
Ảnh: Võ An Ninh
Làng Việt – nơi cất giữ gia sản văn hóa của tổ tiên
Nguyễn Xuân Diện
Chúng ta đều biết rằng làng Việt đã là nơi cất giữ gần như toàn bộ gia sản văn hóa của tổ tiên chúng ta. Kiến trúc đình, chùa, miếu và các nhà ở dân gian là kết tinh sự hiểu biết của người xưa về môi trường, về kiến trúc và quan niệm về sự ở của tổ tiên chúng ta.
Mỗi một ngôi đình, đền, chùa này lại không đơn giản chỉ là một hiện vật bảo tàng, mà xung quanh đó, hàng ngày, hàng giờ vẫn diễn ra các sinh hoạt tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân. Vì vậy, nó chính là một bảo tàng sống động về văn hóa.
Lũy tre xanh và cách bố trí dân cư theo hình xương cá hoặc bố trí dọc theo nguồn nước là cách tự vệ và sự tuân thuận theo tự nhiên, hòa hợp với thiên nhiên, lợi dụng thiên nhiên - một triết lý của người Việt.
Làng Việt chính là nơi cất giữ văn hóa Việt. Chính làng Việt đã bảo vệ văn hóa Việt Nam khỏi cuộc đồng hóa của Tàu, của Tây từ hàng ngàn năm nay, làm nên sức mạnh đề kháng của văn hóa Việt Nam, tạo nên bản sắc và bản lĩnh văn hóa Việt Nam.
Vì thế, trước cơn cuồng phong của đô thị hóa như một quy luật tất yếu của thời đại mới, trong cơn mưa Âu gió Á này, làng Việt cổ truyền thống đang dần biến mất, thì chính là lúc văn hóa Việt bị đe dọa nhất.
Bên cạnh đó, các di sản văn hoá phi vật thể cũng có thể bị mất đi theo trào lưu chung. Xin nêu một ví dụ nhỏ, nhiều làng xưa có tục rước nước ở ao đình, giếng đình hoặc ở dòng sông bên cạnh làng về đình làng làm lễ tế thành hoàng làng. Nhưng nay, do quá trình đô thị hóa, cái giếng đó bị lấp đi, hoặc dòng sông đó bị ô nhiễm nặng nề, xông mùi hôi thối, thì một nét đẹp nghi lễ của hội làng là nghi lễ rước nước đã bị mất đi. Rất nhiều lễ hội có liên quan đến việc rước nước ở Hà Tây (cũ) đã bị mất đi cùng với những dòng sông thơ mộng.
Người dân, nhất là giới trẻ quay lưng lại với di sản văn hóa phi vật thể cha ông để chạy theo lối sống mới, văn hoá mới. Họ không trở thành những chiến sĩ gìn giữ văn hoá cổ truyền, họ không trở thành những người lính bảo vệ văn hoá cổ mà chối bỏ tất cả, nhập vào cuộc sống mới đang được đô thị hóa rất nhanh chóng.
Nếu chúng ta không giữ được làng Việt thì cũng sẽ không giữ được văn hóa Việt. Và đương nhiên nếu không giữ được văn hóa Việt thì chuyện mất sức đề kháng, bị đồng hoá, bị văn hóa ngoại lai đánh gục là một nguy cơ trông thấy.
Thiếu thông tin, đô thị hóa ồ ạt không tính toán tới bản chất mưu sinh của người nông dân là gắn với ruộng đồng nên đẩy người dân vào tình thế cười ra nước mắt. Người nông dân ở quê mong có con đường chạy qua, bán vài sào ruộng để kiếm tiền. Lúc đó, người nông dân không có phương tiện sản xuất, phải gồng gánh vào nội đô để bán sức lao động giản đơn. Khi có tiền, họ cũng du nhập về làng quê họ nhiều thứ như nghiện hút, nạn mại dâm cùng các tệ nạn xã hội khác…
Khi không còn đất để canh tác, người dân cũng dần quên đi các lễ hội tôn vinh nghề nghiệp; còn các câu hát dùng trong sinh hoạt nông nghiệp, phong tục liên quan đến cấy trồng không được truyền và tiếp nhận nữa.
Người thành phố ồ ạt về nông thôn mua đất cát làm biệt thự, điền trang. Chính họ đã đem văn hóa của thành phố về với nông thôn, gây nên những xáo trộn trong những làng quê tưởng chừng đời đời bình yên sau lũy tre làng xanh tươi.
Như vậy, việc bảo vệ và gìn giữ văn hóa làng trong thời buổi hiện nay là rất quan trọng, nhưng thật vô cùng khó khăn. Và để các di sản sống trong đời sống đương đại trở nên càng khó khăn hơn nữa.
Mỗi khi “thong thả nhân gian nghỉ việc đồng”. Ấy lúc các làng vào đám. Rộn ràng những đêm hội xuân. Rộn ràng những cờ quạt, nghi trượng và những đám rước. Những làng quê đang ngủ yên như bừng thức với bao khát vọng ngàn đời về sự no đủ, thanh bình yên ấm.
Nhưng rất gần kia là những khu công nghiệp, những sân golf, những dự án treo đang làm cho “mấy trăm năm thoáng mộng bình yên” của làng quê Việt không còn bình yên nữa!
Blog nguyễn xuân Diện












