|
Quốc tộ của Đỗ Pháp Thuận và bài học để vận nước lâu dài
Bùi Ngọc Minh
Tộ, chữ
Hán viết cùng một chữ có 3 nghĩa: Phúc, tuổi và vận may của nước; nếu
dịch quốc tộ mà dịch “tộ” là “vận may của nước” thì “quốc” bỏ vào đâu?
Và khi vận nước suy mà quốc tộ vẫn dịch tộ là vận may của nước thì lọt
tai sao được? Cho nên “quốc tộ” chỉ có nghĩa là “vận nước” thôi. Bài
viết của Bùi Ngọc Minh tuy có chỗ đáng ngờ như thế, nhưng hay và sáng
tỏ, xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
1.Quốc tộ
(Vận nước) của Đỗ Pháp Thuận viết khoảng 981 – 982 vốn không phải là
một sáng tác văn chương thuần túy theo quan niệm nghiêm nhặt ngày nay.
Nó vốn là một tác phẩm ra đời trên sự giao thoa giữa văn học chức năng
nghi lễ tôn giáo của một vị tu hành Phật giáo thuộc dòng Pháp Tì Ni Đa
Lưu Chi thế hệ thứ 10 chùa Pháp Vân, (ở làng Cổ Châu, Long Biên nay
thuộc đất làng Khương Tự huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) và văn học
chức năng hành chính của một đại trí thức, một bậc thầy của vua, có công
trong chính sự với nhà Tiền Lê. Thiền Uyển tập anh ngữ lục cho biết về
tác giả như sau:
Thiền
sư Pháp Thuận (925-990), Chùa Cổ sơn, làng Thừ, quận Ái. Không biết
người đâu. Sư họ Đỗ, học rộng, thơ hay, có tài giúp vua, hiểu rõ việc
nước. Nhỏ đã xuất gia, thờ Thiền sư Phù Trì chùa Long Thọ làm thầy. Sau
khi đắc pháp, Sư nói ra lời nào cũng phù hợp với sấm ngữ. Đang vào lúc
nhà Lê dựng nghiệp, trù kế hoạch định sách lược, Sư tham dự đắc lực. Đến
khi thiên hạ thái bình, Sư không nhận phong thưởng. Vua Lê Đại Hành
càng thêm kính trọng, thường không
gọi tên, chỉ gọi
Đỗ Pháp sư và đem việc soạn thảo văn thư giao phó cho Sư.(...) Vua
thường đem vận nước dài ngắn ra hỏi, Sư đáp:
Vận nước như mây cuốn
Trời Nam mở thái bình
Vô vi trong điện các
Xứ xứ tắt đao binh.
Phiên âm Hán – Việt:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lí thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh.
2. Bài kệ được đưa
vào chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn cấp trung học phổ thông hiện
hành. Các tác giả sách giáo khoa và giáo viên ở cả hai bộ sách cơ bản và
nâng cao đã chú ý đến những vấn đề ngữ văn của bài kệ, nhưng vẫn chưa
chú ý đến vấn đề văn hóa liên văn bản của thời đại văn sử triết bất
phân, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến sự thật lịch sử, văn hóa
lịch sử của thời kì ba triều đại Đinh, Tiền Lê, Lí khi còn đóng đô ở Hoa
Lư. Sách giáo khoa Ngữ văn tập 1 nâng cao trong phần hướng dẫn bài đọc
thêm này viết:
1. Anh (chị) hãy cho biết bài thơ Vận nước ra đời trong hoàn cảnh nào?
2. Phân tích ý nghĩa của hình ảnh “dây mây kết nối” trong lời đáp lại câu hỏi của vua Lê Hoàn: “Vận nước ngắn dài thế nào?”
3. Giải thích vì sao nói nhà vua dùng đường lối “ vô vi” thì khắp nơi trong nước lại có thể dứt được đao binh ?
Các chú thích để làm rõ:
( *) Tên bài thơ do người đời sau đặt.
(1) Vận nước: dịch chữ quốc tộ; ở đây có nghĩa là vận may của quốc gia.( trang162)
(2) Dây mây kết nối: dịch chữ đằng lạc (đằng: dây mây; lạc: kết nối). Cả câu ý nói vận may của nước nhà bền chắc.
(3) Mở mang: dịch chữ Lí. Chữ lí trong bài có nghĩa là lo liệu, mở mang.
(4) Cung điện: dịch chữ điện các, chỉ nơi đặt cơ quan đầu não của quốc gia thời quân chủ.(trang 162)
Không có chú thích về hai chữ vô vi,
hai chữ vô cùng quan trọng trong lời chỉ giáo của quốc sư Pháp Thuận
với vua, khiến người học không thể lĩnh hội được thâm ý của lời khuyên.
Sách giáo viên giải thích về vô vi như sau:
Vô vi là “không
làm”, không làm trí lẽ tự nhiên. Về chính trị, “vô vi” là nên khoan
dung, giản dị, không bày đặt ra những chính lệnh hà khắc, những khuôn
mẫu đạo đức cứng nhắc bó buộc con người làm theo “vô vi” ( vi vô vi) là
làm những điều thuận lẽ tự nhiên để dân được an lạc. (SGV trang 202).
3. Chúng tôi đồng tình với cách chú giải trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập 1 bộ cơ bản (NXG GD, 2006):
(...) Để hiểu bài
thơ, cần hiểu khái niệm “vô vi”. Vô vi nghĩa đen là “ không làm gì”.
Khái niệm vô vi được nhiều trường phái triết học, tôn giáo sử dụng. Vô
vi là thuật ngữ trong sách Đạo đức kinh của Lão Tử nhằm chỉ một thái độ
sống thuận theo tự nhiên, không làm điều trái tự nhiên. Trong bài thơ
này, vô vi còn được hiểu theo nghĩa của Nho giáo. Thiên Vệ Linh công
sách Luận ngữ của Khổng Tử có câu: “ Vô vi nhi trị giả, kì Thuấn dã dư?”
(Vô vi mà thịnh trị, đó là vua Thuấn chăng?.) Chu Hi chú giải (câu này) như sau: Vô vi mà thịnh trị là vì bậc thánh nhân có đức thịnh nên cảm hóa được nhân dân, không phải làm gì hơn”.
Tuy
nhiên cũng cần làm rõ khái niệm đức của bậc đế vương theo quan niệm Nho
giáo, ta mới có thể hiểu Pháp Thuận khuyên vua Lê Hoàn điều gì. Người
làm vua có thể dùng mưu kế, chước thuật, cũng có thể ngồi trên lưng ngựa
để đoạt được thiên hạ, nhưng muốn giữ vững thiên hạ thì phải có nhân
nghĩa, có đức độ, yêu thương muôn dân, khiến cho trong thôn cùng xóm
vắng không còn một tiếng hờn giận oán sầu (Nguyễn Trãi). Nhà vua phải
tích tụ đức tốt, đức sáng, không dùng hình chính hà khắc, bạo ngược để
cai trị trăm họ mà phải vỗ về phủ dụ bách tính. Đó là dùng đức trị, đức
lớn nhất của bậc đế vương là đức hiếu sinh. Theo quan niệm của người
xưa, nhà vua vì có đức lớn nên nhận được mệnh trời, thay trời làm công
việc chăn dân, không để mất lòng dân ( Thế thiên hành hóa, đại thiên hành hóa). “Làm chính trị nhờ vào đức cũng giống như sao Bắc Đẩu đứng yên một chỗ mà các vì sao khác đều châu tuần về”
(Khổng Tử). Đức sáng của nhà vua tỏa phát, lan rộng, thấm nhuần đến mọi
thần dân, khắp bờ cõi, thậm chí lan tỏa đến cả các nước lân bang, tất
cả đều bị thu hút vào trung tâm là vua. Được mùa là do công sức của thần
dân, nhưng cũng còn do đức sáng của nhà vua đã cảm động đến trời đất.
Mất mùa, thiên tai địch họa là do đức nhà vua kém, nên trời giáng tai
họa xuống. Ông vua đầu tiên của nhà Tiền Lê đã có công lao to lớn trong
việc bình Chiêm, phạt Tống, giữ vững độc lập tự chủ của quốc gia phong
kiến tập quyền Đại Cồ Việt, Lê Hoàn từng chú ý đến việc trọng nông,
khuyến nông bằng hành vi tịch điền ở Đọi Sơn (Hà Nam ngày nay) mà sử
sách ghi lại, dân gian lưu truyền. Tuy vậy cái chưa làm được của ông vua
này là việc không quan tâm dạy dỗ con cái, đặc biệt là người kế nghiệp,
nói như Bác Hồ là việc đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau; tức
ông còn khiếm khuyết trong tề gia, để đến nỗi sau khi ông mất, các con
ông tranh nhau ngai vàng đến chém giết lẫn nhau như dân gian nói là nồi
da nấu thịt, huynh đệ tương tàn, thật đáng tiếc thay. Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử kí toàn thư ghi về Lê Long Đĩnh như sau:
Vua
tính hiếu sát, phàm người bị hành hình, hoặc sai lấy cỏ gianh cuốn vào
người mà đốt, để cho lửa cháy gần chết, hoặc sai kép hát người tống là
Liêu Thủ Tâm lấy dao ngắn, dao cùn xẻo từng mảnh, để cho không được chết
chóng. Người ấy đau đớn kêu gào thì Thủ Tâm nói đùa rằng: “Nó không
quen chịu chết”. Vua cả cười. Đi đánh dẹp bắt được tù thì giải đến bờ
sông, khi nước triều rút sai người làm lao dấn nước, dồn cả vào trong
ấy, đến khi nước triều lên, ngập nước mà chết., hoặc bắt trèo lên ngọn
cây cao rồi chặt gốc cho cây đổ, người rơi xuống chết, Vua thân đến xem
lấy làm vui. Có lần vua đi đến sông Ninh (Có lẽ ở huyện Chương Mĩ, Hà Nội ngày nay),
sông ấy nhiều rắn, vua sai trói người vào mạn thuyền, đi lại giữa dòng
muốn cho rắn cắn chết. Phàm bò lợn muốn làm thịt thì tự tay Vua cầm dao
chọc tiết trước rồi mới đưa vào nhà bếp sau. Có lần Vua róc mía trên đầu
sư Quách Ngang, giả vờ lỡ tay làm đầu sư bị thủng chảy máu rồi cả cười.
Hoặc nhân yến tiệc, giết mèo cho các vương ăn, ăn xong lấy đầu mèo giơ
lên cho xem, các Vương đều sợ, Vua lấy làm thích. Mỗi khi ra chầu tất
sai bọn khôi hài hầu hai bên; Vua có nói câu gì thì bọn ấy nhao nhao pha
trò cười để cho loạn lời tâu việc của quan chấp chính. Lại lấy thạch
sùng làm gỏi, bắt bọn khôi hài tranh nhau ăn.
Mùa
đông, Tháng mười, ngày Tân Hợi(1019 ), Vua băng ở Tẩm điện gọi là Ngọa
Triều, vì vua mắc bệnh trĩ phải nằm mà coi chầu (Dã sử chép vua say đắm
tửu sắc phát ra trĩ).
Ngô Sĩ Liên bàn rằng: (...)
Ngọa Triều không những chỉ thích giết người, lại còn oán vua cha không
lập mình làm thái tử (còn giết cả vua anh, giết các hoàng đệ), đánh
người Man cho họ kêu gào, nhiều lần phạm húy cha mà lấy làm thích. Mất
nước mau chóng, há phải không do đâu mà ra .( ĐVSKTT trang 77-78)
Kinh
đô Hoa Lư là một vùng đất hiểm, nhưng nhà Tiền Lê không giữ được thiên
hạ vì như người xưa tổng kết: Tại đức bất tại hiểm (Quá Tần Luận - Bàn
về lỗi lầm của nhà Tần, Giả Nghị 200 – 168 TCN đời Tây Hán), hay:
Giặc tan muôn thuở thăng bình
Tại đâu đất hiểm, cốt mình đức cao
( Trương Hán Siêu, Bạch Đằng giang phú)
Nhiều học giả trong
các cuốn sách viết về Quốc tộ, mặc nhiên gọi nó là một bài thơ.. . Cũng
có người cho là một bài kệ. Chúng tôi nghiêng về quan niệm cho rằng đây
là một bài kệ dạy vua về kế sách giữ cho Vận nước được lâu dài. Với
người Việt ta yêu nước, giữ gìn từng tấc đất cha ông từ ngàn xưa để lại
đã trở thành một truyền thống đạo lí. Yêu nước trở thành chuẩn mực đạo
đức cao nhất của con dân đất Việt này. Như vậy kệ vấn cũng đã rõ, kệ đáp
lại càng rõ. Cả người hỏi và người đáp cho thấy kiến văn quảng bác thâm
hậu về vốn văn hóa chính trị có nguồn gốc từ Trung Hoa cổ xưa của mình.
Đó là kiến văn có sự giao thoa tam giáo Nho, Phật, Lão; đồng thời họ
cũng là những người mang trong lòng truyền thống đạo lí, đạo đức cao
nhất, lớn nhất của người Việt tự ngàn đời: yêu nước thương dân., nhưng
thật đáng tiếc thay, Lê Đại Hành đã không thực hiện được đường lối chính
trị vô vi nên triều Tiền Lê thật vô cùng ngắn ngủi, chỉ kéo dài được 29
năm (từ năm Tân Tỵ 981 đến năm Kỷ Dậu 1009). Hoàng đế mở đầu nhà Tiền
Lê khi băng hà không có tên thụy để thờ. Theo truyền thống xưa kia, ở
Trung Quốc và Việt Nam, mỗi khi có vua băng hà, sau khi an táng, triều
đình căn cứ vào công tích hành trạng của vị vua băng hà đặt một tên thụy
để thờ. Đinh tiên Hoàng Đế (Đinh Bộ Lĩnh là ông vua họ Đinh xưng đế đầu
tiên,) Lê Thánh Tông (Lê Tư Thành) là vị vua họ Lê anh minh thánh đế,
Lê Ngọa triều (Lê Long Đĩnh) là ông vua nằm mà thiết triều, Lê Mẫn Đế
(Chiêu Thống) là ông vua họ Lê đáng thương hại. Lê Văn Hưu, tác giả Đại
Việt sử kí đã bình luận về sự kiện này như sau:
Thiên
tử và hoàng hậu lúc mới băng, (cha) an táng về sơn lăng thì gọi là Đại
Hành hoàng đế, Đại Hành hoàng hậu (mẹ). Khi lăng tẩm đã an định mới hội
họp quần thần nghị bàn về đức hạnh hiền, dữ của thiên tử để đặt thuỵ,
gọi là … hoàng đế, … hoàng hậu.
Vua
Lê Đại Hành lấy Đại Hành làm tên thuỵ truyền lại cho đến ngày nay là vì
sao? Đại khái vì có đứa con bất tiếu Ngoạ Triều, lại không có Nho thần ở
bên phụ bật, theo phép nghị bàn đặt tên thuỵ nên mới vậy.(Dẫn lại theo ĐVSKTT của Ngô Sĩ Liên).
Còn chính sử thần Ngô Sĩ Liên thì bàn rằng:
Vua
(Lê Đại Hành) đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục
phiên di bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu tất
thắng của vua tôi bọn họ, có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy. song
khi làn nhiếp chính (cho vua thứ hai nhà Đinh là Đinh Toàn) mà tự xưng
làm Phó Vương dẫn đến bọn Điền, Bặc phải khởi binh, lên ngôi vua thì
phải nhờ bọn Cự Lạng đem binh đến uy hiếp, làm cung điện thì lấy vàng,
bạc mà trang sức. Phàm những việc như thế thì không bằng Lý [Thái] Tổ
biết nghĩ xa hơn. Văn Hưu nói lấy đức của nhà Lí mà soi đức của nhà Lê
thì [đức của Lí] dày hơn, há chẳng đúng sao! (ĐVSKTT).
4.Như
vậy, vận nước dài hay ngắn phụ thuộc rất nhiều vào đường lối cai trị,
vào đức của nhà vua sáng hay tối. Lê Đại Hành hỏi về vận nước nhưng
không thể làm cho vận nước dài lâu vì không thể thực hiện được đường lối
cai trị vô vi. Từ nguyện vọng đến thực tiễn, thực hành quả là có khoảng
cách, một khoảng cách về văn hóa lịch sử chính trị và những hãm trở của
thực tế khó có thể, không thể vượt qua. Ta đánh giá Lê Hoàn ở những
việc mà nhân vật lịch sử này đã làm được cho đất nước, nhưng những việc
ông chưa làm được và không thể làm được âu cũng là bài học cho hậu thế.
Tìm hiểu về lịch sử để không mắc lại những sai lầm của lịch sử . Đó là
nỗi lòng của người viết bài này.
Vân Giang, Ninh Bình, ngày 20 tháng 5, 2010
BNM- hoinhavanvietnam.vn
|