|
Hải chiến Trường Sa 1988 trong hồi ức một người lính
Anh Dương thổ lộ: “Anh em chúng tôi mong bằng cách nào đó, Việt Nam phát triển tiềm lực quân sự, hải quân, chứ chiều dài đất nước hơn 3.200 km bờ biển mà lực lượng mỏng, trang thiết bị cũ kỹ thì nếu chẳng may có sự cố gì, sẽ ứng phó rất chậm”.
Binh lính Việt Nam chào cờ trên đảo Trường Sa Xoa đầu cậu con trai đang xúng xính trong bộ đồng phục học sinh xanh – trắng chuẩn bị đến trường, anh cười nheo mắt: “Sắp tới sinh nhật nó rồi đây. Thằng cu này sinh đúng 14 tháng 3 năm 1998, tròn 10 năm ngày bố nó thoát chết ở Trường Sa. Ai cũng bảo tôi khéo chọn ngày sinh cháu”. Anh là Nguyễn Duy Dương, một người lính hải quân đã may mắn sống sót và trở về an toàn trong chiến dịch CQ 88 ngày 14/3/1988 ở Trường Sa. Đến bây giờ, đã 23 năm trôi qua, anh Dương vẫn không nguôi nỗi nhớ về những ngày tháng tuổi trẻ của mình trên những hòn đảo nơi đầu sóng ngọn gió của Tổ quốc. Sinh năm 1964, đi bộ đội khi 18 tuổi, tới năm 1985 anh trở thành Đội phó Đội Kiểm soát Bộ Tư lệnh vùng 4 ở Cam Ranh. Đầu năm 1987, đúng dịp Tết Đinh Mão, anh nhận lệnh vào đoàn quân đi tăng cường cho Trường Sa. Và anh đã ở đó gần hai năm trời, trong cái giai đoạn được xem là khó khăn, vất vả nhất cho các chiến sĩ Trường Sa kể từ ngày giải phóng (năm 1975) đến nay. Câu chuyện trong khói thuốc Anh Dương, cũng như nhiều đồng đội của anh sau này, đều cho rằng lính Trường Sa thời nào mà chẳng gian lao, nhưng càng về sau này càng đỡ cực khổ hơn. Hồi ấy, hải quân ta có ít tàu, một năm chỉ vài ba chuyến tàu ra đảo tiếp tế.
Theo đại tá Đỗ Đình Đề, nguyên cụm trưởng Cụm 2 đảo Nam Yết, người từng ở Trường Sa từ năm 1996 tới năm 2002, thì: “Trong năm, chỉ giai đoạn từ tháng 2 đến tháng 5 là có thể đi tàu ra, lúc ấy biển cứ gọi là trong vắt như bát nước, nhìn thấu cả đáy. Chỉ từ tháng 6 trở đi là bắt đầu có gió Tây Nam, rồi sang đông là gió Đông Bắc rồi, biển động. Cho nên lính mong ngóng tin đất liền, thấy tàu ra đảo thì mừng rỡ như mẹ về chợ, lúc tàu rời đảo về đất liền thì khóc lóc bịn rịn lắm”. Đi lại khó khăn như thế cho nên người lính Trường Sa thiếu thốn mọi bề, mà khổ sở nhất là thiếu nước ngọt, rau xanh. Anh Dương nhớ lại, nước ngọt ở đảo thiếu triền miên, mỗi ngày chỉ được dùng tối đa 5 lít một ngày cho mọi sinh hoạt. Anh em đành phải rửa mặt, tắm đều bằng nước biển, sang lắm mới tráng lại bằng nước ngọt. Lúc đầu chưa quen, ai nấy nóng rát cả lưng, tóc tai cứng quèo, rất khó chịu. Từ chuyện ấy, dẫn đến tình trạng “sư cọ mốc” mà nhà thơ Trần Đăng Khoa đã tả lại: “Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc. Lính trẻ lính già đều trọc tếu như nhau”. Thiếu nước ngọt thật sự là tình trạng khủng khiếp đối với lính đảo những năm ấy. Mấy tháng tàu mới chở nước ra một lần, bơm thẳng nước từ khoang vào xuồng nhôm, rồi anh em đẩy xuồng về lại đảo. Lần nào trước khi ra “đón nước” như thế, anh em cũng phải tắm trước cho sạch. Nước mang về đảo được đổ vào những chiếc phi lớn để dự trữ, không thau được nên phi bị nhiễm bẩn, nước đục ngầu, đánh phèn tới 7-8 lần vẫn không hết bẩn. Thì cũng phải cố mà dùng. Gạo trữ lâu sinh mốc, hỏng. Thiếu rau quá, người ai cũng bị phù, sưng lên nhưng ấn vào da thịt thì lại lõm cả xuống… Khí hậu Trường Sa vô cùng khắc nghiệt, nắng nóng cháy da quanh năm suốt tháng. Đây lại là nơi “rốn bão”, thường xuyên phải hứng chịu bão biển. Đại tá Đỗ Đình Đề bảo: “Nói đến Trường Sa là nói đến bão tố phong ba, đến nắng nóng thiêu đốt, đến san hô nhọn hoắt đâm chảy máu chân, đến thiếu rau xanh, nước ngọt…”. “Bây giờ mình xem tivi, thấy anh em ngoài đó “đủ tóc” rồi, không còn phải cạo trọc nữa” – anh Nguyễn Duy Dương cười. Anh hiện là Phó ban liên lạc bộ đội Trường Sa tỉnh Nam Định. Tất cả những người lính từng phục vụ ở Trường Sa bao năm qua đều coi nhau là đồng đội, và họ cũng dành tình cảm thân thiết quý mến đó cho cả những chiến sĩ trẻ không quen biết, đang đóng quân ở Trường Sa ngày nay. “Bây giờ ở ngoài đó, lính đỡ cực khổ hơn, không còn quá thiếu thốn. Trồng được rau xanh rồi (đất thịt, chở từ đất liền ra). Có hầm dự trữ nước rồi. Điện thoại di động phủ sóng tới tận đó, có thể gọi vào bờ được. Nhưng mình vẫn thương các em ấy chứ, tất nhiên. Đồng đội mà”. … Nửa cuối năm 1987, tình hình ngoài khơi trở nên căng thẳng, phía Trung Quốc bắt đầu có những hoạt động bất bình thường trên biển. Từ tháng 10/1987, tàu chiến đi lại ngày một nhiều hơn. Tháng 3/1988, ta quyết định đưa bộ binh ra đảo Cô Lin, Gạc Ma xây dựng, trong chiến dịch CQ 88 (CQ là viết tắt của “chủ quyền”). Cô Lin và Gạc Ma là đảo chìm, nghĩa là khi thủy triều dâng, nó chìm sâu tới 1,5-2m dưới đáy biển, nước rút đảo mới lại nổi lên. Ngày 13/3/1988, ba con tàu HQ 505, HQ 604, HQ 605 cùng rời đảo Đá Lớn để tiến sang bãi Cô Lin, Gạc Ma. Thiếu tá Nguyễn Duy Dương ở trên tàu HQ 604. Đây là con tàu mà từ chiều 13/3/1988, đã vận chuyển vật liệu xây dựng và đưa bộ đội lên đảo Gạc Ma, và cắm cờ Tổ quốc tại đó vào lúc 21h. Buổi sáng sớm ngày 14/3/1988, HQ 505 và HQ 604 đang neo giữ đảo Gạc Ma thì tàu Trung Quốc kéo đến. Anh Dương kể lại một cách lõm bõm: “Họ gọi loa bằng tiếng Việt: “K2 (mật danh của tàu HQ 604) rời đảo ngay. Đây là lãnh thổ của CHND Trung Hoa”. Tôi mới ngủ dậy, mặc độc cái quần đùi. Lúc đầu tôi còn trêu chọc họ cơ. Mình cầm bánh lương khô dứ dứ, họ cũng dứ lại, lương khô của họ còn to hơn! Thế rồi tàu Trung Quốc lùi lại cách đảo chừng hơn 1 hải lý (khoảng 1,8 km) rồi dùng tất cả hỏa lực bắn xối xả vào cả tàu và đảo. Anh Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng của HQ 505, bèn lệnh cho tàu lao vào Cô Lin. Đối phương bắn như vãi đạn, đúng khi tàu ta đang đổ bộ…”. Cùng lúc đó ở hướng đảo Len Đao, hải quân Trung Quốc bắn rát vào chiếc tàu thứ ba, HQ 605. HQ 505 cháy một mảng lớn. HQ 604 chìm dần. (Còn HQ 605 chìm vào ngày hôm sau, 15/3). Anh Dương cùng đồng đội nhảy xuống biển, bơi về phía đảo Gạc Ma. 9 người bị phía Trung Quốc dùng câu liêm kéo lên, bắt được. Riêng anh bị trúng một nhát câu liêm vào đầu, máu chảy loang đỏ nước, choáng tới mức chìm xuống rất sâu nhưng rồi bị sặc, lại cố ngoi lên, bơi vào bờ. Tới nơi thì do kiệt sức, mất máu, anh ngất đi, được đồng đội sơ cứu rồi dùng xuồng nhôm rút khỏi đảo. Nhớ biển Nguyễn Duy Dương may mắn chỉ bị thương nhẹ. Khi tỉnh dậy, anh mới biết không còn đồng đội nào trên tàu HQ 604 ở bên mình nữa. Người tử thương vì đạn, người chìm theo tàu, người bị bắt. Đã là lính hải quân nơi đầu sóng thì không thể sợ chết. Vết thương bình phục, anh tiếp tục ở lại Trường Sa, bảo vệ mảnh đất thiêng của Tổ quốc, đồng cam cộng khổ cùng những chiến sĩ hải quân khác. Tới tháng 7/1989, anh mới ra quân, làm đủ nghề, từ hàng xay hàng xáo, tới đổ kẹo, buôn đế dép, vừa đi làm vừa ôn thi vào Đại học Sư phạm, ngành ngữ văn. Năm 1994 anh tốt nghiệp và trở thành một thầy giáo dạy văn ở Nam Định. Năm 1998, cậu con trai Nguyễn Khánh ra đời đúng vào cái ngày 14/3 không thể nào quên. Đến giờ vết sẹo vẫn còn trên đầu người thầy giáo dạy văn của trường THPT Ngô Quyền, cựu binh ở Trường Sa.
Sẹo không gây đau đớn, chỉ có những tình cảm của anh đối với những hòn đảo đá khắc nghiệt năm xưa thì cứ thỉnh thoảng lại bùng lên. Anh dồn nó vào những trang viết: Trường Sa – mùa này biển động, Nhớ lắm Trường Sa ơi, Ký ức Trường Sa… Nguyễn Duy Dương cũng không thể quên người thuyền trưởng can trường đã hy sinh Vũ Phi Trừ, hay đồng đội thân thiết của anh là Nguyễn Xuân Thủy, quê Thái Bình, máy trưởng trên tàu 604, chết vì một viên đạn xuyên qua đầu, ngay trước mắt anh. Anh nhớ những gương mặt đồng đội trong trận hải chiến năm xưa: “Giờ này họ đang ở đâu, đang làm gì?”. Nghĩ lại về ngày 14/3 cách đây 23 năm, anh Dương trầm ngâm: “Nói rằng chúng tôi hồi đó hơi chủ quan thì không biết có đúng không, nhưng chẳng ai nghĩ là bên kia sẽ nổ súng, nã pháo, tấn công trên biển cả, cứ tưởng chỉ gây hấn thế thôi. Mỗi người được trang bị một khẩu AK nhưng lúc đó không ai mang súng theo người, để hết ở khoang hàng. Cuối cùng khi chiến sự xảy ra, bên tàu mình tay không, không một tấc sắt. Mà kể cả có vũ khí thì nói chung cũng không tốt, sự phòng bị về căn bản không đáng kể. Trang thiết bị của ta lúc đó đã quá cũ rồi. Tàu ta là tàu 400 tấn, nhập của Trung Quốc từ thời chiến tranh. Tàu đối phương khi ấy lớn gấp cả chục lần ta”. Anh Dương thổ lộ: “Anh em chúng tôi mong bằng cách nào đó, Việt Nam phát triển tiềm lực quân sự, hải quân, chứ chiều dài đất nước hơn 3.200 km bờ biển mà lực lượng mỏng, trang thiết bị cũ kỹ thì nếu chẳng may có sự cố gì, sẽ ứng phó rất chậm”. Giờ đây, cùng với những người lính Trường Sa cũ, anh Dương vẫn theo dõi tình hình Trường Sa hiện nay, qua báo đài, tivi, và qua những đồng đội đóng ở Cam Ranh hay đang trên đảo. Các anh đều bảo, nhớ lắm, nhớ da diết, bồi hồi những ngày tháng Trường Sa năm xưa. Nhớ mùa gió chướng. Nhớ khi biển động, “bọt tung trắng bờ”. Nhớ những ngày biển lặng, mặt nước phẳng, trong như gương. Nhớ vô vàn kỷ niệm với đồng đội thân thương: trực chiến, tập luyện, đi đâm cá, chơi thể thao, đọc thư nhà, sinh hoạt văn nghệ, và chiến đấu. Nhớ những gương mặt đồng đội đến từ mọi miền đất nước – các anh vẫn hay đùa, có khi lên tới 19 tỉnh thành trên một hòn đảo. Ai cũng gắn bó, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Và người thầy giáo dạy văn đã viết một câu rất hình ảnh, rất nên thơ, rằng: “Có con sóng nào cứ dập dềnh dâng trong mắt tôi”.
Đoan Trang- Tin tức biển đảo
_________________
Vòng hoa trên biển Trường Sa
Đúng ngày này 23 năm trước, hơn 60 cán bộ, chiến sĩ hải quân Việt Nam đã anh dũng hy sinh trên vùng biển đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa khi bảo vệ phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.
1. Con tàu HQ 996 rít lên 3 hồi còi, rời đất liền hướng đến Trường Sa. Chúng tôi ai cũng có mặt trên boong. Trên suốt hải trình đến Trường Sa vào năm ngoái, cứ qua mỗi vùng biển, đảo thì hệ thống loa lại vang lên những lời giới thiệu, lúc đó chúng tôi đều dừng câu chuyện lại để lắng nghe.
Thế hệ trẻ chúng tôi được học, được nghe kể về Trường Sa hào hùng và những người con quả cảm đã anh dũng chiến đấu để gìn giữ chủ quyền Tổ quốc qua sử sách. Giờ đây, chúng tôi đang có mặt tại vùng biển mà vào ngày 14.3.1988, các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ cho sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Hơn 20 năm, một quãng thời gian không phải là dài lắm nhưng cũng đủ để một thế hệ trưởng thành và tiếp nối dấu chân anh hùng trên mỗi nẻo đường đất nước.
Trường Sa hôm đó trời yên, biển lặng xanh ngắt một màu. Mặt trời vừa rạng, con tàu tiến vào vùng biển đảo Gạc Ma. Các thành viên trong đoàn công tác tập trung lên boong để làm lễ tưởng niệm các liệt sĩ đã hy sinh.
|

Lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh tại vùng biển đảo Gạc Ma được tổ chức trên tàu HQ 996 - Ảnh: T.Q.N
|
“Kính thưa hương hồn các anh hùng liệt sĩ! Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa từ bao đời nay và mãi mãi về sau là một phần máu thịt, là lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc VN. Nhưng với mưu đồ thôn tính Trường Sa, độc chiếm biển Đông, từ cuối năm 1987, đầu năm 1988, nước ngoài đã ngang nhiên đưa lực lượng quân sự chiếm đóng một số bãi đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của VN…Họ đã tấn công quân sự, bắn chìm, bắn cháy 3 tàu vận tải của ta và cuộc chiến đấu không cân sức giữa lực lượng xây dựng biển, đảo và tàu vận tải của ta với nhiều tàu chiến có trang bị vũ khí hiện đại đã xảy ra ác liệt. Trong cuộc chiến đấu anh dũng đó, đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu, sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng VN. Đó là các cán bộ, chiến sĩ tàu HQ 505, 604, 605 thuộc Lữ đoàn 125; các cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 146; Trung đoàn Công binh 83. Đó là anh hùng liệt sĩ, trung tá Trần Đức Thông - Phó lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 146; anh hùng liệt sĩ, đại úy Vũ Phi Trừ - thuyền trưởng tàu HQ 604; anh hùng liệt sĩ, thiếu úy Trần Văn Phương - Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma. Còn rất nhiều tấm gương sáng về sự hy sinh mà chúng tôi không thể nói hết. Chính nơi đây, hơn 60 cán bộ, chiến sĩ hải quân nhân dân VN đã anh dũng hy sinh…”.
Tiếng sụt sùi len lỏi trong đoàn người, trong lúc 2 chiến sĩ hải quân vẫn nghiêm trang đứng gác, vững vàng tay súng trước ngực.
Ngừng trong giây lát, đại tá Nguyễn Kiều Kinh gạt nước mắt và tiếp tục với giọng chắc nịch, hào hùng: “Trường Sa hôm nay vẫn chưa thực sự bình yên. Chúng tôi, những người hiện đang tiếp tục sự nghiệp của các đồng chí, xin thề trước anh linh của tổ tiên, trước hương hồn của các đồng chí, đồng thời xin nhắn nhủ tới các thế hệ mai sau, quyết tâm bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, và xây dựng Trường Sa trở thành huyện đảo giàu mạnh, ngang tầm với vị trí chiến lược trên biển Đông”.
“Hôm nay, đoàn công tác của chúng tôi đi qua nơi các đồng chí đã chiến đấu kiên cường và anh dũng hy sinh. Bầu trời Trường Sa mây trắng lặng. Lòng chúng tôi lặng trắng, lệ tràn mi và vẫn văng vẳng đâu đây câu nói của liệt sĩ thiếu úy Trần Văn Phương - Phó chỉ huy trưởng đảo Gạc Ma: “Không được lùi bước. Phải để cho máu mình tô thắm lá cờ Tổ quốc”. Trong niềm xúc động sâu sắc, chúng tôi kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ tới các đồng chí và xin được thắp nén hương, thả vòng hoa tưởng niệm, tưởng nhớ tới hương hồn của các đồng chí. Mong các đồng chí thanh thản yên nghỉ trong lòng biển khơi của quê hương, dân tộc; cùng chúng tôi canh giữ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc”.
|

Tiếp nối truyền thống anh hùng, các chiến sĩ Trường Sa hôm nay luôn vững chắc tay súng bảo vệ biên cương Tổ quốc - Ảnh: T.Q.N
|
2. Một vòng hoa mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ” từ từ được thả xuống biển. Trước đó, mâm hoa quả với bát hương nghi ngút khói do các thuyền viên tàu HQ 996 chuẩn bị cũng được thả xuống. Vòng hoa dập dềnh theo sóng biển trôi dần ra xa khỏi con tàu cho đến khi mất hút khỏi tầm mắt thì các thành viên trong đoàn mới trở về khoang.
Lúc ấy, tôi nhớ đến những hình ảnh người mẹ già, người vợ một lòng chờ đợi và rất tự hào về người con, người chồng đã hy sinh thân mình, góp một phần công sức để bảo vệ Tổ quốc. Đó là những người thân của liệt sĩ Trần Văn Phương đang ở quê nhà tại xã Quảng Phúc, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Đặc biệt, tôi nhớ đến cô con gái của liệt sĩ là Trần Thị Thủy với ước nguyện được tiếp nối truyền thống gia đình, được đi theo con đường anh hùng mà cha mình đã chọn.
Trường Sa đang ngày càng lớn mạnh cả về vật chất lẫn tinh thần, đã thay đổi lớn lao cả về diện mạo và thế trận. Những khu nuôi trồng thủy sản, khu nghề cá, bến cảng và âu tàu được xây dựng vững chắc để đón ngư dân ra đánh bắt trên vùng biển Trường Sa vào tiêu thụ sản phẩm hay trú ẩn mỗi khi mưa bão. Lên đảo, ngư dân càng yên tâm hơn khi được bộ đội thăm hỏi, chăm sóc và đặc biệt bà con đến cầu an, chúc phúc tại các ngôi chùa cổ kính. Những ngôi chùa trên các đảo đều rợp bóng mát cây phong ba, như thể hiện sự trường tồn, sức chịu đựng mãnh liệt trong mưa bão. Tôi nhớ trong một ngôi chùa có câu: “Quần đảo huy hoàng chất ngất biển Đông ngời thắng cảnh/Chùa chiền sừng sững nguy nga đất Việt nổi danh lam”.
Những ngôi chùa ở Trường Sa gắn liền với sự có mặt của người Việt tại đấy, như nhà sử học Dương Trung Quốc nói: “Mỗi ngôi chùa ở Trường Sa thể hiện rất rõ sức sống tinh thần và sức mạnh vào niềm tin lẽ phải của dân tộc Việt. Tôi muốn nhắc lại ngay từ thời xa xưa, những đội hùng binh Hoàng Sa của VN đã vượt biển lớn đi ra ngoài đảo, các chúa và vua Nguyễn đều rất quan tâm đến đời sống tâm linh nên đã xây những miếu thờ tri ân những người đã hy sinh trên biển cả. Những miếu thờ hay công trình tâm linh đó là những bằng chứng vật chất về chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa, Trường Sa”.
|
Lập mộ gió 6 ngư dân mất tích
Sau nhiều ngày ngóng trông đợi chờ, hôm qua 13.3, gia đình bà Ngô Thị Việt (43 tuổi, ở thôn Đông, xã An Vĩnh) là gia đình cuối cùng trong số 6 gia đình có người thân mất tích ở Hoàng Sa gần 2 tháng qua, tổ chức lễ chiêu hồn, làm hình nhân, lập mộ gió cho chồng là Lê Minh Tân - thuyền trưởng tàu cá QNg-66192TS.
Tất cả gia đình 6 ngư dân bỏ mạng nơi Hoàng Sa đều rơi vào cảnh khốn khó. Thương tâm nhất là trường hợp của gia đình ngư dân Trương Văn Tiến (36 tuổi, ở xã An Hải). Lập gia đình, Tiến cùng vợ là Nguyễn Thị Lời dắt díu vào Châu Đức (Bà Rịa-Vũng Tàu) mưu sinh. Sau hàng chục năm làm thuê, năm 2010, Tiến cùng vợ và 2 con là Trương Thị Nhiều (học lớp 7) và Trương Thị Lệ Hà (4 tuổi) trở về lại Lý Sơn mua đất làm ngôi nhà nhỏ.
Sống trong “ngôi nhà mơ ước” ấy mới được 10 ngày, anh Tiến lên tàu QNg-66192TS cùng 5 bạn chài ra Hoàng Sa khai thác rau chân vịt để kiếm tiền lo tết, mua sắm quần áo mới cho con, nào ngờ đó là chuyến đi anh không bao giờ trở về nữa.
Còn gia đình bà Việt giờ cũng thật sự rơi vào cảnh khánh kiệt, nợ nần chồng chất. Bà Việt kể, cách đây 4 năm chiếc tàu cá của gia đình trị giá 500 triệu đồng đã chìm xuống vùng biển Hoàng Sa sau một trận cuồng phong dữ dội. Rất may, lúc ấy thuyền trưởng Tân và 7 ngư dân đi trên tàu thoát chết nhờ các tàu bạn cứu giúp. Trở về nhà, gia đình dốc những đồng tiền dành dụm cuối cùng, vay mượn của người thân và ngân hàng đóng mới chiếc tàu cá QNg-66192TS, công suất 72 CV trị giá trên 300 triệu đồng để tiếp tục ra khơi với hy vọng trả nợ, nuôi sống gia đình. Nào ngờ, chuyến biển cuối cùng của năm 2010, tàu cá và ông Tân nằm lại Hoàng Sa.
Để giúp đỡ gia đình 6 ngư dân mất tích ở Hoàng Sa, trước mắt UBND Lý Sơn cùng các xã An Hải, An Vĩnh đã hỗ trợ mỗi gia đình 5,5 triệu đồng.
Hơn lúc nào hết, gia đình các ngư dân bị nạn ở Lý Sơn đang cần sự cùng chung tay góp sức của cả cộng đồng để vượt qua khó khăn, nhất là giúp đỡ những đứa trẻ mồ côi cha…
Hiển Cừ
|
thanhnien.com.vn
Tàu đã về
VietnamDefence- Hải quân Việt Nam đã chính thức tiếp nhận chiến hạm hiện đại nhất của mình - frigate tàng hình lớp 11661E Gepard-3.9.
>> Frigate tàng hình Gepard-3.9 sắp đến biển Đông
 |
| Tàu chiến Đinh Tiên Hoàng lớp Projekt 11661E Gepard-3.9 tại cảng nhà |
Ngày 5.3.2011, tại quân cảng Cam Ranh đã diễn ra lễ
thượng kỳ trọng thể quốc kỳ Việt Nam trên frigate Đinh Tiên Hoàng lớp
Projekt 11661E Gepard-3.9 mang tên.
Chiến hạm hiện đại này do Nhà máy đóng tàu mang tên A.M. Gorky ở Zelenodolsk, Tatarstan, Liên bang Nga đóng.
 |
| Các quan chức Việt Nam và Nga tại lễ giao nhận tàu |
Các tướng lĩnh lãnh đạo Bộ Quốc phòng Việt Nam, các
quan chức hãng Rosoboronoexport, Nhà máy đóng tàu A.M. Gorky (Liên bang
Nga) và các đại diện tất cả các quân-binh chủng của Quân đội Nhân dân
Việt Nam đã có mặt tại buổi lễ. Tư lệnh Hải quân Việt Nam đã phát biểu
đánh giá cao chiến hạm mới.
Việt Nam và Nga đã ký hợp đồng trị giá 350 triệu USD đóng 2 chiến hạm
lớp Gepard-3.9 do Viện thiết kế ZPKB ở Zelenodolsk thiết kế cho Hải
quân Việt Nam vào tháng 12.2006.
 |
| Gepard-3.9 ở Kronshtadt |
Tàu thứ nhất khởi đóng ngày 10.7.2007, tàu thứ hai - ngày 28.11.2007.
Hai tàu lên đường đi Kronshtadt để thử nghiệm và bàn giao vào tháng 7
và 8.2010. Tàu Gepard-3.9 thứ hai đang được thử nghiệm ở biển Baltic.
Trước đó, Giám đốc Công ty “Nhà máy đóng tàu Zelenodolsk mang tên A.M.
Gorky” Renat Mistakhov cho biết, chiến hạm Gepard-3.9 đầu tiên trong 2
chiếc mà công ty đóng cho Hải quân Việt Nam sẽ về tới vào ngày
19.2.2010. Theo ông Mistakhov, Gepard-3.9 đã thể hiện tính năng
chiến-kỹ thuật cao trong quá trình thử nghiệm trên biển Baltic.
Nhiều khả năng, chiến hạm Đinh Tiên Hoàng sẽ là kỳ hạm mới của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Frigate tàng hình Gepard-3.9 dùng để thực hiện nhiệm
vụ truy tìm, theo dõi và tác chiến chống tàu nổi, tàu ngầm và mục tiêu
bay, hộ tống và tuần tra, cảnh giới, bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và
lãnh hải. Tàu có lượng giãn nước đầy đủ gần 2.100 tấn, tầm hoạt động
gần 5.000 hải lý.
 |
| Gepard-3.9 thử nghiệm trên biển Baltic |
Nhờ cải tiến và hoàn thiện các tính năng của động cơ
diesel, tàu có tốc độ cao hơn tốc độ thiết kế (21 hải lý/h thay vì 18
hải lý/h). Động cơ diesel của tàu sử dụng sẽ tiết kiệm hơn so với động
cơ turbine khí.
|