tiên ta phúc đức đầy đặn, ăn ở hiếu hạnh. Cụ thủy tổ ta sinh ra ở đất
Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay), nảy nở điềm lành ở vùng sông Nhĩ (sông Hồng). Trải
qua các đời thứ hai, thứ ba, thứ tưu, thứ năm nối nhau kế thừa, có người văn học
tiếng tăm, có người đạo đức ngời sáng. Được như vậy là do tổ tiên gây dựng từ
lâu đời. Làm con cháu mà không biết ăn ở đầy đặn, không biết báo đáp công ơn tổ
tiên thì còn ra quái gì nữa! Kinh Thi nói: “Tưởng nhớ tổ tiên, tu dưỡng
đạo đức, một niềm tu dưỡng, giữ lấy nếp nhà” làm cho sự nghiệp của tiền nhân
được vẻ vang, làm gì có con đường nào khác nữa đâu. Những người khéo đọc gia phả
hãy nên suy ngẫm về điều đó...”.
Ngày nay chúng ta đọc bất cứ bài tựa nào của bất cứ một
cuốn gia phả nào của người Việt Nam chúng ta, chúng ta đều được đọc những dòng
chữ, những suy nghĩ về ông bà tổ tiên thành kính, trân trọng như thế.
Đấy là ở bài tựa. Còn về nội dung thì sao? Trong rất
nhiều cuốn gia phả ngoài phần chép tên tuổi, ngày giỗ, phần mộ, còn có những
dòng miêu tả hành trạng, tính cách, điều ăn nết ở rất sống động, đọc lên, chúng
ta có cảm giác như các cụ “canh tường như tại”(1), đang sống cùng cháu con, đang dạy dỗ cháu con,
chính bằng cuộc sống của mình.
Gia phả họ Bùi xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, Hà Đông (nay
là Hà Tây) viết về cụ tổ đời thứ 10 là cụ Ôn Mục Đoan Khiết công như sau: “Tính
cụ nghiêm thẳng, trị nhà cần kiệm có phép, thờ phụng cha mẹ rất hiếu thảo, giữ
mình kính cẩn, đãi người chân thành, đối với hàng xóm thì hòa mục lễ nghĩa,
tương thân tương ái, không ai chê trách gì được...”. Khi viết về cụ bà, gia phả
chép càng cảm động hơn: “... Cụ bà hiệu là Từ Tường nhụ nhân, tính nết cần kiệm
tần tảo, rất mực thương yêu chồng con. Thuở còn hàn vi, mỗi khi đi chợ về, cụ
đều giành ra vài đồng tiền kẽm để mua giấy bút cho con đi học. Cụ Khắc Trai công
chăm chỉ học hành, ngày sau thành đạt, phần nhiều là nhờ công lao dậy dỗ của cụ
vậy. Sau này cụ Khắc Trai công làm quan ở viện Hàn lâm, thường xót xa về nỗi mẹ
già đã qua đời, không được phụng dưỡng. Đến ngày giỗ mẹ, cụ xúc động làm một bài
thơ rằng:
“Quan cao nơi viện Hàn
lâm,
Cảm thương nhớ mẹ, ướt đầm lệ
sa.
Giờ đây tuổi hạc đã già,
Ba mươi năm trước, xót xa nhớ
người.
Công danh vinh hiển ở đời,
Cũng là ơn mẹ, khôn nguôi báo
đền..
Ấy nhờ phúc ấm tổ tiên,
Quế lan tươi tốt, vững bền dài
xa..”
Gia phả họ Lê ỡ xã Phù Xá, huyện Kim Hoa, phù Đa Phúc,
tỉnh Bắc Ninh, là một vọng tộc lớn ở Bắc Ninh xưa, gia phả viết rất kỹ càng đầy
đủ. Đặc biệt những dòng viết về công tích đạo đức của tiền nhân đọc lên rất xúc
động. Như đoạn viết về cụ tổ đời thứ 8 rằng: “... Khi cụ làm xã trưởng, cụ xử sự
công bằng, được dân xã tin yêu... Vả lại, bấy giờ gặp lúc lắm gian nan, dân tình
đói kém, phàm gặp người nào có tai ách, cụ đều rủ lòng chu cấp, mọi người đều
được hưởng ơn trạch. Sau khi cụ mất, hai xã tưởng nhớ công đức, đều xin được thờ
cụ ở trong đình... Kìa như họ nhà ta đối với dân chúng hai xã Đông Đoài có ơn
trạch rất lớn, là bắt đầu từ cụ tằng tổ Nghiêm Quang hầu vậy. Cụ tổ ta nối theo,
xây dựng nhà tế đường, sửa sang hương lệ, sắp đặt kỷ cương, đời đời tuân theo,
cũng là một việc làm to tát cho dân. Nghìn năm hương hỏa vẫn còn trường tồn nơi
miếu xã, mà nhà ta nối đời hưng thịnh. Đó thực là nhờ các cụ liệt tổ nhà ta để
lại ơn trạch đến vô cùng vậy”.
Cũng trong cuốn gia phả họ Lê ở Phù Xá này, đọc đến đoạn
văn bia, đọc bài minh họa sau đây, con cháu nào mà không tự hào chính đáng về
tiên tổ: “Kìa như cụ chỉ là người ở nơi thôn dã cuộc đời gặp nhiều cảnh ngộ vất
vả gian nan, mà sừng sững hơn hẳn bọn lưu tục, ưa văn học, thích bố thí, lấy đạo
làm việc thiện để lại cho con cháu, làm vinh hiển cho gia tộc, xóm làng. Khi mất
lại được vua ban cáo mệnh phong tặng, vẻ vang cả nơi chín suối. Hai xã Đông Đoài
chịu ơn và tưởng nhớ công đức cụ, đã phối thờ cụ ở trong đình, để mọi người tới
đó kỷ niệm cụ không bao giờ mất vậy.
Khám thờ bốn thước, khu mộ tốt tươi, dựng tấm bia to,
khắc sâu công đức.
Có bài minh ca ngợi rằng:
“Núi Sóc Sơn cao vút,
Sông Nguyệt Bảo trong xanh.
Nhà họ Lê ta ấy
Hàm chứa bao tinh anh.
Cụ đội ơn tiên tổ,
Gia sản giầu thêm nhanh.
Một đời làm việc thiện,
Con nối nghiệp cha anh.
Mọc lên cây ngọc quý,
Được triều đình tôn vinh.
Hiển hách tên tuổi ấy.
Còn mãi với trời xanh.
Bia đá này ghi khắc,
Không mờ mòn đức âm.
Núi Thái Sơn sừng sững,
Ngưỡng mộ mãi ngàn năm”.
Gia phả (bản khắc in) họ Đỗ ở làng Chương Dương, huyện
Thường Tín tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây), những tấm gương sáng ngời về đạo đức
của các cụ còn được viết xen kẽ thành những mẩu chuyện nho nhỏ, rất giầu ý nghĩa
giáo dục và giá trị văn chương, đọc lên con cháu nhớ mãi. Xin nêu ra đây vài
truyện.
1. Truyện nhường ao của cụ Đoan Lương
Cụ tổ đời thứ 6 là cụ Đoan Lương (húy Tông) thi đỗ Tam
trường khoa thi Hương năm Quý Mão (1723) niên hiệu Bảo Thái thứ 4, làm quan Đồng
tri châu châu Lộc Bình, xứ Lạng Sơn. Khi về hưu, cụ giữ chức văn trưởng hội Tư
văn ở làng. Cụ có mua một cái ao, phía đông giáp chân đê, phía tây và nam liền
với cái ao của ông Trung úy Lượng, phía bắc giáp đường xóm Thượng Phúc. Nguyên
phía trước nhà ông Lượng có bốn cái ao liền bờ, vuông hình chữ điền, cụ mua một
cái, ông Lượng mua ba cái. Ý ông Lượng muốn mua nốt cái ao của cụ, phá bỏ bờ
thành một cái ao to để thả cá và trồng sen trước cửa nhà cho đẹp. Ông Lượng có
lần hỏi mua, nhưng cụ không bán, nên ông Lượng để bụng thù.
Nhân ngày cuối năm, cụ cho người lên dọn ao, cắt cỏ xung
quanh bờ cao và đánh cá ăn tết. Thấy vậy ông Lượng vu cho cụ là đẽo vạc chân đê,
mở rộng ao, định làm đơn thưa kiện. Có người mách với cụ, cụ bèn gọi các con đến
bảo rằng: “Việc dọn ao, cắt cỏ, đánh cá là việc nhà ta làm hàng năm. Nay ông
Lượng muốn mua cái ao của ta không được, bèn vu ra chuyện đẽo vạc chân đê để đi
thưa kiện. Gặp được quan thanh liêm thì chẳng nói làm gì. Nhưng thời buổi kim
tiền này, quan thấy kiện như kiến thấy mỡ, nén bạc đâm bạc tờ giấy. Vả lại, quan
bênh quan, đồng tiền trên lẽ phải, ta dù có lý đến mấy cũng thua. Cổ nhân có
câu: “Thua kiện mười bốn quan năm, được kiện mười lăm quan chẵn”, mà đã gây sự
kiện cáo, hẳn sinh oán thù, một đời kiện ba đời thù, như thế phỏng có ích gì?”.
Sau đó cụ bèn chủ động đến nhà ông Lượng, bảo với ông Lượng rằng: “Ông muốn mua
cái ao của tôi, phá bờ thành cái ao to trước nhà, trồng sen thả cá cho đẹp thì
tôi nhượng lại cho, việc gì phải thưa với kiện”. Rồi cụ đưa văn tự ao cho ông
Lượng.
Về sau, sau khi ông Lượng chết, con cháu ông Lượng không
chịu làm ăn, ham mê rượu chè cờ bạc, lại đem chiếc ao to ấy bán cho cháu cụ là
cụ Ôn Văn đời thứ 8.
2. Sự tích ngôi mộ cụ Ôn Văn
Ngôi mộ cụ Đỗ Đình Đại (hiệu Ôn Văn) đời thứ 8 để ở gò
con Nhạn, xứ đồng Mật, làng Bạch Mai, tổng Kim Liên, huyện Thọ Xương, sau là
huyện Hoàn Long, Hà Nội.
Năm Tân Mão (1831) cụ Đỗ Danh Tuấn 15 tuổi lên trọ ở
làng Bạch Mai để lên Hà Nội học. Ở chỗ cổng làng Bạch Mai có bà bán nước chè
tươi và quà bánh cho khách bộ hành qua lại. Như thường lệ, sáng nào cụ cũng ra
đấy uống bát nước chè tươi nóng hổi, hút điếu thuốc lào, rồi mới đi lên Hà Nội
học.
Một hôm cụ ra quán nước đã thấy một ông lão, áo quần
rách rưới lôi thôi, râu tóc bạc phơ ngồi ở trong quán. Cụ vào uống nước xong,
cầm lấy cái điếu, thông bã vê thuốc, châm đóm định hút. Vừa lúc ấy ông lão giằng
điếu tranh hút. Cụ vui vẻ châm lửa nhường ông lão hút trước, còn mình thông bã
hút sau, sắc mặt không có tí gì là bực tức. Cách hai hôm sau, ông lão lại tranh
hút như trước, nhưng cụ vẫn một niềm kính cẩn, sắc mặt không hề bực tức. Cách ba
ngày sau, ông lão vẫn tranh hút như hai lần trước, cụ vẫn một niềm vui vẻ mời
ông lão hút trước. Khi ông cụ đi khỏi, ông lão hỏi bà hàng rằng cậu học trò này
quê quán ở đâu bà có biết không? Bà hàng bảo, tôi nghe nói cậu ở dưới phủ Thường
Tín lên đây trọ học. Ông thân sinh cậu là Tri huyện, Tri phủ gì đấy. Ông lão
bảo: Con nhà gia thế có khác, có phúc mới có người con như thế.
Một hôm cậu đi học về, gặp ông lão ở Cầu Dền, ông lão
gọi lại và bảo cho cậu biết, rằng lão chính là thảy Địa lí đi để đất cho thiên
hạ, thấy đây có ngôi đất đẹp, lão thử xem nhà nào có đức thì sẽ để cho. Lão đã
thử nhiều người, chẳng ai vừa ý. Nay thấy cậu khiêm nhường, lễ nghĩa, trọng
người cao tuổi, lão để ngôi đất ấy cho. Cậu về thưa với quan nhà, lên mua thửa
ruộng ấy. Nhớ đến ngày 16 tháng chạp, sớm tinh sương, có đủ mặt ở đấy, lão đến
cắm hương cho. Nhớ mua thêm mươi thúng gạch vụn, cát, vôi bột, để lúc lấp huyệt
cần dùng đến...
Đúng hẹn sáng sớm tinh mơ ngày 16 tháng chạp, ông lão đã
có mặt, cắm đất đào huyệt, đặt quan tài, phân kim ngắm hướng xong, cho lấp đất.
Lúc lấp đâts còn cách mặt ruộng ba gang tay, ông lão bảo trộn đều gạch, cát, vôi
bột đổ xuống dầy một gang, tưới nước nện chặt (đó gọi là đất tam hợp, sau này
cho con cháu dễ nhận), sau đó đắp đất lên như ngôi mộ khác. Ông lão còn bảo, nếu
muốn xây phải đợi ngoài 100 năm mới xây và đặt mộ chí được. Khi cụ Trường Ấn (bố
cụ Tuấn) đưa biếu lễ vật và tiền, ông lão không nhận, chỉ lấy 1 phẩm oản, 1 quả
chuối mà thôi.
Tính đến năm an táng cụ là năm Tân Mão (1831) đến năm
Bính Tý (1936) cháu đời thứ 12 là cụ Đỗ Danh Doãn (hiệu Tế Xuyên) xây mộ cụ vừa
đúng 105 năm, đúng như thày địa lý nói. Nếu không có đất tam hợp thì năm Canh Tý
(1900) bọn thù nghịch đã đào mất mộ rồi. Thực là công việc ở đời đều bởi ông Tạo
hóa định liệu trước cả, người đời chỉ biết làm theo, đến đâu biết đấy. Cứ chịu
khó làm lụng, thực thà hiền lành, ắt được hưởng lộc trời cho, chỉ có sớm muộn mà
thôi.
3. Truyện đào trộm ngôi mội cụ Ôn Văn ở Bạch
Mai
Ngôi mộ cụ Ôn Văn an táng ở gò con Nhạn, xứu Đồng Mật,
làng Bạch Mai, huyện Thọ Xương, sau là huyện Hoàn Long, Hà Nội. Năm Canh Tý
(1900) ở Chương Dương có kẻ thù nghịch cho người lên đào trộm, nhưng không được.
Chuyện rằng:
Tối 30 tháng Chạp năm Canh Tý (1900) trời tối như mực,
lại mưa phùn gió bấc, đêm tĩnh mịch vắng vẻ. Ở cổng làng Bạch Mai có cái điếm
canh, cách ngôi mộ cụ Ôn Văn chừng 100m. Trong điếm có 7, 8 người tuần phiên
canh gác. Họ chung nhau mua mấy con cá rán, ít xôi, chai rượu để đến lúc giao
thừa cùng nhau nâng chén mừng xuân. Chính trong lúc mấy anh em trương tuần quây
quân đánh bạc làm vui, thì ngoài mộ bọn thù nghịch đang đào trộm ngôi mộ cụ.
Đúng lúc ấy, chợt có con mèo ở đâu đến tha mất con cá rán, bọn tuần vội đứng lên
đuổi bắt mèo. Nhưng trời tối, họ chẳng biết mèo chạy đằng nào, chỉ hô hoán lên:
“Nó kia, nó kia, bắt lấy nó!” Mấy tên đào trộm mộ nghe tiếng hô hoán, tưởng lộ
chuyện, vội bỏ về thẳng. Sáng hôm sau, anh em đi tuần qua đấy mới biết ngôi mộ
đêm qua bị đào trộm, đất cát đang còn bừa bãi. Cụ Diên, người chủ thửa ruộng và
trông nom ngôi mộ, vội cho người xuống báo ngay cho cụ Xuân Trạch biết. Cụ Xuân
Trạch liền lên làm lễ điền hoàn và đắp lại ngôi mộ như cũ.
Cụ Diên thường nói: “Từ ngày tôi trông nom ngôi mộ, tôi
ăn nên làm ra, con cái học hành thành đạt, nên trông nom rất cẩn thận”. Việc đào
trộm mộ ở Bạch Mai có nhiều người biết. Họ bảo nhau rằng: “Đó là quan Thổ thần
hóa làm mèo vào tha cá để báo cho anh em tuần phu biết, chứ có phải mèo thật
đâu, vì số cá rán chẳng mất con nào cả”. Về sau chuyện mới rõ ràng, có ông Bát
Hanh, người làng Chương Dương đi lính cho Pháp, được ban hàm bát phẩm, bị cụ
Xuân Trạch giật mất chức Tiên chỉ, nên để tâm báo thù, cho người lên đào trộm
mộ.
Sau này con trai ông Bát hanh nghèo túng, phải quay về
nhờ vả cụ Danh Doãn, là cháu đời thứ 12. Thế mới biết cổ nhân nói: “Ở hiền gặp
lành, ở ác gặp ác” chẳng sai tí nào.
4. Truyện vứt thuốc phiện vào thùng phân
Cụ tổ đời thứ 9 họ Đỗ ở Chương Dương là cụ Ôn Cung, thụy
là Đoan Lượng. Cụ đỗ Cử nhân năm Ất Dậu (1825) lúc 29 tuổi, sau làm quan Tri
huyện Lang Tài, thăng Tri phủ Quốc Oai, rồi giữ chức Lễ khoa Cấp sự trung. Thời
kỳ cụ làm việc ở Khoa đạo 7 năm, hai lần đi thanh tra ba tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh,
Bình Định, lúc về chỉ có mấy gói thuốc Bắc, có quan Bố chính Bình Định là Phan
đại nhân, người làng Phù Ủng, Hải Dương là người nghiện thuốc phiện, có tặng cụ
hai lọ thuốc phiện, chừng độ 30 lạng. Cụ miễn cưỡng phải nhận để yên lòng người
cùng xứ, làm quan nơi xa gặp nhau. Cụ xử sự cận với nhân tình như vậy
đấy.
Về nhà cụ nói dối cụ bà rằng, đó là hai lọ thuốc cao,
khi nào cụ bảo mở thì mới được mở.
Một hôm cụ bà đi vắng, cụ đem hai lọ thuốc phiện đó vứt
vò thùng phân. Cụ bà về biết chuyện, có phàn nàn rằng: “Hai lọ thuốc đắt tiền,
giá đến hơn 300 quan, sao không bán đi chẳng được món tiền to hay sao. Tiếc quá!
tiếc quá!”. Cụ bảo: “Thuốc ấy là vật giết người, làm tan nát cửa nhà, mình đã
không dùng, sao nỡ tham lợi bán cho kẻ khác kiếm vài trăm quan tiền thì yên tâm
sao đánh!”. Kể từ khi cụ được bổ nhiệm chức Hữu kinh lịch tỉnh Quảng Trị, đến
Giám sát ngự sử đạo Thanh Hóa, hơn 15 năm, dân gian có việc thưa kiện, trước cụ
lấy điều nghĩa lý hòa giải, sau mới lấy luật phát phân xử nhanh chóng, không để
đọng án, kéo dài dây dưa, tốn phí thời gian đi lại, phiền nhiễu cho
dân.
Đấy, gia phả viết về ông cha như thế, con cháu muôn đời
sau đọc đến, ai mà không cảm động, ai mà không tự hào. Những tấm gương sáng như
thế, con cháu nào mà không noi theo. Trong ngôn ngữ ta có từ “bách tính”, nghĩa
là trăm họ, đồng nghĩa với từ “quốc gia”, “dân tộc”, “đất nước”. Nhiều nhà họp
thành họ, nhiều họ họp thành làng, nhiều làng họp thành nước. Mọi nhà, mọi họ
làm việc thiện tất sẽ có nhiều phúc khánh. Cả nước làm việc thiện, nước tất sẽ
hưng vượng.
Bài viết nhỏ này chỉ xin trích dịch một số đoạn, dăm ba
truyện dồi dào cảm xúc về đạo lý uống nước nhớ nguồn mà trong bất cứ một cuốn
gia phả của dòng họ nào cũng đều có thể tìm thấy, những mong tiếp thêm một chút
ít sức mạnh tinh thần truyền thống cho chúng ta trên con đường chấn hưng dân tộc
Việt Nam ta hôm nay(2).
Chú
thích:
1. Canh tường: theo sách Hậu Hán thư - Lý Cố
truyện: “Sau khi vua Nghiêu chết, vua Thuấn tưởng nhớ suốt 3 năm, khi ngồi
như thấy bóng vua Nghiêu ở trên tường, khi ăn như thấy bóng vua Nghiêu ở trong
bát canh. Sau đó, từ này được dùng như một động từ, chỉ sự tưởng nhớ không
quên.
2. Cảm ơn bạn Đỗ Diễn Hịch đã cung cấp một số tư liệu về
dòng họ Đỗ ở Chương Dương, Thường Tín, Hà Tây.
*Tác giả Mai Xuân Hải - cán bộ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm (đã nghỉ hưu).
Thông báo
Hán Nôm học 1996 ( tr.115-128)
Gia phả
Gia phả là bản ghi chép tên họ, tuổi tác,
vai trò và công đức của cha mẹ, ông bà, tiên tổ ... trong thời đại mà họ đã sinh
ra và lớn lên của một gia đình hay một dòng
họ.
Gia phả có thể được coi như một bản sử ký của một
gia đình hay một dòng họ. Gia phả có khi gọi là Phổ ký, có khi là Phổ
truyền. Các nhà Tông thất (dòng dõi vua quan), có khi gọi gia phả của vương
triều mình hay gia tộc mình bằng từ ngữ trân trọng hơn: Ngọc phả, Thế
phả...
Tại các nước Đông Á, chịu ảnh
hưởng của Đạo
Khổng, các thế hệ sau trong dòng họ hay vương triều phải giữ đạo
Trung đạo
Hiếu. Việc xây dựng và lưu truyền gia phả được xem là một cách ghi nhớ công
ơn tổ tiên, gây dựng lòng tự hào trong dòng tộc.
Ở Tây phương, người ta có tập tục làm cây phả
hệ, tương tự như Tông đồ của người Hoa hay người
Việt.
Một Tông đồ, một Gia phả, một Phả ký, một Phổ
truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài liệu quý báu cho nhà xã hội
học, nhà sử học về sau. Nó
còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền
học, huyết
học, y
học nữa.
Môn học nghiên cứu về gia phả là gia phả
học.
Tại Trung
Quốc, gia phả đã xuất hiện dưới dạng thức "thế bản" từ thời nhà Chu (111-256
TCN).
Tại Việt Nam, gia phả sơ
giản ghi chép tên cúng cơm, ngày giỗ và địa điểm an táng của ông cha. Theo các
nhà sử học phỏng đoán thì gia phả đã xuất hiện từ thời Sĩ Nhiếp làm Thái
thú ở Giao Chỉ, hoặc gần hơn
tức là từ thời Lý Nam Đế
(khoảng nǎm 476-545). Nhưng phải đến thời
nhà
Lý, nhà Trần mới xuất
hiện những cuốn tộc phả, thế phả (ghi cả thế thứ, tông tích toàn họ), phả ký
(ghi lại hành trạng, sự nghiệp của tổ tiên).
Mới đầu gia phả xuất hiện chỉ trong Hoàng tộc
cùng giới quan lại, nhà Lý có Hoàng
Triều Ngọc Điệp - năm 1026; nhà Trần có
Hoàng Tông Ngọc Điệp, nhà Lê có Hoàng Lê
Ngọc Phả... Cùng với sự xuất hiện các gia phả của Hoàng tộc là gia phả của
các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến ghi chép gia phả trong nhân
dân.
Trước đây, gia phả chủ yếu được ghi chép bằng chữ
Hán-Nôm, nhưng số người giỏi không nhiều, qua nhiều năm chiến tranh, nhiều bộ,
cuốn gia phả của nhiều dòng họ cũng mất dần...
Tục làm gia phả phát triển mạnh ở hai miền Bắc và
Trung, miền Nam rất ít gia đình làm gia phả ở đấy còn được gọi là "gia phổ" và
biến thái thành "tông chi" tức tờ "tông chi tông đồ".
Trong gia phả, người đứng đầu ngành trưởng
(trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi hết những chi tiết về thân thích và dòng
dõi; những người con khác sao lại bản gia phả chính đó. Các gia đình giữ gìn kỹ
lưỡng và truyền từ đời cha tới đời con. "Họ" theo nghĩa gốc có liên hệ với nhà
và dưới chế độ phong kiến, nối kết con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia
đình, một họ. Họ và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã
hội, xác định cá thể trong một toàn thể.
Cấu
trúc
Gia phả được coi là hoàn chỉnh trước hết phải là
một gia phả được ghi chép rõ ràng, chữ nghĩa chân phương, có nội dung cơ bản như
sau:
- Thông tin rõ ràng về người sao lục (biên soạn).
- Nêu nguồn gốc xuất xứ của gia tộc, là phả ký hay
là gia sử.
- Ghi Thuỷ Tổ của dòng họ.
- Ghi từng phả hệ phát sinh từ Thuỷ Tổ cho đến các
đời con cháu sau này. Có phần phả đồ, là cách vẽ như một cây, từng gia đình là
từng nhánh, từ gốc đến ngọn cho dễ theo dõi từng đời. Đối với tiền nhân có các
mục sau đây:
- Tên: Gồm tên
huý, tên tự, biệt
hiệu, thụy hiệu và
tên gọi thông thường. Thuộc đời thứ mấy? Con trai thứ mấy của ai?
- Ngày tháng năm sinh (mất), giờ (nếu nhớ). Mộ nguyên táng, cải táng, di táng
tại đâu? Thời gian nào?
- Học hành, thi cử, đậu đạt, chức vụ, địa vị lúc sinh thời và truy phong sau
khi mất.
- Vợ: chánh
thất, kế
thất, thứ
thất... Họ tên, con thứ mấy của ai? Quê ở đâu? Các mục ngày, tháng, năm
sinh, ngày, tháng, năm mất, tuổi thọ, mộ, đều ghi từng người như trên. Nếu có
thi đậu hoặc có chức tước, địa vị, được ban thưởng riêng thì ghi thêm.
- Con: Ghi theo thứ tự năm sinh, nếu nhiều vợ thì ghi rõ con bà nào? Con gái
thì cước chú kỹ: con gái thứ mấy, đã lấy chồng thì ghi tên họ chồng, năm sinh,
con ông bà nào, quê quán, đậu đạt, chức tước? Sinh con mấy trai mấy gái, tên gì?
(Con gái có cước chú còn con trai không cần vì có mục riêng từng người thuộc đời
sau).
- Những gương sáng, những tính cách, hành trạng đặc biệt, hoặc những công đức
đối với làng xã, họ hàng, xóm giềng... Những lời dạy bảo con cháu đời sau (di
huấn), những lời di chúc...
- Ngoài những mục ghi trên, gia phả nhiều họ còn lưu lại nhiều sự tích đặc
biệt của các vị tiên tổ, những đôi câu đối, những áng văn hay, những bài thuốc
gia truyền...đó là những tài sản quý giá mà chúng ta để thất truyền, chưa biết
khai thác.
-
Tiếp theo, là tộc ước. Đây là những quy
định-quy ước trong tộc họ, đặt ra nhằm ổn định tộc họ, có công thưởng, có tội
phạt, tất nhiên là phải phù hợp với luật pháp chung.
- Với một tộc họ lớn, có thể có nhiều tông nhánh, chi phái. Phần này sẽ ghi
những thông tin chi phái, ai là bắt đâu chi, chi hiện ở đâu, nhà thờ chi...
- Những thông tin khác về tài sản hương hỏa, bản đồ các khu mộ tiền nhân
v.v.
Gia phả học là môn học nghiên cứu về gia
phả.
Môn học này đang được phát triển ở khắp nơi trên
thế giới. Lý do là ngày càng có nhiều người trong xã hội, trong gia đình nhận
thấy gia phả là tài liệu quý báu cho nhiều ngành học. Một Tông đồ, một Gia phả,
một Phả ký, một Phổ truyền dù đơn sơ hay súc tích cũng đều trở nên những tài
liệu quý báu cho nhà xã hội
học, nhà sử học về sau. Nó
còn có thể hữu dụng cho những nghiên cứu về tâm lý, về di truyền
học, huyết
học, y
học. Một lý do nữa là với tiến bộ của công nghệ, kỹ thuật ghi chép, sưu tầm
những tin tức, tra cứu lịch sử ... càng ngày càng thuận lợi hơn.
Việc phổ biến gia phả giới hạn trong vòng gia
đình, tông tộc hay mở rộng ra trên Internet cho công chúng trong
phạm vi rộng khắp đã làm cho nhiều người băn khoăn về vấn đề bí
mật cá nhân. Lợi điểm của việc phổ biến rộng rãi là nhiều người có dịp đọc
đến có thể tìm ra một sự nối kết, có ý hướng sử dụng nó vào những mục đích
nghiêm chỉnh - hướng thiện, như bổ sung kiến thức cho văn hóa, cho lịch
sử.
Mục từ Gia
phả trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
* * *
GIA PHẢ VÀ TƯ LIỆU GIA PHẢ Ở
THƯ VIỆN VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM
Trần Thị Kim Anh
1/
Gia phả được hình thành trên cơ sở tồn tại của các gia tộc. Gia tộc,
theo quan điểm của Nho giáo, là sự liên kết quan hệ huyết thống theo
phụ hệ. Từ một ông tổ truyền xuống đến bốn đời được gọi là một tông
tộc, một gia tộc.
Xã hội người Việt từ khi phát triển theo chế
độ phụ hệ, đã dần hình thành các tông tộc. Nhưng tông tộc chỉ thực sự
được xem xét khi chế độ tông pháp ra đời. Trong quá trình tiếp xúc với
văn hóa Hán, người Việt do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, cũng nhìn nhận
tông tộc trên cơ sở chế độ tông pháp. Chế độ tông pháp lấy quan hệ
huyết thống làm cơ sở, tôn sùng tổ tiên, dựa vào quan hệ huyết thống để
phân biệt tôn ti, thân sơ, qui định quyền lợi và nghĩa vụ cho các cá
nhân trong một tông tộc. Càng về sau, khi Nho giáo đã thâm nhập và có
địa vị vững chắc trong xã hội người Việt, chế độ tông pháp càng được
nhìn nhận một cách nghiêm ngặt hơn, đặc biệt đối với hoàng tộc và các
dòng họ lớn. Do có vấn đề truyền ngôi kế vị, thừa kế... cho nên sự phân
biệt dòng đích, dòng thứ, đại tông, tiểu tông, trực hệ, bàng hệ là hết
sức cần thiết. Đối với xã hội đa thê, điều này lại càng thực sự quan
trọng. Hơn nữa, chế độ tông pháp còn có quan hệ hết sức mật thiết với
chế độ tang phục, nó là nền tảng để định ra chế độ tang phục, mà chế độ
tang phục lại là một trong những cơ sở để các bộ luật phong kiến chế
định trách nhiệm và quyền lợi của các cá nhân trước pháp luật. Hai bộ
hình luật phong kiến nổi tiếng là Bộ luật Hồng Đức đời Lê và Bộ luật
Gia Long đời Nguyễn, trong nhiều điều luật, đã căn cứ vào chế độ tang
phục, tức sự phân biệt giữa người thân, hàng phải chịu tang với hàng
không phải chịu tang, và giữa những người thân với nhau trong hàng phải
chịu tang(1), để định ra mức phạt cùng quyền lợi của phạm nhân và nạn
nhân. Chính vì vậy, để tránh nhầm lẫn, rối loạn về quan hệ thân sơ, nhu
cầu chép lại thế thứ tông tộc xuất hiện, mà gia phả là hình thức để thể
hiện.
Tuy nhiên ban đầu, việc chép phả có lẽ chỉ hạn chế chủ yếu
trong hoàng tộc và chỉ chú trọng vào thế thứ. Sau này, kể cho đến giai
đoạn Lý - Trần - Lê sơ, nhiều dòng họ phiệt duyệt xuất hiện, bao gồm
gia tộc của các công thần võ tướng, các danh sĩ khoa hoạn được tước
phong công hầu, ban phong thực ấp, thuộc hàng cao môn vọng tộc, đời nào
cũng có người làm quan, đỗ đạt. Còn ở các làng quê, với điều kiện kinh
tế mang tính tự nhiên, các dòng họ thường phải tụ cư để sinh sống, có
những dòng họ tồn tại đến hàng chục đời, với số nhân đinh lớn, có lực
lượng làm kinh tế lớn, giữ vai trò chính trị trong làng, nên đã phát
triển thành những dòng họ phú hào, có thế lực và ảnh hưởng lớn trong
làng xã. Đối với các dòng họ nói trên, việc chép phả để tôn sùng tổ
tiên, khuếch trương dòng họ là vấn đề cần thiết, cho nên rất có thể ở
giai đoạn này, nhiều gia phả của các dòng họ lớn đã ra đời. Tiếc rằng
hiện nay chúng ta không có được chút gì về tư liệu gia phả của thời đó
ngoài những đoạn truy nguyên về gốc tích dòng họ mình nằm trong phần Tự
văn của một số bộ phả ở thời kỳ cuối Lê và thời Nguyễn, như họ Đinh cho
rằng họ mình thuộc dòng dõi Đinh Tiên Hoàng, họ Phùng cho rằng mình
thuộc dòng họ Phùng Hưng... song tuy là chép vậy nhưng không đủ căn cứ.
Sau
khi nhà Lê Trung hưng, đặc biệt vào nửa cuối thế kỉ XVIII và thời
Nguyễn, qua tư liệu về phả còn lại, có thể thấy ở giai đoạn này, việc
chép phả rất được coi trọng và trở nên khá phổ biến. Không chỉ các tộc
họ lớn mới có phả, mà có thể nói gần như họ nào cũng có phả. Nhiều họ
lớn còn chia thành chi phả, phái phả. Phả thời kỳ này không chỉ đơn
thuần ghi về thế thứ mà đã trở nên khá hoàn bị. Nhìn trên đại thể, một
cuốn phả đầy đủ được cấu thành bởi các phần sau: Tự văn, Phả lệ, Tộc qui, Tộc mộ, Từ đường, Tộc điền, Phả hệ, đôi khi có thêm lời Bạt
. Nhiều gia phả còn có các bản vẽ mộ tổ, từ đường, tộc điền, sơ đồ dinh
thự; chép các khế ước, chúc thư, bằng sắc, thơ văn... khiến có bộ lớn
tới dăm bảy trăm trang, thậm chí đến hơn ngàn trang.
Phần Tự văn
có thể được viết nhiều lần, có phả có đến hai ba bài tự văn, thường thì
do các thành viên có danh vọng trong tộc viết, có nhà mời các bậc thức
giả có tiếng soạn giúp. Tự văn chủ yếu trình bày ý nghĩa của việc làm phả, nguồn gốc của dòng tộc, những sự kiện chính diễn ra trong lịch sử dòng tộc. Phần Phả lệ nói về thể lệ chép phả, có phả ghi qui định về tư cách người được ghi tên trong phả. Phần Tộc qui ghi các qui định của dòng họ về thể lệ cúng tế, trông coi từ đường, cày cấy tộc điền… Tộc mộ, Từ đường, Tộc điền được ghi cụ thể, rõ ràng diện tích và vị trí, phần nhiều có bản vẽ. Phần Phả hệ
là bộ phận quan trọng nhất trong gia phả. Phần này liệt kê tính danh
húy tự của tổ tông, tình hình công danh, khoa hoạn (nếu có), hôn nhân,
con cái, tuổi thọ, ngày giỗ, nơi táng. Con gái cũng được ghi vào phả
nhưng ít khi ghi húy tự, đôi khi cho biết gả vào họ nào. Nhiều phả có
ghi tỉ mỉ hành trạng của những người đem lại vinh hiển cho dòng họ, là
các bậc danh tướng, danh khoa, danh sĩ, trung thần, hiếu tử, liệt
phụ... cùng bằng sắc thơ văn của họ. Tuy nhiên không phải cuốn phả nào
cũng có đầy đủ các phần như vậy, nhiều phả chỉ có phần thế thứ các đời,
ngày giỗ và phần mộ, thông thường đây là phả của các dòng họ nhỏ.
Tóm lại, có thể nói người Việt từ lâu đời, do ảnh hưởng của Nho giáo,
đã sử dụng gia phả để chỉ rõ thống hệ, nhằm mục đích “đôn hiếu đễ,
trọng nhân luân, mục tông tộc, hậu phong tục.” Việc viết gia phả từ xưa
cho đến tận ngày nay đối với nhiều dòng họ luôn là việc quan trọng.
Việc này thường do người trưởng họ hoặc một người có danh vọng trong
dòng họ chủ trì. Về nguyên tắc, phả phải luôn được viết tiếp, nếu bỏ
qua sẽ bị coi là bất hiếu. Sau khi làm xong, phả được sao thành nhiều
bản giao cho các chi cất giữ cẩn thận để tránh bị mất và để lưu truyền
lâu dài từ đời này sang đời khác. Nhiều dòng họ dùng bia đá để ghi lại
tông phả của họ mình.
2/ Tại Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm
hiện nay còn lưu giữ được gần 250 gia phả của 28 họ, bao gồm các họ:
Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Doãn, Dương, Hoàng, Đặng, Đàm,
Đoàn, Ngô, Phạm, Lương, Phan, Hà, Nhữ, Hồ, Trương, Lưu, Mạc, Nghiêm,
Thẩm, Trịnh, Tường, Vương. Nếu so với con số các họ ở nước ta mới được
công bố gần đây là 964 họ thì quá ít ỏi, nhưng có lẽ đây vẫn là nơi có
số gia phả tập trung lớn nhất trên toàn quốc.
Về địa vực phân bố
thì trừ hai cuốn phả của họ Mạc ở Hà Tiên và họ Lê ở Thừa Thiên, còn
đều là phả của các dòng họ thuộc 16 tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra. Nếu sử dụng
cách phân chia Nam Bắc thời Lê Trịnh thì đây hầu hết là phả Đàng ngoài.
Cụ thể phân bố như sau (theo địa danh hiện tại):
1. Bắc Ninh, có các họ: Trần, Nguyễn, Đàm, Nghiêm, Trịnh.
2. Hà Nội: Trần, Nguyễn, Vũ, Bùi, Đỗ, Lê, Dương, Đặng, Ngô, Phạm, Phan, Lưu, Thẩm, Vương.
3. Hà Tây: Trần, Nguyễn, Vũ, Đinh, Đỗ, Lê, Doãn, Hoàng, Đặng, Đàm, Đoàn, Ngô, Lương, Phan, Trịnh.
4. Hà Tiên: Mạc.
5. Hà Tĩnh: Nguyễn, Hoàng, Ngô, Lương, Phan.
6. Hải Dương: Nguyễn, Vũ, Đinh, Bùi, Đỗ, Lê, Ngô, Phạm, Nhữ.
7. Hưng Yên: Nguyễn, Vũ, Đỗ, Trương, Tường.
8. Nam Định: Trần, Bùi, Lê.
9. Nam Hà: Nguyễn.
10. Nghệ An: Nguyễn, Đinh, Hồ.
11. Ninh Bình: Nguyễn.
12. Phú Thọ: Nguyễn.
13. Thái Bình: Nguyễn, Lê, Phạm.
14. Thanh Hóa: Trần, Nguyễn, Vũ, Lê, Hoàng, Ngô, Hà, Trịnh.
15. Thừa Thiên: Lê.
16. Vĩnh Phú: Nguyễn, Vũ.
Về
niên đại, phả có niên đại sớm nhất được biên soạn vào thời Cảnh Hưng
(1740 - 1786), cũng có một số phả mang niên đại biên soạn sớm hơn, vào
các thời Vĩnh Tộ (1619 – 1628), Chính Hòa (1680 - 1705), Vĩnh Thịnh
(1705 - 1719), nhưng đều là các bản sao. Còn hầu hết đều được soạn,
biên tập, sao chép vào các thời Gia Long (1802 - 1820), Minh Mệnh (1820
- 1840), Tự Đức (1848 - 1883)... cho đến niên đại muộn nhất là Bảo Đại
1936. Có bộ thậm chí chỉ mới được sao vào năm 1962. Trừ một bản là Chương Dương Đỗ phả
của dòng họ Đỗ ở Hà Tây được khắc in ở đền Lễ Môn vào năm Tự Đức Canh
Thìn (1880), còn lại hầu như toàn bộ đều là các văn bản chép tay. Gia
phả có số trang ít nhất là 8 trang, gia phả có số trang lớn nhất là
1200 trang, còn lại đều khoảng từ vài chục đến vài trăm trang. Dòng họ
chép được thế thứ dài nhất là 17 đời. Nhiều bộ phả do các Cử nhân, Tiến
sĩ hoặc các nhân vật nổi tiếng soạn, biên tập hoặc viết tự văn, như
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quýnh biên tập bộ Bối Khê Trạng nguyên gia phả; Cử nhân Bùi Xuân Nghi soạn Bùi thị gia phả; Cao Xuân Dục viết tự văn cho Đài Phong Đặng thị gia phả; Bùi Huy Bích viết tự văn cho Đinh gia tộc phả; Nguyễn Nghiễm soạn Hoan Châu Nghi Tiên Nguyễn gia thế phả; Thám hoa Vũ Công Tể soạn và viết tự văn Hải Bối Vũ công tộc gia phả; Hồ Tam Kiểm viết tự văn cho Hồ gia thế phả ; Lê Hữu Mưu soạn Văn Xá Lê tộc thế phả; Lê Quý Kiệt biên tập và viết lời bạt cho Kinh Bắc Như Quỳnh Trương thị quí thích thế phả; Ngô Thì Nhậm biên soạn Lương Xá Đặng thị gia phả; Lưu Đĩnh viết tự văn cho Lưu thị phả kí Phạm Đình Hổ soạn Đường An Đan Loan Phạm gia thế phả...
Phần
lớn số phả này là phả của các dòng họ có những nhân vật nổi tiếng,
nhiều người đỗ đạt, làm quan như: phả của dòng họ Trạng nguyên Nguyễn
Trực ở Bối Khê; Tiến sĩ Trần Mô ở Di ái; dòng họ Nguyễn Huy ở Phú Thị;
họ Dương ở Lạc Đạo; họ Nguyễn ở Bát Tràng; họ Nguyễn - Đa Ngưu; họ
Dương (Bá Cung) - Nhị Khê; họ Nguyễn - Đại Mỗ; dòng họ của Tiến sĩ Đàm
Thận Huy ở Ông Mặc; họ Đinh ở Nghệ An; họ Đinh - Hàn Giang; họ Ngô -
Đông Anh; họ Lương - Nhị Khê; họ Nguyễn (Du) - Tiên Điền; họ Nguyễn
(Công Trứ), họ Nguyễn (Thiếp), họ Phan (Đình Phùng) - Hà Tĩnh; họ Hồ -
Quỳnh Lưu; họ Nguyễn ở Nông Cống; họ Lưu - Nguyệt áng; họ Vũ - Mộ
Trạch; họ Nhữ - Hoạch Trạch; họ Ngô Thì - Tả Thanh Oai; họ Phan Huy -
Sài Sơn; họ Phạm, họ Phan - Đông Ngạc; họ Bùi - Thanh Trì; họ Lê (Hữu
Trác) - Liêu Xá; dòng họ của Thượng thư Lê Anh Tuấn; dòng họ của danh
sĩ Phạm Đình Hổ... Chính vì vậy xét về số trang cũng như nội dung, đây
là khối tư liệu khá đồ sộ và phong phú.
Ngoài việc nghiên cứu
lịch sử hình thành, phát triển của các dòng họ và giúp tìm hiểu, bổ
sung tư liệu cho tiểu sử các danh nhân, ở đây người ta còn có thể khai
thác được nhiều loại tư liệu thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhiều gia
phả cho tư liệu về đăng khoa; có những gia phả cung cấp tư liệu về
ngành nghề thủ công truyền thống như phả của họ Nguyễn ở Bình Vọng cho
biết về nghề sơn thiếp, làm dù, làm lọng; phả của họ Phạm ở Đan Loan
cho biết về nghề nhuộm và sự phát triển của nghề này ở Thăng Long...
Mảng tư liệu về phong tục, nghi thức cúng tế tổ tiên cũng là mảng tư
liệu quí; tư liệu về phong thủy - sự phát đạt của các dòng họ dựa trên
phong thủy là những tư liệu rất hữu ích giúp cho việc nghiên cứu về địa
lí nhân văn; nhiều tư liệu lịch sử không có trong chính sử nhưng gia
phả lại có; tư liệu về đời sống xã hội thời kì cuối Lê và Nguyễn cũng
là mảng tư liệu hết sức phong phú; đối với việc nghiên cứu xã hội học
lịch sử như nghiên cứu về hôn nhân, dân số..., người ta cũng có thể lấy
được tư liệu từ đây. Đó là còn chưa kể đến số lượng lớn bằng, sắc phong
tặng, thơ, văn, phú, tế, hoành phi, câu đối, văn bia bắt gặp trong hầu
hết các bộ phả, là nguồn tư liệu quí giá có thể làm giàu có thêm cho
kho tàng văn học cổ nếu được khai thác.
Tuy nhiên khi sử dụng
các tư liệu này cũng nên hết sức thận trọng, bởi phả là loại hình văn
học chức năng mang tính chủ quan cao, khi viết về dòng họ mình, do tự
tôn, người ta luôn có ý thức thêm vào những điều tốt đẹp, bớt đi những
sự không hay. Chẳng hạn, chân dung của Đinh Tích Nhưỡng trong gia phả
họ Đinh và hình ảnh ông ta dưới ngòi bút các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí và Vũ trung tùy bút
gần như trái ngược nhau. Trường hợp Nguyễn Hoãn - một sủng thần đời
Cảnh Hưng cũng vậy... hoặc như ở mảng văn chương, sự nhầm lẫn giữa tác
phẩm của người nọ với người kia là rất nhiều... Đối với các tư liệu
liên quan đến lịch sử cũng phải rất dè dặt.
Nhưng dù sao đây vẫn
là một phông tư liệu quan trọng cần được bổ sung và có kế hoạch nghiên
cứu khai thác. Gần đây, Trung tâm Phả học thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm
được thành lập, chúng tôi thực sự vui mừng trước sự kiện này. Hy vọng
rằng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Viện và được sự quan tâm
của các cấp lãnh đạo, Trung tâm sẽ đề ra được những biện pháp hữu hiệu
nhằm nghiên cứu khai thác số gia phả nói trên và về lâu dài sẽ tiến
hành sưu tầm bổ sung thêm bằng những gia phả hiện còn nằm ở các dòng họ
trên toàn quốc, trở thành Trung tâm bảo tồn, quản lí và nghiên cứu gia
phả mang tầm cỡ quốc gia.
Hà Nội, tháng 10 năm 2002
T.T.K.A
Chú thích:
(1)
Hàng phải chịu tang (Hữu phục) là những người thân trong hàng Ngũ phục,
bao gồm năm mức để tang người thân là: Trảm thôi - để tang 3 năm, Cơ
thân - 1 năm, Đại công - 9 tháng, Tiểu công - 6 tháng, Ty ma - 3 tháng.
Hàng không phải chịu tang (Vô phục) là những người họ xa trong tộc họ
hoặc họ ngoại, không nằm trong hàng Ngũ phục.
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 1 - 2003.
Theo nguồn blog Nguyễn Xuân Diện
|