|
| Người có kho hiện vật quý ở Bắc Hoàng |
TQĐT - Người ta gọi ông là “Ông già tha thẩn số một” cũng chẳng sai. 5 năm qua, đôi chân già nua của ông đã đi khắp nơi để sưu tầm hiện vật là những kỷ vật có giá trị lịch sử cách mạng, giá trị văn hóa đặc sắc của các dân tộc mà với nhiều người, đó là những đồ vật đã bỏ đi, hoặc bị lãng quên ở một góc nào đó. Và cứ mỗi ngày trôi qua, ông lại tìm thêm được một hiện vật để làm thành một nhà trưng bày, một kho hiện vật, kỷ vật quý của riêng ông. Vợ chồng ông sống trong ngôi nhà lá nhỏ đơn sơ, nhưng ai biết ông cũng bảo ông giàu. Nhưng không phải cái giàu có về mặt tiền bạc, vật chất mà ông giàu vì có cả một ngôi nhà đầy ắp những giá trị sống về truyền thống lịch sử cách mạng, truyền thống văn hóa các dân tộc. Người có kho hiện vật quý ấy chính là ông Đỗ Lê Hồng, tổ nhân dân Bắc Hoàng, thị trấn Sơn Dương (Sơn Dương).
Làm việc gì cũng phải có niềm tin
Nhiều năm công tác trong lĩnh vực văn hóa - văn nghệ, ông đau đáu một tâm nguyện sưu tầm những kỷ vật có giá trị lịch sử, văn hóa. Năm 1994, được nghỉ hưu cũng là thời gian ông bắt đầu hành trình của mình. Bàn chân ông chẳng từ chốn nào, bất kể lúc nào, khi nghe tin ở đâu có đồ vật gì là ông lại mang ba lô lên đường để tìm cho bằng được. Từ huyện Sơn Dương, Chiêm Hóa, Nà Hang rồi sang cả Thái Nguyên, ông chẳng từ hang cùng ngõ hẻm. Hiện vật do ông sưu tầm được ngày càng nhiều lên, để tràn ra khắp ngôi nhà nhỏ, khiến vợ và các con ông đôi lúc cũng cảm thấy khó chịu. Có lúc vợ ông bảo: “Nhà này không phải để cho ông chứa mấy cái thứ đồng nát người ta vứt đi đâu nhé”. Thế rồi, nhân cơ hội ông đi vắng mấy ngày, bà Mơ - vợ ông liền bảo con trai gom những đồ vật của ông vào bao tải, chèn đá vứt xuống sông để cho “Bố mày từ nay chừa cái việc làm ấy đi”.
|

Ông Đỗ Lê Hồng giới thiệu những hiện vật sưu tầm được.
|
Ông về chẳng thấy còn hiện vật nào, ông cuống quýt, phăm phăm ra giữa dòng sông lặn ngụp mấy ngày với hy vọng sẽ tìm được đồ vật nào chăng. May mắn tìm được một số hiện vật còn sót lại dưới lòng sông, ông mừng quýnh, chạy về bảo vợ: “Bà giấu khéo thật đấy, may mà bà chèn đá không thì đi toi hết của tôi rồi”. Vừa giận vừa thương, nhưng hiểu được niềm đam mê của ông, bà Mơ từ đó cũng vui vẻ chấp nhận. Ông Hồng cười khà khà bảo: “Để đề phòng những hiện vật sưu tầm được không bị vứt đi nữa, tôi gói gém cẩn thận rồi viết chữ “Cấm vứt” thật to dán ở bên ngoài”. Không chỉ có vợ con ông ban đầu không ủng hộ, nhiều người trong thôn cũng rỉ tai nhau: “Chỉ có hâm mới làm thế”. Ông nghe thấy vậy và buồn rười rượi mấy ngày liền. Ông thả ánh mắt xa xăm vào không trung rồi nói: “Việc tôi làm chẳng phải để mọi người biết đến hay vì một lợi ích gì, tôi tin vào việc mình làm sẽ mang lại một ý nghĩa nào đó cho cuộc sống”.
Cũng bởi niềm tin đó mà ông đem hết sức lực quãng đời còn lại để đi sưu tầm những hiện vật, kỷ vật mà theo ông những hiện vật, kỷ vật ấy như một pho sử sống hơn cả một cuốn sách khô khan, trừu tượng để giáo dục, tái hiện trước mắt mỗi người về lịch sử, về truyền thống anh hùng của dân tộc. Bằng niềm đam mê và niềm tin sẽ thành công, ông đã thuyết phục được gia đình và mọi người ủng hộ. Khi hiện vật ông sưu tầm chưa được nhiều như bây giờ, không có chỗ để, ông đã được dòng họ Đỗ ở tổ nhân dân Bắc Hoàng cho mượn nhà thờ của dòng họ để trưng bày. Còn giờ đây ông đã có một ngôi nhà trưng bày các hiện vật, kỷ vật sưu tầm được và hàng tuần ông lại trở thành “hướng dẫn viên” miễn phí cho mọi người trong ngôi nhà trưng bày ấy.
Ngôi nhà sàn - kho lưu giữ, trưng bày
Dẫn chúng tôi theo lối cầu thang lên ngôi nhà sàn do ông tự làm và hoàn thiện năm 2007 từ số tiền lương hưu dành dụm được, ông bảo, mỗi đứa cháu được tôi giao một chiếc chìa khóa của nhà trưng bày. Mỗi khi có bạn đến chơi, chúng lại đưa bạn lên nhà sàn trưng bày các hiện vật, kỷ vật của ông. Chúng tự hào về ông, về việc ông làm. Mỗi khi tìm được hiện vật mới, bọn trẻ lại cùng ông nâng niu, cặm cụi lau chùi bụi phủ và hàng ngày chúng lại cùng ông làm công việc ấy để qua năm tháng, các hiện vật không bị hoen gỉ.
Thầm lặng như con ong đi kiếm tìm hương hoa về làm mật, nhà trưng bày của ông giờ đã lên đến trên 200 hiện vật, kỷ vật có giá trị lịch sử, văn hóa. Ông đưa chúng tôi lên tham quan tầng hai của nhà trưng bày. Trong chúng tôi không ít người phải xuýt xoa. Các hiện vật, kỷ vật của ông chủ yếu là trong thời kỳ tiền khởi nghĩa, thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông bố trí, trưng bày theo chủng loại, theo khu riêng và với những đề tài khác nhau. Trên mỗi hiện vật, kỷ vật được gắn dòng chữ nắn nót ghi tên các hiện vật.
Tại khu trưng bày các bức ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với chủ đề “Đời thường của Bác Hồ”, gồm các bức ảnh đen trắng ghi lại các hình ảnh sinh hoạt rất đỗi giản dị, lạc quan của Người như: Ảnh Bác Hồ đang chẻ củi, làm giàn bí, tưới nước cho giàn bí, đánh cá cùng ngư dân… Ấn tượng nhất là khu trưng bày các hiện vật, kỷ vật chiến đấu của bộ đội ta, những kỷ vật phục vụ đời sống văn hóa - tinh thần của các chiến sỹ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ mà ông sưu tầm được. Đó là chiếc máy đánh chữ, máy tính quay số, máy điện thoại quay số thời kỳ kháng chiến chống Mỹ mà ông sưu tầm từ những người bạn và bạn ông mang đến tặng. Ông chỉ cho chúng tôi cây súng kíp và chiếc kiếm có chuôi rất đẹp, ông bảo đó là kiếm dành cho sỹ quan Pháp. Tại đây còn có cả chiếc khung xe máy nhãn hiệu Pô Giô, những chiếc mũ của lính Pháp, vỏ quả bom dây, mảnh bom tấn của Pháp, vỏ lựu đạn chày, lựu đạn mỏ vịt mà ông đào được dưới lòng đất.
Ông dừng lại bên khu hiện vật, kỷ vật thời kỳ kháng chiến chống Mỹ được ông cất giữ cẩn thận và mất nhiều công sức để sưu tầm. Đó là chiếc máy hát, đài Philip, đài VEF 10 do Liên Xô sản xuất, đài ORIONTON được sử dụng những năm 1965, những chiếc đèn măng xông, máy ảnh, hộp tráng phim ảnh. Những hiện vật, tài liệu giấy mà ông sưu tầm được cũng rất phong phú, bao gồm những cuốn sổ nhật ký của các chiến sỹ cách mạng, liệt sỹ từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thư của bộ đội gửi người thân hay những sổ tem phiếu phân phối từ thời kỳ bao cấp, những đồng tiền cổ có nhiều mệnh giá của Pháp và Việt Nam.
Người ta gọi ông là “Ông già tha thẩn số một”, ông nghĩ sao? - Tôi hỏi. Ông cười bảo “Đi đến đâu tôi cũng để ý và hỏi, trong số gần một nửa số hiện vật, kỷ vật của tôi do bạn hoặc người thân của tôi tặng”. Ý tưởng và niềm đam mê của ông đã khiến nhiều người cảm kích. Chỉ tay vào chiếc áo, tờ giấy gắn trên áo ghi “Áo Ca pốt (Pháp)”, ông kể về một kỷ niệm khó quên: “Một đêm khuya có người gọi tôi ra mở cửa, hóa ra là ông thông gia với bố tôi ở xã Hợp Thành đến. Ông cụ liền chìa chiếc áo ra trước mặt tôi và bảo “Tặng anh chiếc áo này. Đây là chiếc áo Ca pốt các cụ thân sinh ra tôi thu được từ chiến lợi phẩm của quân Pháp.
Mấy chục năm tôi giữ nó nay tặng lại cho anh”. Rồi câu chuyện của hai con người khác nhau nhưng cùng chung một mong muốn lưu giữ những kỷ vật, hiện vật như kéo dài mãi. Khu hiện vật, kỷ vật mà ông Hồng lấy đề tài là “Một số hiện vật vượt khó vươn lên”, tại đây, ông treo rất cẩn thận từng chiếc áo chàm, áo nâu của người Nùng, chiếc và, túi rứa của người Tày, chiếc sà cột của bộ đội, những chiếc chăn, quần áo sui được làm từ vỏ cây rừng. Những hiện vật này có thể đã cũ, sờn theo thời gian nhưng sờ tay lên đó không hề có một chút bụi nào. Tại đây ông cũng trưng bày trang trọng và cẩn thận những chiếc võng tăng, màn chiến trường, chiếc dép cao su của bộ đội.
Ông dẫn chúng tôi xuống tầng một của nhà trưng bày. Đây vừa là nơi ông để tưởng niệm Hồ Chủ tịch và các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, vừa là nơi trưng bày các hiện vật. Giống như một hướng dẫn viên bảo tàng thực thụ, ông chỉ cho tôi từng hiện vật được treo trên tường. Ông bảo, đó đều là những dụng cụ lao động thô sơ của người dân tộc. Thu hút tôi là chiếc cào cỏ từ thời kỳ Nhà nước phát động phong trào cấy “chăng dây thẳng hàng”. Những chiếc guồng sợi, máy cán bông, chày vồ cũng làm cho người xem thích thú. Hai tầng của nhà trưng bày, ông đều làm hàng rào bằng dây thép. Ông bảo, làm như vậy vừa bảo quản được hiện vật lại tiện cho mọi người và các cháu nhỏ vào xem. Nếu ai có nhu cầu muốn được cầm hiện vật lên xem thì phải được sự đồng ý của ông.
Ngồi ở phía sau nhà trưng bày, nơi ông đã bài trí thành một khu nghỉ ngơi “mi ni” gồm một hòn non bộ và những chiếc bàn ghế làm từ tre, nứa, mái che hình chiếc ô làm từ lá cọ. Ông Hồng cho biết: “Tôi chỉ mong, sau khi các cháu đến thăm nơi này sẽ hiểu hơn và học được điều gì đó về lịch sử, truyền thống của quê hương, chứ không phải chỉ để thỏa mãn niềm đam mê của bản thân”. Bất giác tôi nhìn thấy hàng chữ mà ông trang trí trước cửa nhà trưng bày: “Tự hào truyền thống quê hương ta. Theo Đảng, Bác Hồ ta đi tới”. Có thể những chiếc bậc thang làm bằng tre hay những bộ bàn ghế được ghép từ giang, nứa đơn sơ như thế này sẽ bị thời gian làm hỏng, nhưng tấm lòng nhiệt huyết của ông sẽ ngày càng mãnh liệt hơn.
Bài, ảnh: Thủy Châu- Báo Tuyên Quang
|