PGS.TS. Nguyễn Thị Việt Hương
Viện nhà nước và pháp luật – Viện khoa học xã hội Việt
Nam
Nguồn: Tạp
chí nghiên cứu lập pháp
“Tư
tưởng tộc quyền” là khái niệm được tạm dùng để chỉ tập hợp những quan niệm về
quyền lực dòng họ của cư dân sống trong các đơn vị cộng cư truyền thống của
người Việt. Tư tưởng tộc quyền cũng thể hiện khá đậm đặc trong đời sống chính
trị - pháp lý của cộng đồng cư dân các tộc người thiểu số hợp thành cộng đồng
dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, trong bài viết này, phạm vi không gian của tư tưởng
tộc quyền chỉ hạn chế ở các làng Việt tại vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt
Nam.
1. Dòng họ là toàn thể những người cùng huyết thống với nhau. Mỗi
dòng họ thường bắt nguồn từ một thuỷ tổ - thường là người có công “khai sơn phá
thạch” khởi đầu cho dòng họ tại một địa vực nhất định, mặc dù khái niệm “vị thuỷ
tổ” có thể chỉ mang ý nghĩa hết sức tương đối. Theo thời gian, dòng họ có thể
sinh sôi nẩy nở, bao gồm nhiều chi ngành, thế hệ nối tiếp thế hệ. Đặc điểm chung
nhất của các dòng họ ở đồng bằng Bắc Bộ là chế độ phụ hệ, nghĩa là quan hệ dòng
họ được tính theo dòng cha. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là người mẹ hoàn
toàn không được xét đến trong khi tính quan hệ họ hàng. Ngoài họ nội, mỗi người
còn có và duy trì quan hệ nhất định với họ ngoại. Vì vậy, nếu mở rộng ra thì
quan hệ họ hàng không chỉ bao gồm những người cùng huyết thống mà cả những người
có quan hệ thân tộc với nhau thông qua hôn nhân.
Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, dưới thời kỳ
công xã thị tộc, con người quần tụ với nhau
trên cơ sở huyết thống: mỗi khu vực cư trú cũng đồng thời là một tông tộc. Ở đó,
người tộc trưởng giữ quyền điều hành cộng đồng, quyền lực cộng đồng cũng đồng
nghĩa với quyền lực của tông tộc.
Khi công xã thị tộc tan rã thay thế bằng công xã láng giềng (công
xã nông thôn trong nông nghiệp), các dòng họ bị xáo trộn và phân tán ra nhiều
nơi. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, có làng chỉ gồm 1 - 2 dòng họ; có làng,
tuy số lượng dòng họ nhiều hơn nhưng có hiện tượng từng dòng họ thường co cụm
trong một khu vực của làng. Trong những trường hợp này, quan hệ dòng họ nổi lên
như một trục trung tâm gắn kết và chi phối cách thức xử sự của các thành viên
cùng huyết thống, thậm chí còn tác động, ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức quyền
lực và quản lý xã hội của Nhà nước tại đơn vị lãnh thổ - dân cư đó.
2. Tình hình các làng xã cổ truyền của người Việt cũng có những nét
tương tự. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy, làng xã cổ truyền Việt Nam
tích chứa khá đậm nét hình ảnh và các mối quan hệ công xã, bao gồm cả quan hệ
tông tộc gia trưởng phụ quyền. Làng Việt khởi thuỷ thường được lập nên bởi vài
ba dòng họ, thậm chí mỗi làng chỉ có một dòng họ mà dấu tích của nó còn được lưu
giữ đến mãi tận ngày nay (như Dương Xá tức làng của họ Dương, Lê Xá tức làng của
họ Lê, hay Đỗ Xá, Đặng Xá, Bùi Xá, Đào Xá...). Từ giữa thế kỷ XV, với sự ổn định
và phát triển của đất nước, sự chuyển cư của các dòng họ gia tăng, số dòng họ
trong mỗi làng nhiều thêm. Cùng với đó, quá trình phong kiến hoá thiết chế công
xã nông thôn cũng làm cho quan hệ giữa các dòng họ thêm phức tạp. Các dòng họ
tồn tại và quan hệ với nhau theo các cặp đối lập: họ “đông đinh/ít đinh”, họ
“khai làng, chính cư/ngụ cư” họ “khoa bảng/ít chữ”, họ “mạnh/yếu”... Vậy là
trong làng xã Việt Nam, dòng họ tồn tại như những thực thể thống nhất, có cấu
trúc riêng với một hệ thống điều chỉnh riêng biệt của mình, độc lập nhưng không
đối lập với làng xã.
Trong sự tự nhận thức của cư dân các làng vùng đồng bằng Bắc Bộ,
tư tưởng tộc quyền thể hiện trước hết ở quan niệm đề cao vai trò và
sức mạnh của dòng họ trong việc tập hợp và quản lý các thành viên cùng huyết
thống.
Đối với người nông dân trong xã hội Việt Nam truyền thống, mối
quan hệ dòng họ là mối quan hệ cơ bản nhất, bền chặt nhất, đáng tin cậy nhất mà
trong cuộc sống thiếu thốn và đầy bất trắc của xã hội, mỗi người phải nương tựa
vào, bám víu lấy. Với dòng họ, người ta không cảm thấy bị đứt đoạn với các tiền
nhân, với cội nguồn, và không còn mặc cảm bơ vơ giữa cuộc đời, giữa xã hội. Bởi
vậy, ngay cả khi dòng họ của người Việt không còn là những đơn vị tổ chức sản
xuất mà đã “vỡ” ra thành những gia đình hạt nhân với quyền sở hữu riêng, thì mỗi
thành viên vẫn tìm thấy ở dòng họ mình một chỗ dựa tinh thần vững chãi và vĩnh
hằng. Cho nên, “một giọt máu đào hơn ao nước lã” “chín đời còn hơn người dưng”
“máu chảy ruột mềm” “chim có tổ, người có tông” “lá rụng về cội”... bao nhiêu
câu tục ngữ cũng như rất nhiều truyện cổ tích đều khẳng định cách nhìn nhận về
chỗ dựa tin cậy đó. Cũng bởi vậy, dòng họ luôn có một áp lực tinh thần mạnh đối
với từng thành viên của nó. Bản thân mỗi cư dân làng xã - xuất phát từ nhu cầu
tự thân của mình - đều thừa nhận áp lực của dòng họ mình mà tâm điểm là sự thừa
nhận vị thế và uy quyền của người trưởng tộc (và các trưởng chi nếu dòng họ đa
đinh). Trong mỗi dòng họ, người trưởng tộc không chỉ được thừa nhận ở vai trò là
người chủ trì các nghi lễ thờ cúng tổ tiên, điều hòa các quan hệ trong họ tộc
hay đề xuất các hoạt động tương trợ, mà nhiều khi còn can thiệp trực tiếp vào
các công việc cụ thể của mỗi thành viên trong họ. Cái nguyên lý tưởng như trái
nghịch “xanh đầu con nhà bác, bạc đầu con nhà chú” lại được tôn trọng một cách
tự giác. Những hành vi “thiếu tôn trọng” thường vấp phải sự phản ứng thông qua
sự biểu tỏ thái độ không hợp tác của các thành viên khác, nhằm đảm bảo sự cố kết
chặt chẽ trong dòng họ. Và để củng cố thêm uy quyền của người trưởng tộc, cũng
thực chất là để củng cố thêm quyền lực của dòng họ đối với từng thành viên nhằm
đảm bảo sự cố kết chặt chẽ trong dòng họ, cư dân làng xã còn viện đến và thừa
nhận một loạt yếu tố khác: một “cương lĩnh” về nguồn gốc huyết thống (gia phả
ghi chép thế thứ các đời từ ông tổ cho đến những người đang sống), một hình thái
thờ phụng của dòng họ (giỗ tổ họ hay tổ chi họ tại nhà thờ tổ hay nhà thờ chi
họ), một chút kinh tế chung của dòng họ (ruộng họ, quỹ họ), đặc biệt là một hệ
thống những quy tắc để chế định hành vi (tộc lệ, tộc ước) được các thành viên
trong dòng họ tuân thủ nghiêm túc như lời nguyền của tổ tiên để lại, còn các vị
trưởng tộc, trưởng chi thì có quyền nắm lấy như một thứ công cụ kiểm soát xã hội
đến từng hành vi của mỗi thành viên trong mối quan hệ cá nhân - gia đình - dòng
họ. Điều này đã thực sự tạo ra một kỷ cương xã hội riêng biệt - một hệ thống
tông pháp, tồn tại như một thiết chế mang quyền lực, tác động bao trùm lên các
quan hệ thân tộc.
Tư
tưởng tộc quyền được thể hiện rõ hơn ở phương diện thứ hai - phương diện tác
động của quyền lực dòng họ đến các quan hệ ngoài phạm vi họ tộc.
Trong tâm thức của cư dân làng xã, sự trường tồn
và vững mạnh của dòng họ không chỉ thể hiện ở sự đa đinh (đông nam giới), ở khả
năng tập hợp và cố kết bền vững, ở mức độ học hành và làm ăn phát đạt mà còn là,
và chủ yếu là, ở trong họ, trước hết là trong gia đình, chi họ mình có nhiều
người làm quan trong bộ máy Nhà nước hay nắm giữ được những chức vụ cao trong
làng xã hay không. Bởi lẽ “một người làm quan, cả họ được nhờ”, đằng sau chức vụ
của một cá nhân là uy thế của cả một dòng họ. Vì vậy, nổi lên quan niệm về
sự cần thiết phải khuyếch trương phạm vi chi phối
của quyền lực dòng họ mà con đường thích hợp nhất là từng dòng họ, chi họ phải
“tập hợp lực lượng” tìm mọi cách đưa những đại diện của dòng họ mình nắm giữ
quyền lực trong bộ máy nhà nước hay thâu tóm quyền lực ở làng
xã.
Biểu hiện trước hết là nhận thức về sự cần thiết phải
tạo điều kiện hoặc nâng đỡ cho người trong dòng họ mình tham gia vào bộ máy nhà
nước, cụ thể là phải có người trong họ đi làm quan:
nhiều dòng họ có tộc ước quy định chế độ khuyến khích và nghĩa vụ của dòng họ
giúp người trong họ đi học, đi thi, thi đỗ, ra làm quan, và trách nhiệm của
người đã thành đạt đối các thành viên chưa thành đạt trong họ. Trên thực tế,
những quy định này được tuân thủ nghiêm túc và nhờ đó xuất hiện nhiều dòng họ
khoa bảng, họ làm quan như họ Nguyễn ở làng Kim Đôi (Bắc Ninh), họ Vũ ở làng Mộ
Trạch (Hải Dương), họ Đặng ở làng Lương Xá (Hà Tây)... Hiện tượng này được dân
gian giải thích là do dòng họ đó ở thế “đất phát” hay do “mộ tổ của dòng họ đó ở
thế “đắc địa”, còn dưới cách nhìn khoa học, điều đó có liên quan đến một khía
cạnh có thể gọi là “tính trội về mặt sinh học - xã hội của dòng họ”, mà thực
chất là hệ quả tích cực của việc sử dụng quan hệ dòng họ để thúc đẩy khả năng
nắm quyền lực trong bộ máy nhà nước.
Nét phổ biến nhất trong biểu hiện của tư tưởng tộc quyền là
quan niệm về sự cần thiết phải tập trung sức mạnh dòng họ vào việc
tranh giành quyền lực trong làng xã. Trên thực tế, trong
xã hội cổ truyền Việt Nam, chỉ một số người thuộc một vài dòng họ trong làng có
thể ra làm quan, thoát ly khỏi làng. Bộ phận đông đảo dân làng còn lại suốt đời
và truyền đời bám lấy luỹ tre xanh, đồng ruộng của mình, không có điều kiện để
thể hiện tài năng, uy quyền của mình ở những nơi khác. Trong tình hình đó, làng
là môi trường chính yếu để các dòng họ và mỗi thành viên của dòng họ được dịp sử
dụng quan hệ huyết thống trong tranh giành quyền lực. Việc tranh giành này thể
hiện trên hai diện trường chính:
Một
là, ở Hội đồng Kỳ mục và các thiết chế phi quan phương
(tư văn, tư võ): các dòng họ đều sử dụng tối đa những “lợi thế” hay thế mạnh để
khẳng định uy thế chính trị - xã hội (cụ thể là giữ được các vị trí chủ chốt hay
quan trọng trong các thiết chế này), đồng thời giành và bảo vệ quyền lợi cho
dòng họ mình theo tinh thần “đi việc làng bênh việc họ, đi việc họ bênh việc anh
em”.
Hai
là, diện trường lớn nhất để các dòng họ tranh giành
quyền lực (cũng là biểu hiện rõ nhất của tư tưởng tộc quyền) chính là ở bộ máy
chính quyền cấp xã (bộ máy chức dịch), cụ thể là ở việc giành giữ các chức danh
chủ chốt ở cấp xã. Tình hình này xuất hiện từ giữa thế kỷ XV (triều vua Lê Thánh
Tông) khi vua Lê bãi bỏ chức xã quan (quan lại do Nhà nước cử nắm quyền quản lý
cấp xã) và thay bằng xã trưởng do người trong làng xã bầu ra. Theo quy định
trong sắc chỉ ban hành năm 1483 thì xã có trên 500 hộ được bầu 5 người, xã từ
300 - 499 hộ được bầu 4 người1. Đến thời Nguyễn, vào năm 1828, vua
Minh Mệnh đổi chức xã trưởng thành lý trưởng và chức danh này không phải là một
tập thể như thời Lê mà chỉ là một người cùng một số phó lý giúp việc được bầu
tuỳ thuộc vào số lượng “đinh” (nam giới từ 18 - 60 tuổi) của từng xã: xã có trên
50 đinh có một phó lý và có từ 150 đinh trở lên thì đặt thêm 2 phó
lý2. Ngoài ra, còn có một số chức viên giúp việc khác như hộ lại
(quản lý hộ tịch, hộ khẩu), trưởng bạ (quản lý sổ sách, giấy tờ về ruộng đất),
trương tuần (trông coi, bảo vệ an ninh), thủ quỹ. Như vậy, trong một xã, chỉ
được bầu 7 - 8 người vào các chức danh trong bộ máy nhà nước tại địa phương.
Trong khi đó, số dòng họ lớn bé trong một làng là hàng chục hoặc nhiều hơn. Dòng
họ nào cũng muốn đưa đại diện của mình vào nắm giữ quyền lực và chi phối đời
sống làng xã. Thực tế đó tạo ra một sự tranh đua rất quyết liệt giữa các dòng họ
để nắm được các chức danh này, nhất là các chức lý trưởng và phó lý. Chính ở
đây, quan niệm về vai trò dòng họ và tâm lý cố kết dòng họ đã hỗ trợ đắc lực,
tạo bệ đỡ tư tưởng cho cuộc tranh giành này và phần thắng luôn thuộc về các dòng
họ “đa đinh”, dòng họ có thế lực từ trước và dòng họ “khoa bảng, lắm chữ”. Trong
khá nhiều trường hợp, mối liên kết dòng họ để giành quyền lực không chỉ bó hẹp
trong họ nội mà còn được mở rộng sang cả họ ngoại, thậm chí sang cả dòng họ của
các thông gia nhằm cũng cố và mở rộng thế lực chính trị - xã hội không chỉ cho
thế hệ của những người trong cuộc mà cho cả con em họ. Tư liệu khảo sát của các
nhà dân tộc học cho biết, trước Cách mạng tháng Tám, ở nhiều làng xã, hiện tượng
“mượn chân điền” để cử người trong họ ra tranh chức lý trưởng, phó lý và các
chức danh khác trong bộ máy hành chính cấp xã diễn ra khá phổ biến. Sở dĩ có
tình trạng đó vì, về nguyên tắc, chỉ những người có đủ các tiêu chuẩn về uy thế,
uy tín (bằng tư cách đạo đức, tuổi tác, vị thế cha ông...), học vấn và tài sản
mới có thể ra tranh cử các chức này. Song, trong nhiều trường hợp, có người đã
đủ các tiêu chuẩn khác, nhưng lại thiếu tiêu chuẩn về gia sản (ví dụ: muốn tranh
chức lý trưởng phải có 5 mẫu ruộng tư hữu). Vì vậy, các dòng họ, chi họ muốn để
họ mình thắng thế phải “hùn” ruộng (tức cho người ra tranh cử được mượn - dưới
danh nghĩa “mua lại”- một số ruộng của anh em họ hàng cho đủ tiêu chuẩn tài sản.
Hiện tượng này gọi là “mượn chân điền”).
Trên thực tế, cư dân làng xã - trước hết đều là thành viên của một
dòng họ nào đó trong làng - đều khao khát thâu tóm được quyền lực ở làng xã vào
tay dòng họ mình, nhằm chi phối đời sống ở làng xã. Sự thắng thế của các dòng họ
lớn, dòng họ có nhiều người giàu có trong việc tranh giành quyền lực đồng nghĩa
với sự yếu thế, thất thế của các dòng họ bé, họ “ngụ cư”, tạo ra sự phản ứng gay
gắt của các dòng họ này, làm cho nội bộ làng xã mỗi lần đến kỳ bầu lý trưởng
càng thêm sôi động và phức tạp, mâu thuẫn giữa các dòng họ tăng. Đó là một trong
những lý do dẫn đến việc vào năm 1496, Lê Thánh Tông đã ra sắc chỉ, cấm những
người có quan hệ ruột thịt, thông gia cùng được làm xã trưởng, nếu những người
này đã cùng làm rồi thì chỉ giữ lại một người đứng đắn nhất, còn tất cả cho về
làm dân3.
Một ví dụ điển hình khác phản ánh quan niệm về sự cần thiết tranh
giành quyền lực cho dòng họ là vào năm 1921, khi thực dân Pháp tiến hành cuộc
cải lương hương chính với trọng tâm là thay thế Hội đồng Kỳ mục bằng Hội đồng
Tộc biểu, tức đại biểu các dòng họ trong làng. Đây là công việc nhằm can thiệp
vào bộ máy tự quản của làng, không phải vào bộ máy hành chính cấp xã. Song các
nhà nghiên cứu sử học đều cho rằng, đây thực sự là ý đồ “hành chính hóa” cơ quan
quyền lực cao nhất của làng Việt, nhằm “quan phương hóa” thiết chế “phi quan
phương” quan trọng nhất của làng Việt, đưa các hoạt động của làng theo một mẫu
chung. Chủ trương “hạn chế sự lộng quyền của các họ lớn” để “nâng đỡ các dòng họ
bé” như các nhà chủ trương cải cách Pháp tuyên bố và được cụ thể hóa trong Nghị
định ngày 12/8/1921 của Phủ Thống sứ Bắc Kỳ đã có những bước “cởi trói” cho các
dòng họ “bé”, họ “yếu thế” từ trước trong làng. Cho đến trước thời điểm này, Hội
đồng Kỳ mục gồm các thành viên “đương nhiên”, không phải bầu, cả với hai chức
danh Tiên chỉ và Thứ chỉ4. Nhưng đến đây, các tộc biểu được bầu lên
theo số đinh nam trong dòng họ (họ lớn cử hai - ba đại biểu, họ nhỏ cử một, họ
quá nhỏ thì vài họ cử chung một đại biểu). Lần đầu tiên, ở nhiều làng, nhiều
dòng họ nhỏ, họ “ngụ cư”... có quyền được cử đại diện của mình vào bộ máy quyền
lực của làng để thể hiện uy thế chính trị của mình. Do vậy, cuộc tranh giành này
diễn ra cũng quyết liệt không kém việc tranh giành các chức danh trong bộ máy
hành chính cấp xã. Tuy nhiên, sự việc không diễn ra đơn giản theo ý đồ của các
nhà cai trị Pháp. Họ chỉ thấy được sự cố kết rất bền chặt của các thành viên
trong từng dòng họ mà không thấy được mặt ngược lại là sự liên kết giữa các cộng
đồng huyết thống ấy lại yếu đi theo tỷ lệ nghịch. Bởi lẽ, với ý thức đề cao
quyền lực dòng họ, cư dân làng xã chỉ khao khát giành giật quyền lực cho riêng
dòng họ mình, chứ không phải là sự chia sẻ trong thế “quân bình” về quyền lực.
Sai lầm của người Pháp khi đánh giá về vai trò của dòng họ trong sinh hoạt làng
xã đã làm cho cuộc cải lương hương chính của họ không đạt được kết quả như ý
muốn. Hội đồng Tộc biểu - khâu cốt yếu của chủ trương cải lương hương chính- là
bộ máy không có năng lực quản lý như Hội đồng Kỳ mục, lại vấp phải sự phản ứng
quyết liệt của các kỳ mục cũ vì nhiều người trong số họ trước đây là thành viên
đương nhiên, nay bị gạt ra khỏi bộ máy quyền lực của làng xã. Thêm nữa, ngay cả
trong việc bầu Hội đồng Tộc biểu, mâu thuẫn giữa các dòng họ trở nên căng thẳng,
nhất là giữa các họ “bé” phải bầu ghép chung một đại biểu. Trong nội bộ dòng họ
cũng nảy sinh mâu thuẫn giữa các chi họ. Sự phản ứng này làm cho tình hình làng
xã không ổn định, thực dân Pháp vẫn không hoàn toàn nắm chặt được nông thôn. Vì
vậy, vào năm 1927, các nhà cai trị Pháp phải cho lập lại Hội đồng Kỳ mục bên
cạnh Hội đồng Tộc biểu, chiếu cố đúng mức đến cơ cấu cổ truyền. Đến năm 1941,
Hội đồng Tộc biểu bị giải thể, chỉ còn Hội đồng Kỳ mục với thành phần rộng rãi
hơn. Quy chế này thực hiện chưa được bao lâu thì cuộc Cách mạng Tháng Tám năm
1945 bùng nổ.
Những trình bày trên đã cho thấy, trong nhận thức của cư dân làng
xã cổ truyền, quyền lực nhà nước ở địa phương không chỉ thuộc quyền
nắm giữ của từng làng và được tổ chức thực hiện theo từng cộng đồng dân cư đó,
không chia sẻ với làng khác mà còn phải thuộc quyền nắm giữ của dòng họ mình,
không chia sẻ hoặc chia sẻ một cách hãn hữu, “dè dặt” với các dòng họ
khác. Điều này càng khẳng định thêm vị trí và vai trò
hết sức quan trọng mà tổ chức dòng họ chiếm lĩnh trong tâm thức của cộng đồng cư
dân làng xã.
Ở đây, có một khía cạnh khác đặt ra: dòng họ và quyền lực dòng họ
có thực sự chiếm vị trí quan trọng trong đời sống thực tế của cư dân làng xã hay
không?
Về vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập
nhau.
Đại diện cho khuynh hướng coi nhẹ tác động của quyền lực dòng họ
trong thực tiễn sinh hoạt làng xã, nhà nghiên cứu dân tộc học Trần Từ trong một
công trình nổi tiếng của mình “Cơ cấu tổ chức của làng cổ truyền ở Bắc Bộ” đã
cho rằng, “họ” quá lắm cũng chỉ có thể được xem là một dạng đặc biệt của gia
đình mở rộng, mà tác dụng chính đối với các thành phần của nó (tức các gia đình
nhỏ hợp thành nó) là tạo ra niềm cộng cảm dựa trên huyết thống. Trong điều kiện
đó, “họ” là một chỗ dựa tinh thần, quyền lực của vị trưởng tộc chỉ dừng lại ở
việc tế lễ mang tính chất tôn giáo để tưởng nhớ các thế hệ đi trước trong ngày
giỗ tổ mà thôi. Ngoài niềm cộng cảm nói trên thì quan hệ đồng huyết, theo Trần
Từ, không còn vai trò quan trọng như bản thân người dân gán cho nó. Theo lời tác
giả, vị trí cao, thậm chí “quá đáng” của dòng họ chỉ là trong “cấu trúc hữu
thức” của người Việt. Nghĩa là dòng họ chỉ đóng vai trò hết sức quan trọng trong
tâm tưởng chứ không phải trong hành vi thực tế của cư dân làng xã.
Không tham vọng đi sâu vào phân tích đúng, sai trong các ý kiến
của tác giả về vai trò thực tế của dòng họ, ở đây, chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh
sự thừa nhận có trong “cấu trúc hữu thức” của người Việt những quan
niệm đề cao vai trò dòng họ và quyền lực dòng họ trong đời sống làng xã. Điều này cho thấy, mặc dù vẫn còn những ý kiến trái ngược nhau
trong nhận định về vai trò thực tế của dòng họ, nhưng đã có một sự thống nhất
cao trong giới nghiên cứu khi khẳng định sự tồn tại của tư tưởng tộc
quyền.
Đi tìm nguyên nhân tồn tại tư tưởng tộc quyền (tức nguyên nhân của
hiện tượng tổ chức dòng họ chiếm lĩnh một “vị trí quá đáng” trong “cấu trúc hữu
thức” của người Việt”), nhà nghiên cứu Trần Từ đã chỉ ra hai yếu tố
chính:
- Ảnh hưởng kéo dài của Nho giáo và tục thờ
cúng tổ tiên.
- Vai trò
thật sự quan trọng trong sinh hoạt làng xã của một số họ đặc biệt (họ đại khoa)
và tình đoàn kết trong nội bộ của các dòng họ này.
Điều lý giải trên đây của Trần Từ là đúng nhưng
chưa phải là đủ cho việc người nông dân làng xã đề quá cao vai trò dòng họ và
chấp nhận quyền lực dòng họ. Ở đây, có thể cần nhấn mạnh tính bền vững của kiểu
cấu trúc làng xã mang đậm dấu ấn công xã nông thôn theo mô thức làng và họ chống
xếp lên nhau, quan hệ địa vực và quan hệ huyết thống hòa quyện vào nhau. Trong
hoàn cảnh này, hệ thống dòng họ thực sự có vai trò quan trọng không chỉ trong
việc tạo lực liên kết giữa các thành viên và thực hiện sự điều khiển “trật tự xã
hội” trong cơ cấu tổ chức của mình, mà còn tác động đến các hệ thống trật tự
khác, đặc biệt là đến việc tổ chức quyền lực và quản lý xã hội của Nhà nước ở
làng xã. Cũng chính trong hoàn cảnh này, rất nhiều ký ức của lối quản lý xưa cũ
như quyền lực cộng đồng thống nhất với quyền của tông tộc, người đứng đầu dòng
họ có vị trí quan trọng trong việc nắm giữ quyền lực v.v.. đã được chuyển di vào
tâm thức của cư dân làng xã.
Như vậy, những biểu hiện của tư tưởng tộc quyền
trong đời sống chính trị - pháp lý ở làng xã cổ truyền là có thật và cũng có
thật cả những cơ sở lịch sử khách quan của nó.
3. Với tính cách là một thành tố của ý
thức xã hội, tư tưởng tộc quyền của cư dân làng Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ được
quy định bởi tồn tại xã hội, tức bởi những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể ở
làng xã, song đến lượt nó, tư tưởng tộc quyền lại tác động, ảnh hưởng trở lại
tồn tại xã hội, trở thành một trong những nhân tố chỉ đạo phương thức tổ chức
quyền lực và quản lý xã hội ở làng xã, chi phối hành vi ứng xử trong các quan hệ
chính trị - pháp lý của cư dân làng xã, tạo dựng diện mạo của mối quan hệ giữa
làng xã và Nhà nước. Từ phương diện này, tư tưởng tộc quyền có cả những tác động
tích cực, cả những ảnh hưởng tiêu cực. Những tác động, ảnh hưởng đó không chỉ
thể hiện rõ nét trong xã hội xưa mà còn in dấu sâu sắc trên nhiều phương diện,
đặc biệt là phương diện tổ chức đời sống Nhà nước và pháp luật ở nước ta hiện
nay.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, tác động
tích cực của tư tưởng tộc quyền không nhiều. Dưới khía cạnh này, tư tưởng tộc
quyền là cơ sở hình thành những trung tâm đoàn kết ở làng xã, gắn kết các thành
viên của nó trên tinh thần hỗ trợ và nhân nhượng lẫn nhau, đảm bảo cho việc thực
hiện các nghĩa vụ trước Nhà nước và làng xã được đầy đủ và nhanh chóng. Điều
đáng lưu ý là chính tư tưởng tộc quyền, trong nhiều trường hợp đã dẫn đến xác
lập sự nắm quyền một cách hết sức có hiệu quả qua nhiều đời của những dòng họ có
năng lực quản lý thực sự. Ở vùng Nam Định cũ có câu “Hoành Nha họ Vũ, Trà Lũ họ
Trần” là để chỉ đại loại hiện tượng này. Trong nhiều trường hợp khác, các dòng
họ liên kết với nhau tự đứng ra quản lý có hiệu quả một số mặt của đời sống làng
xã. Chẳng hạn như ở làng Trang Liệt (Tiên Sơn, Bắc Ninh), vào cuối thế kỷ XIX,
có 10 dòng họ liên kết lại thành một Hội đồng, ra lời cam kết gọi là
Thập tộc tân ước với 26 điều quy định về bảo
vệ sản xuất và an ninh thôn xóm. Những hiện tượng nói trên đã phần nào gia tăng
không khí “dân chủ” ở làng xã, hoặc góp phần nâng cao hiệu lực quản lý làng xã.
Men theo con đường phát triển của làng xã cổ truyền, nhiều nhà
nghiên cứu cho rằng, từ khoảng thế kỷ XV trở đi, làng xã không chỉ là những “ổ
chuyên chế” mà còn là những “túi chứa mâu thuẫn”. Đi tìm căn nguyên của hiện
tượng này, dễ dàng nhận thấy nổi lên ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng tộc quyền.
Trên thực tế, cùng với tư tưởng địa vị quan liêu, tư tưởng tộc
quyền đã bị lợi dụng vào việc củng cố thế lực các dòng họ theo hướng gia tăng
tình trạng bè phái, móc ngoặc để nắm lấy quyền lực. Lịch sử Việt Nam thời cổ,
trung đại đã ghi nhận nhiều trường hợp một người làm quan đã lôi kéo nhiều người
là con cháu, họ hàng vào làm việc trong bộ máy nhà nước bằng các con đường nâng
đỡ quá lạm, tiến cử, nhờ các quan lại có thế lực... Nhiều khi sự liên kết “chính
trị - huyết thống” được mở rộng ra quan hệ thông gia, trở thành sự liên kết
“chính trị - liên huyết thống”5 để giành và giữ quyền lực. Mặc dù Nhà
nước phong kiến cũng đã nhận thấy và tìm cách chống lại sự móc ngoặc dòng họ
bằng “luật hồi tỵ”6 nhưng sự câu kết dòng họ trong lĩnh vực chính trị
- pháp lý vẫn diễn ra khá mạnh mẽ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến
cho trong bộ máy nhà nước các cấp có nhiều người không có năng lực và phẩm chất
có thể đảm đương được các chức vụ, công việc được giao, làm suy giảm hiệu lực
hoạt động của bộ máy nhà nước. Còn trong làng xã, tư tưởng tộc quyền góp phần
duy trì sự “lũng đoạn” của một, hai dòng họ, gắn với đó là sự tồn tại của các
phe phái, sự chèn ép của các dòng họ có thế lực với các dòng họ “bạch đinh”, sự
thiếu “dân chủ” ở chính trong nội bộ các dòng họ... làm trầm trọng thêm các mâu
thuẫn trong chiếc “túi chứa mâu thuẫn” là làng xã.
Sau Cách mạng tháng Tám năm
1945, cơ cấu của làng xã cổ truyền - môi trường dung dưỡng và phát huy tác dụng
của tư tưởng tộc quyền bị giải thể. Tuy nhiên, tư tưởng tộc quyền không dễ dàng
biến mất, ngay cả khi nó - với tính cách là một thành tố của hệ tư tưởng phong
kiến - trở thành đối tượng của cuộc cách mạng văn hóa và bị công phá mạnh mẽ
bằng những nỗ lực từ nhiều hướng. Trên thực tế, dấu ấn của tư tưởng tộc quyền
vẫn còn khá đậm nét trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, đời sống
Nhà nước và pháp luật nói riêng. Đặc biệt, với sự phục hồi mang tính chất bộ
phận của các thiết chế làng xã cũ từ sau khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nông nghiệp
(thường gọi là “khoán 10”), tư tưởng tộc quyền càng có điều kiện “tái sinh” ở
nông thôn hiện nay.
Nhìn nhận một cách khách quan
thì tư tưởng chính trị - pháp lý nói chung, tư tưởng tộc quyền nói riêng của
làng Việt cổ truyền đã để lại không ít dấu ấn tích cực trong đời sống đất nước
hiện nay. Tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực cánh sinh được nâng lên một chất
lượng mới đã giúp làng xã đứng vững và phát triển trong những giai đoạn cam go
nhất của cách mạng Việt Nam. Tinh thần đó đang huy động có hiệu quả mọi năng lực
mang tính đặc thù của từng địa phương phục vụ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa
và hiện đại hóa nông thôn hiện nay. Nếp sống dân chủ, ý thức và thói quen tự
quản lý các mặt hoạt động của đời sống cộng đồng, thói quen tuân thủ các quy tắc
chung của cộng đồng, tinh thần tích cực thực hiện các nghĩa vụ xã hội... trên đà
phát huy đã thực sự là những nhân tố thuận lợi để thực hiện quyền tự quản và dân
chủ ở cơ sở, đảm bảo hiệu lực của hoạt động quản lý kinh tế - xã hội ở từng cộng
đồng làng xã. Ý thức phấn đấu vươn lên, tình yêu quê hương làng xóm, tinh thần
đoàn kết tương trợ, đùm bọc lẫn nhau, truyền thống tôn trọng và học hỏi kinh
nghiệm quản lý của lớp người đi trước... được nhân lên với nội dung và phạm vi
mới, vượt ra khỏi khuôn khổ của luỹ tre làng, đã góp phần hình thành lối sống và
phẩm cách tốt đẹp của con người Việt Nam hiện đại.
Tuy nhiên, tư tưởng tộc quyền
cũng đang để lại những hệ luỵ tiêu cực trên cả hai lĩnh vực:
một là, trong hoạt động quản lý
làng xã và hai
là, trong
lối sống của các bộ phận cư dân trong các quan hệ chính trị - pháp lý. Đó là sự
phục hồi quan hệ dòng họ và sự nổi lên của tư tưởng tộc quyền với những biểu
hiện tiêu cực như móc ngoặc, nâng đỡ, bè phái, phe cánh... những người cùng dòng
họ, làm mất đoàn kết nội bộ trong nông thôn hiện nay. Những người giữ cương vị
chủ chốt ở các địa phương khi cần tuyển lựa, sắp đặt cán bộ cho các ban, ngành
dưới quyền thường quan tâm nhiều đến người có quan hệ họ hàng thân cận, khi giải
quyết công việc chung cũng hay ưu tiên cho những ai cùng họ mạc. Đối với người
dân bình thường trong làng xã thì khi được tham gia vào các cuộc bầu cử cũng hay
vận động nhau bỏ phiếu cho những người có quan hệ bà con thân thích. Không phải
ngẫu nhiên trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây người ta đã nhắc
nhiều đến hiện tượng cố kết dòng họ rất không bình thường theo kiểu “chi bộ họ
ta”, “chính quyền họ ta”. Cũng không phải ngẫu nhiên, có nhà văn đã viết hẳn một
cuốn tiểu thuyết để mô tả về hiện tượng này7. Theo nghĩa đó, sẽ là có
lý khi có người nói rằng, các thế lực dòng họ, đặc biệt là những dòng họ lớn ở
nông thôn hiện nay, đang thao túng hệ thống chính quyền cơ sở, biến hệ thống này
thành một kiểu “gia đình trị” làm suy giảm hiệu quả hoạt động của chính hệ
thống, suy giảm quyền tự do dân chủ, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cộng đồng.
Trong khi đó, dưới góc độ là “một hệ thống điều khiển trật tự xã hội” hay nói
khác đi là việc tự quản trong dòng họ cũng bộc lộ một số mặt tiêu cực. Mặc dù so
với trước đây, tổ chức dòng họ đã có nhiều thay đổi, các vị trưởng tộc không còn
toàn quyền “kiểm soát xã hội” đối với các thành viên trong dòng họ, nhiều nơi đã
lập ra ban quản lý họ và quy ước dòng họ... nhưng những áp lực mang tính “gia
trưởng”- hệ quả dễ nhận thấy nhất của tư tưởng tộc quyền - vẫn được đề cao và
đang hạn chế đáng kể quyền tự do dân chủ của các thành viên dòng họ. Và do vậy,
không phải khi nào dòng họ cũng vận hành “đồng thuận” với việc tổ chức quyền lực
và quản lý xã hội của Nhà nước tại địa phương.
Như vậy, tư tưởng tộc quyền ở
làng xã cổ truyền là vấn đề quá khứ, song cũng là vấn đề hiện tại. Ở chừng mực
nhất định, dù muốn hay không, những tàn dư của tư tưởng đó vẫn đang chi phối xã
hội Việt Nam ngày nay. Cái đang chi phối đó cần được nhìn nhận thích đáng và cần
được xử lý phù hợp.
-----------------------------
Chú thích
(1)
Phan Đại Doãn - Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên) (1994), Kinh nghiệm tổ chức quản lý
nông thôn Việt Nam trong lịch sử, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
tr.16.
(2)
Phan Đại Doãn - Nguyễn Quang Ngọc (sách đã dẫn), tr.98.
(3)
Đại Việt sử ký toàn thư (1985), tập II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội., tr. 507,
519.
(4)
Bùi Xuân Đính (1998), Hương ước và quản lý làng xã, Nxb. Khoa học xã hội, Hà
Nội. tr.70.
(5)
Sử cũ đã ghi lại khá nhiều trường hợp các quan lại (cả quan đại thần) lợi dụng
quan hệ thông gia để củng cố thế lực của họ. Có thể nêu một ví dụ tiêu biểu về
vấn đề này là trường hợp Thượng thư, Tham tụng Nguyễn Mậu Tài câu kết với thông
gia là Thượng thư Hồ Sĩ Dương để thao túng quyền hành trong triều chính triều
đình Lê - Trịnh (cuối thế kỷ XVII). Việc làm của họ đã bị Tham chính xứ Nghệ An
Nguyễn Viết Đương tố giác lên chúa Trịnh, do đó Nguyễn Mậu Tài mất chức tể
tướng.
(6)
Luật hồi tỵ là những quy định cấm những người có quan hệ anh em, thầy trò, người
cùng quê... cùng làm việc tại một công sở; quan lại trị nhậm tại tỉnh nhà, tại
quê vợ, nơi học cũ... Lê Thánh Tông là người đầu tiên ở nước ta thực hiện chế độ
này. Vua Minh Mệnh là người thực hiện rất triệt để luật hồi tỵ.
(7)
Nguyễn Khắc Trường, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội,
1990.












