Cụ Hồ là ai? Đây là một câu hỏi được giới nghiên
cứu trong và ngoài nước nêu lên từ lâu, đã có nhiều lời giải khác nhau, đến nay
vẫn tiếp tục có thêm những kiến giải mới. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh quả là
một nhân vật đa dạng, phong phú, hấp dẫn, có khả năng sống với nhiều thời đại.
Thử tìm lời giải cho câu hỏi: Cụ Hồ là ai?
Ngô Trần Đức
Cụ Hồ là ai? Đây là một câu hỏi được giới nghiên
cứu trong và ngoài nước nêu lên từ lâu, đã có nhiều lời giải khác nhau, đến nay
vẫn tiếp tục có thêm những kiến giải mới. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh quả là
một nhân vật đa dạng, phong phú, hấp dẫn, có khả năng sống với nhiều thời đại. Vậy
Cụ Hồ là ai? Là dân tộc chủ nghĩa hay quốc tế chủ nghĩa? Là người
mácxít hay người theo đạo Khổng? Là cộng hòa, cộng sản hay xã hội dân chủ? Chủ
nghĩa cộng sản với Hồ Chí Minh là mục đích hay là phương tiện? v.v..
I. Lược qua một vài ý kiến tiêu biểu
Ph. Devillers trong lời Tựa cho cuốn “Hô Chi
Minh à Paris 1917-1923” của Thu Trang-Gaspard, có nêu câu hỏi: Tại Đại hội
Tours, Nguyễn Ái Quốc tin theo Luận cương của Lênin, bỏ phiếu tán thành
gia nhập Quốc Tế 3, nhưng ông đã phải là người mácxít chưa? Ông có tin
vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, một giai cấp lúc đó còn hết
sức nhỏ bé về số lượng ở Đông Dương? Ông có tin vào học thuyết đấu tranh
giai cấp và sự cần thiết phải xây dựng một nền chuyên chính vô sản
hay chưa? Tại sao lúc nào ông cũng chỉ tập trung vào vấn đề thuộc địa,
đặt nó lên trên tất cả các vấn đề khác?
“Ông tin vào lời kêu gọi “vô sản toàn thế giới liên
hiệp lại”, bởi đối với ông, việc giải phóng đất nước bị chinh phục chỉ có
thể tiến hành bằng bạo lực chứ không thể bằng những cải cách rụt rè. Vậy, cần
làm rõ: sự lựa chọn đó xuất phát từ niềm tin trong hệ tư tưỏng,
từ sự ngả theo hệ lý luận mácxit một cách sâu sắc hay chỉ là từ một nhu
cầu thực tế? Nếu cách xử sự của Pháp khác đi thì phải chăng Người vẫn chỉ
có một sự lựa chọn đó?”[1].
Alain Ruscio trong bài “Chân dung một người
bônsêvich vàng”[2] cũng nêu một câu hỏi: Nguyễn Ái Quốc
có thật sự muốn trở thành một đảng viên Xã hội không? Để trả lời, ông dẫn Trần
Dân Tiên : Tôi vào Đảng Xã hội Pháp “ chỉ vì đấy là tổ chức duy nhất ở Pháp
bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách
mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Theo Ruscio, nghiã là Nguyễn Ái
Quốc chỉ nhắc đến lý tưởng cộng hoà Pháp chứ không phải đến truyền thống chủ
nghĩa xã hội Pháp hay Cách mạng tháng Mười Nga? Tác phẩm chính trị đầu tiên mà
Nguyễn dịch ra tiếng Việt không phải là“Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”
của Mác - Enghen hay “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của
chủ nghĩa tư bản” của Lênin, mà là “Tinh thần pháp luật”
của Montesquieu!
Cũng theo Ruscio, nguờì ta không tìm thấy một
dấu hiệu nào cho biết dự kiến chính trị của Nguyễn Ái Quốc vào thời đó rằng sau
khi giành được độc lập sẽ xây dựng An Nam thành một nước cộng hoà xã hội chủ
nghĩa!
Pierre Brocheux, một sử gia Pháp đã hơn 50 năm
nghiên cứu về Hồ Chí Minh, lại đưa ra một nhận định: “Hồ Chí Minh là một
người theo đạo Khổng, ông ưa các giải pháp ôn hoà hơn là cực đoan”. Hồ
Chí Minh đã lên án các cuộc đánh người, giết người trong Cải Cách Ruộng
Đất, và gọi như thế là hành xử theo lối bọn đế quốc, là hành vi tội phạm, là
tội ác!
Theo Brocheux, Hồ Chí Minh có một lần viết về vụ Trăm
hoa đua nở ở Trung Quốc, có gọi các nhà văn - như Đinh Linh - là phái hữu;
nhưng ông không hề nhắc tới tên của bất cứ văn nghệ sĩ, trí thức nào của Viêt
Nam.[3]
GS Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi (Đại học Waseda)
trong tham luận tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ ba, nêu vấn đề: “Có lẽ giá
trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời mình là những giá trị
của nền cộng hoà mà cơ sở lý luận của nó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.Theo
ông, tinh thần cộng hoà Pháp mang tính lý tưởng rất cao, nó không quan tâm đến
con người đó là ai, sinh ra ở đâu, trong gia đình, dòng họ nào,…vấn đề quan
trọng là giá trị của bản thân con người đó có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý
tính hay không?
Nền cộng hoà được xây dựng bởi những cá nhân, theo
quan điểm giá trị mới về con người, rất khác với quan niệm của Nho giáo. Hồ Chí
Minh là nhà chính trị duy nhất ở châu Á đã nhận thức được một cách đúng đắn
tinh thần của nền cộng hòa Pháp và đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam. Khi đã trở
thành người cộng sản, Hồ Chí Minh vẫn ưu tiên đấu tranh cho độc lập dân tộc,
cho mục tiêu Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Ông phân tich:
- Độc lập mà Hồ Chí Minh muốn là một nhà nước
có chủ quyền, theo quan niệm cận đại, xây dựng một chế độ Dân chủ Cộng hòa, xây
dựng con người mới gánh vác công việc quốc gia.
- Tự do không đơn thuần chỉ là quyền tự do định
đoạt chính sách đối nội, đối ngoại của một nhà nước độc lập, mà là quyền tự
do của mỗi người dân được hưởng với khả năng và trách nhiệm của mình, của
một chủ thể xây dựng nền cộng hòa.
- Hạnh phúc nghĩa là mỗi người đều có
quyền mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình và phải biết chủ động tích cực đấu tranh
để giành lấy hạnh phúc.
Như vậy, theo ông về mặt này, ông Hồ không phải là
người cộng sản chính thống theo quan điểm Mác –Lênin. Cho nên, nếu
chỉ lấy ý thức hệ Mác-Lênin để lý giải cụ Hồ là không đầy đủ, do còn thiếu cái
nền văn hoá - tư tưởng phương Tây, do không nắm được “tinh thần cộng hoà”, mà
vẫn đóng khung trong cách nhìn “đấu tranh giai cấp”. Bản thân ông Hồ, để nhận
viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt
Nam, ông đã phải phát ngôn và hành động như một người cộng sản, đó là do
thúc ép của hoàn cảnh lịch sử, mà ông không có sự lựa chọn nào khác!
Ngoài ra, có một vài học giả Việt Nam, gần đây
cũng đưa ra những nhận định riêng của mình về Hồ Chí Minh . Có người cho rằng
Hồ Chí Minh chỉ khoác áo cộng sản chứ không phải là người cộng sản, ông
là người xã hội dân chủ từ gốc rễ.
GS Hoàng Ngọc Hiến, phát biểu trong một hội thảo, cho
rằng sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác ở Hồ Chí Minh là một quá trình, phải nghiên cứu
quá trình đó để xem Hồ Chí Minh đã tiếp biến chủ nghĩa Mác như thế nào? Theo GS
Hiến, Nguyễn Ái Quốc từng ở chung với Phan Văn Trường khoảng 6 tháng, đó là
Trường Đại học của Cụ Hồ! mà ông Trường lại là một người xã hội từ
đầu đến chân! Tuy không nói thẳng ra, nhưng người nghe đều hiểu ý của ông:
Hồ Chí Minh là một người xã hội dân chủ hơn là một người cộng sản.
Còn có thể dẫn thêm một vài ý kiến khác nữa, nhưng
trên đây là mấy lập luận tiêu biểu. Vậy Hồ Chí Minh là ai? Cộng sản hay Dân
tộc? người yêu nước hay chiến sĩ quốc tế? Cộng hòa, Cộng sản hay Xã hội dân
chủ? Theo chủ nghĩa Mác hay theo đạo Khổng, v.v..
II. Thử tìm lời giải cho câu hỏi: Cụ Hồ là ai ?
Để trả lời câu hỏi này một cách rõ ràng, theo tôi,
không thể chỉ dựa vào một, hai yếu tố nào đó một cách tách biệt để lập
luận, lý giải, rồi khẳng định Cụ Hồ là ai. Theo thiển ý, phải đặt mỗi yếu tố
đó trong tổng thể cuộc đời Hồ Chí Minh, nhân cách Hồ Chí Minh, văn hoá Hồ Chí
Minh, phương pháp hành xử Hồ Chí Minh,…mới hiểu đúng được thực chất con người
Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Một nhà báo Mỹ, từ rất sớm đã đưa ra nhận xét: “Hồ Chí
Minh là một trong số những nhân vật lạ lùng nhất của thời đại chúng ta: một
chút Gandhi, một chút Lênin,…nhưng hoàn toàn Việt Nam”[4]. Đây là một gợi ý cần được tham khảo.
Hồ Chí Minh là người Việt Nam nhất trong những người Việt Nam, là sự kết tinh những giá trị tiêu biểu nhất
của văn hoá - lịch sử - đất nước và con người Việt Nam. Do đó, muốn hiểu được Hồ Chí
Minh, phải bắt đầu từ hiểu văn hoá và con người Việt Nam.
Đó là một nền văn hoá khoan dung, cởi mở, có khả
năng dung hoá, tích hợp những yếu tố tích cực, tiến bộ từ ngoài vào, không
chút hẹp hòi, kỳ thị, miễn là nó không đi ngược lại với bản chất nhân văn của
văn hoá Việt Nam. Vì vậy, văn hoá Việt Nam sớm có hiện tượng “tam giáo đồng
nguyên”. Con người nông dân Việt Nam ngày xưa vốn rất thực tế, họ có thể
vừa thờ Thần, thờ Phật lại vừa thờ cả ma quỷ (thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo
cây đề), không hoàn toàn tin, nhưng để nó không trở thành kẻ thù của mình, không
làm hại mình, đơn giản vậy thôi. Cũng nên coi đó là một nét khôn ngoan trong
phương pháp xử thế của người Việt xưa mà ta cần xem xét.
Khi còn ở trong nước, Nuyễn Tất Thành đã được hấp thụ
một nền Quốc học và Khổng học khá cơ bản, đủ sức tạo cho anh một bản lĩnh văn
hoá vững vàng để có thể “hòa nhi bất đồng”.
Ra nước ngoài, anh Thành có điều kiện đi nhiều, hiểu
rộng, biết nhiều ngoại ngữ, đến được nhiều nước, làm nhiều nghề, tiếp xúc với
nhiều vĩ nhân,…nghĩa là có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hoá, gia
nhập nhiều tổ chức, vào nhiều hội, đoàn (Công đoàn lao động hải ngoại ở Anh,
các Hội du lịch, Hội nghệ thuật và khoa học, Câu lạc bộ Faubourg ở Pháp, Đảng
Xã hội. Sau khi đã vào Đảng Cộng sản rồi, vẫn tham gia Hội Nhân quyền,
rồi cả Hội Tam điểm, đến với chủ nghĩa Mác rồi vẫn đến với chủ nghĩa Tôn Dật
Tiên,…) để học cách tổ chức, khảo sát các cơ chế chính trị - xã hội,…nhằm chắt
lọc lấy cái hay, cái tốt, cái thích hợp, phục vụ cho sự nghiệp cứu nước, giải
phóng dân tộc và xây dựng nước Việt Nam độc lập trong tương lai.
Do vậy, Hồ Chí Minh được coi là biểu tượng của sự
tích hợp văn hoá Đông-Tây. Nói tích hợp nghĩa là biết tiếp thu có chọn lọc
những giá trị từ bên ngoài nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng bên cạnh sự thâu
hoá những giá trị chung của nhân loại. Cho nên không có gì lạ khi thấy trong
văn hoá Hồ Chí Minh chứa đựng những yếu tố tích cực của tinh thần cộng hoà Pháp,
dân chủ và nhân quyền Mỹ, tinh thần trọng đạo đức của Khổng giáo, đức từ bi,
cứu khổ, cứu nạn của Phật, lòng nhân ái của Chúa, phép biện chứng của Mác, tinh
thần cách mạng của Lênin, chủ thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên, v.v..mà vẫn hoàn
toàn Việt Nam.
Như ta đã thấy: khi còn ở Pháp hay Nga, Nguyễn Ái Quốc có thể mặc Âu phục, đội
mũ phớt, thắt cravate, viết báo, đọc diễn văn với một văn phong rất “Tây”,
nhưng khi về Trung Quốc lại giản dị trong bộ quân phục Bát lộ quân; sang Thái
Lan, ở chùa, khoác áo cà sa; về đến Chỉ Thôn (Vân Nam) lại sẵn sàng viết và đọc
văn tế cầu hồn cho những kiều bào ta bị bom Nhật sát hại:
Nam mô bồ tát đế tôn,
Tiếp dẫn linh hồn về Mạc tư khoa!
Người chiến thắng là người không “chấp nê”, mà có tinh
thần “phá chấp”, biết thích ứng trước tình hình thực tế mà không để đánh mất
mình - đúng như Hồ Chí Minh đã từng trả lời khi có người hỏi: ông là
ai? -Tôi vẫn là tôi ngày trước, một người yêu nước.Vận dụng
phương pháp trên vào tìm hiểu Cụ Hồ là ai, chúng tôi thử từng bước lý
giải những vấn đề đang đặt ra.
1. Hồ Chí Minh có phải là người suốt đời theo lý tưởng
cộng hoà?
Trở lại ý kiến của GS Nhật Bản Tsuboi cho rằng “giá
trị mà Hồ Chí Minh coi trọng suốt đời mình là tinh thần cộng hoà, mà cơ sở của
nó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, liệu có phải hoàn toàn như vậy không?
Đúng là trên hành trình đi ra với văn hoá nhân loại,
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp trước tiên và có lẽ nó cũng để lại
những dấu ấn sâu đậm trong nội dung và phong cách văn hoá của Cụ Hồ. Tại Pháp,
Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý tưởng nhân quyền, dân quyền và pháp quyền của
các nhà Khai sáng Pháp, vận dụng nó vào cuộc đấu tranh, phê phán chế độ thực
dân, đòi các quyền ấy cho nhân dân các nước thuộc địa. Yêu sách 8 điểm,
lời mở đầu Tuyên ngôn Độc lập 1945, bản Hiến pháp đầu tiên năm
1946,…đều in dấu ảnh hưởng các giá trị của nền cộng hoà Pháp, nó đã trở
thành một phần trong mục tiêu mà Hồ Chí Minh theo đuổi – nhưng đó có phải là
cái đích duy nhất và mục tiêu cuối cùng của ông hay không, thì vẫn cần phải bàn
thêm .
Theo tôi, cái giá trị lớn nhất mà Hồ Chí Minh theo
đuổi suốt đời, như chính Người đã tuyên bố là “Độc lập cho Tổ quốc tôi,
tự do cho đồng bào tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì
tôi hiểu”. Điều quan trọng ấy rất tiếc lại không có trong bảng
giá trị của nền cộng hoà Pháp. Đó cũng là điều mà trong khi đàm phán, tranh
luận với chính giới Pháp năm 1946, Cụ đã chủ động bổ sung vào. Hồ Chí Minh có
lần nói: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức: Tự do, Bình
đẳng, Bác ái, Độc lập”[5]. Thêm Độc lập vào để ràng buộc họ: “Nước
Pháp muốn độc lập, không có lý gì lại muốn nước Việt Nam không độc lập?”
GS Tsuboi đã lý giải khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác
ái rất đúng với tinh thần phương Tây, nhưng lại không thật đúng theo quan niệm
của Hồ Chí Minh.
Tự do theo tinh thần cộng hoà Pháp trước
hết là tự do cá nhân, vì tiền đề của nền cộng hòa Pháp được xây dựng
trên quan điểm giá trị về con người cá nhân, nhất là quyền tự
do cá nhân.
Còn Hồ Chí Minh, trước hết vẫn là sản phẩm của nền văn
hoá Việt Nam, văn hoá Phương Đông, vốn đề cao tinh thần cộng đồng, luôn
đặt quốc gia, dân tộc lên trên cá nhân. Tự do theo tinh thần Hồ Chí Minh trước
hết vẫn là tự do của toàn dân tộc chứ chưa phải là tự do cá nhân, là
giải phóng cho dân tộc thoát khỏi ách nô lệ thực dân, được làm chủ đất nước,
làm chủ vận mệnh của mình (chứ chưa lấy giải phóng tự do cá nhân làm mục
tiêu).
Bình đẳng hiểu theo tinh thần cộng hoà là chống lại mọi sự
phân biệt đối xử về dân tộc, màu da, giới tinh,…Mỗi cá nhân sinh ra
đều có giá trị như nhau, như Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ
mà Hồ Chí Minh đã trích dẫn: ‘Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình
đẳng” và coi đó là quyền tự nhiên của con người: bình đẳng về nghĩa
vụ và quyền lợi, về nhân phẩm, về cơ hội, nhất là bình đẳng trước pháp luật.
Bình đẳng là một khái niệm không xa lạ với Hồ
Chí Minh vì nó vốn là một lý tưởng, một ước mơ ngàn đời của nhân dân lao động
Việt Nam về một xã hội công bằng, không còn áp bức bất công, không còn cách
biệt giầu, nghèo…
Tuy nhiên, quan niệm của Hồ Chí Minh về bình đẳng cũng
có nội dung khác với phương Tây: nếu tinh thần cộng hoà coi trọng quyền bình
đẳng giữa các cá nhân thì Hồ Chí Minh lại nâng nó lên thành quyền
bình đẳng giữa các dân tộc. Từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, Hồ Chí Minh suy ra: “Tất
cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Bác ái (fraternité: có lẽ phải dịch là Hữu ái mới
phù hợp, vì gốc của nó là từ frère, fraternel, nghĩa là tình anh em,
tình đồng đội. Bác ái (philanthropie) có nghĩa quá rộng, nó
đòi hỏi một tình cảm xuyên dân tộc, xuyên giai cấp, theo kiểu thuyết kiêm ái
của Mặc tử, hay lòng bác ái của Chúa : phải yêu cả kẻ thù của mình!).
Hữu ái gần với Hồ Chí Minh hơn, ông vốn
từng là môn đệ của Khổng giáo, sớm thấm nhuần tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”,
nên Hồ Chí Minh thường quen gọi những ngưòi lao động, các dân tộc bị áp bức là anh
em. (hỡi anh em ở các thuộc địa!, các dân tộc anh em, các
nước anh em, vừa là đồng chí, vừa là anh em,…)
Tóm lại, Hồ Chí Minh nhận thức Tự do, Bình đẳng, Bác
ái qua lăng kính của người dân bị áp bức châu Á chứ không theo tinh thần cách
mạng tư sản Pháp, nên ông chỉ coi đó là những yếu tố cần chứ chưa đủ. Vì
vậy, không thể coi những giá trị của nền cộng hoà Pháp là mục tiêu theo đuổi
suốt đời của Hồ Chí Minh .
2. Hồ Chí Minh có phải chỉ thuần túy là người theo chủ nghĩa
dân tộc?
a. Hồ Chí Minh trước hết
là một người yêu nước nồng nhiệt
Điều này đã được khẳng định trong danh xưng của Cụ: Hồ
Chí Minh trước sau vẫn là Nguyễn Ái Quốc= một người yêu nước. Năm
1960, vào lúc thịnh thời của chủ nghĩa xã hội, trong bài “Con đường dẫn
tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh đã viết: “Lúc
đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin
theo Lênin, tin theo Quốc tế Thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa
nghiên cứu lý luận Mác-Lênin vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được
rằng chỉ có chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân
tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.
Như vậy, Cụ Hồ đã nói rõ về con đường cách mạng của
mình là từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Do đó, trả lời câu
hỏi Cụ Hồ là ai, phải nhận thức được sứ mệnh kép đó, chứ không nên tách
bạch một cách cực đoan, siêu hình: hoặc chỉ là người này (theo chủ nghĩa dân
tộc) hoặc chỉ là người kia (theo chủ nghĩa quốc tế), chỉ là người mácxit hay
chỉ là người theo đạo Khổng. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa,
nên không thể quy bộ mặt tinh thần của ông vào một dạng đơn nhất nào. Tuy
nhiên, trong sự đa dạng đó, vẫn cần thiết phải xác định đâu là mặt chủ
thể trong nhân cách của Hồ Chí Minh.
Là người nô lệ mất nước, ra đi tim đường cứu nước,
khát vọng cháy bỏng mà chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành mang theo là khát vọng
giải phóng dân tộc và canh tân đất nước. Sau này, Hồ Chí Minh đã nói một
câu thống thiết: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là lo làm sao
cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai
cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Yêu nước đã trở thành
lẽ sống, thành tiêu chuẩn chân lý để ông xét đoán con người và việc đời. Trước
sự phân liệt của Đảng Xã hội ở Đại hội Tours,
có người hỏi: anh sẽ bỏ phiếu cho Quốc tế nào? -Thế Quốc tế nào bênh vực các
dân tộc thuộc địa? Được trả lời là Quốc tế 3, anh quyết định bỏ phiếu tán thành
gia nhập Quốc tế 3. Đó không phải là một quyết định cảm tính, mà là theo lý
tưởng, theo mục tiêu cứu nước của anh. Vì sao có thể nói như vậy?
Trong 10 năm đầu, Nguyễn Tất Thành đã đi khắp thế
giới, hướng đến mọi chân trời để tìm đường thực hiện lý tưởng, nhưng không có
bàn tay thân thiện nào chìa ra với anh, vì vào hai thập niên đầu thế kỷ XX, vấn
đề giải phóng các dân tộc thuộc địa vẫn còn là một vấn đề quá mới,
quá lớn đối với thế giới, ngay Mác và Enghen trước đó cũng chưa đưa ra được câu
trả lời thật rõ ràng, còn các Đảng Xã hội Quốc tế 2 lại chưa vượt qua được tâm
lý dân tộc hẹp hòi, vì lợi ích quốc gia, họ vẫn ủng hộ chính sách thuộc địa của
nhà nước tư bản. Mặt khác, cũng do cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc
địa chưa phát triển mạnh mẽ, thực tiễn thời đại chưa hé ra được lời giải đáp rõ
ràng.
Chỉ sau thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, với sự
thành lập Quốc tế 3 và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của
Lênin được công bố, tiếp theo là Đại hội Ba-cu, nêu cao tinh thần đoàn kết anh
em giữa các dân tộc phương Đông với giai cấp vô sản phương Tây, rồi
cùng với kinh nghiệm thực tiễn hoạt động và đấu tranh của bản thân,
Nguyễn Ái Quốc mới dần dần đi tới được nhận thức rằng: “Muốn cứu nước,
giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[6]. Do đó, Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với
chủ nghĩa quốc tế.
Tuy nhiên, trong cái song đề đó, vẫn phải thấy mặt
chính, mặt chủ thể của nó, đó là mặt nào? Có người nêu thắc mắc: tại sao
Nguyễn Ái Quốc lúc nào cũng chỉ đề cập đến vấn đề thuộc địa mà ít hoặc không đề
cập đến những vấn đề nóng bỏng khác trong phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy
giờ, vậy ông là người cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế hay thuần túy chỉ là
người theo chủ nghĩa dân tộc?
Thử hỏi, một người dân mất nước, đang đi tìm đường cứu
nước làm sao lại không nói nhiều về vấn đề thuộc địa khi từng ngày, từng giờ
chủ nghĩa thực dân đang gieo tai họa, đau khổ lên cuộc sống của đồng bào mình,
tại sao lại không đề cao chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, vốn là “động
lực vĩ đại và duy nhất” của họ?
Hãy nghe ý kiến của một người cộng sản phương
Tây, ông Ch. Fourniau: “Vấn đề duy nhất đặt ra là cần hiểu rõ tại sao và như
thế nào mà một người dân thuộc địa tất nhiên phải theo chủ nghĩa dân tộc? và tại
sao lại tìm được ở chủ nghĩa cộng sản như là con đường duy nhất để thực hiện độc
lập cho Tổ quốc mình?”[7]Tất nhiên, chủ nghĩa dân tộc và “dân
tộc chủ nghĩa” là hai khái niệm khác nhau. J. Jaurès - lãnh tụ hàng đầu của
Đảng Xã hội Pháp, từng nói đại ý: Một ít chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta xa rời
chủ nghĩa quốc tế, rất nhiều chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta vào trung tâm của
chủ nghĩa quốc tế. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh chinh là biểu tượng cao đẹp của
tinh thần đó.
b. Hồ Chí Minh đồng thời
là một chiến sĩ quốc tế trong sáng
Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, được tiếp
nhận phương pháp làm việc biện chứng, trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc được
nâng cao thêm, tầm nhìn thời đại được mở rộng hơn, bạn bè, đồng chí trở nên
đông đảo hơn, sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế cũng ngày càng to lớn và hiệu quả hơn,
triển vọng thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng của Việt Nam cũng trở
nên sáng sủa hơn.
Sau khi trở thành người cộng sản, cùng với các thành
viên khác gốc thuộc địa, Nguyễn Aí Quốc đã kiến nghị với Đảng Cộng sản Pháp lập
ra Ban nghiên cứu Thuộc địa, xuất bản báo Le Paria, tham gia sáng
lập Hội liên hiệp Thuộc địa, kiến nghị với báo L’Humanité mở
chuyên mục thường xuyên về vấn đề thuộc địa. Tên tuổi Nguyễn Áí Quốc trên các
bài báo dần dần trở nên quen thuộc với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh
chống chủ nghĩa thực dân.
Nguyễn Áí Quốc trở thành người cộng sản đồng thời cũng
trở thành một chiến sĩ quốc tế chân chính. Ông không chỉ quan tâm đến số phận
các dân tộc Đông Dương mà còn quan tâm tới số phận của tất cả những “người
cùng khổ” trên trái đất: ủng hộ nền độc lập của nhân dân Airơlen, bênh vực
quyền lợi của người Mỹ da đen, lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân gây ra ở
Đahômây, Angiêri, Mađagaxca,…
Có thể nói, Nguyễn Ái Quốc là người có công lớn trong
việc đấu tranh, bảo vệ, phát triển và hiện thực hoá học thuyết Lênin về cách
mạng thuộc địa bằng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tôc của Việt Nam
và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tôc trên thế giới trong thế kỷ
XX.
Chính Đảng Cộng sản Pháp đã đánh giá rất cao những
cống hiến của Nguyễn Ái Quốc vào đường lối của Đảng Pháp trong vấn đề thuộc
địa: “Nguyễn Ái Quốc đã có đóng góp quan trọng vào việc hình thành truyền thống
chống chủ nghĩa thực dân, một truyền thống làm vẻ vang cho Đảng Cộng sản Pháp…Vậy
thì hẳn rằng Người phải được coi là một trong những người thầy của Đảng Cộng
sản Pháp về những vấn đề thuộc địa”[8].
3. Hồ Chí Minh phải chăng là một người xã hội dân chủ?
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người yêu nước và
chiến sĩ quốc tế, điều đó không ai có thể phủ nhận, nhưng liệu ông có phải
là người xã hội dân chủ?
Hiện nay, khi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ Thụy
Điển đang được ca ngợi, có một số người lại cho rằng Hồ Chí Minh không phải là
cộng sản, mà về thực chất ông là người xã hội dân chủ từ trong gốc rễ!
a. Trước hết, cần nhìn lại xem có khi
nào Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh phủ nhận danh hiệu người cộng sản
của mình không?
Trong gần 50 năm làm người cộng sản, khi thuận lợi,
lúc khó khăn, dù chi là người thợ ảnh bình thường hay đã là vị chủ tịch nước,
khi bị giam hãm chốn ngục tù hay đã lên tới tuyệt đỉnh vinh quang,…Hồ Chí Minh
lúc nào cũng tỏ rõ là người cộng sản thuỷ chung, thắng không kiêu, khó không
nản, chưa từng thấy khi nào ông phủ nhận danh hiệu cộng sản của mình.
Tháng 8 năm 1944, được Trương Phát Khuê trả lại tự do
sau hơn một năm cầm tù, trước khi rời Liễu Châu, Hồ Chí Minh nói thẳng với
Trương: “Tôi là một người cộng sản, nhưng điều tôi quan tâm
hiện nay là Tự do, Độc lập của Việt Nam chứ không phải là chủ nghĩa
cộng sản. Tôi có một lời đảm bảo đặc biệt với ông rằng: chủ nghĩa cộng sản sẽ
chưa được thực hiện ở Việt Nam
trong vòng 50 năm tới”[9].
Giữa năm 1946, ở Paris,
một nhà báo cánh hữu muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa chủ
nghĩa cộng sản đối với Hồ Chí Minh, đã đưa ra một câu hỏi: “Thưa Chủ tịch,
Ngài có phải là cộng sản không?”CT Hồ Chí Minh bình thản đi tới lẵng hoa
bày trên bàn, rút ra từng bông lần lượt đem tặng cho những người có mặt, trước
hết là cho chị em phụ nữ, và nói rằng: “Tôi là người cộng
sản như thế này này”(Je suis communiste comme ça!). Hồ Chí Minh
hiểu thâm ý của nhà báo Pháp khi đưa ra câu hỏi không thân thiện nói
trên, nghĩa là muốn mượn hình ảnh người cộng sản đang bị bêu xấu trong các tấm
áp phich xuất hiện trên đường phố Paris
thời bấy giờ để hạ uy tín của Hồ Chí Minh. Nhưng cử chỉ văn hoá trang nhã, lịch
thiệp của ông đã cho các quan khách thấy hình ảnh một người cộng sản khác-
một người cộng sản Việt Nam lịch thiệp, nhân ái, nhân văn.
Trước khi qua đời, Người đã dặn lại trong Di Chúc
một điều có liên quan đến trách nhiệm đảng viên cộng sản của mình: “Đảng ta
là đảng cầm quyền,…phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là
người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Hồ Chí Minh
đi theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng hiểu rất rõ việc thực hiện lý tưởng cộng sản
là một quá trình lịch sử lâu dài, chỉ khi nào đạt tới trình độ phát triển rất
cao về kinh tế, văn hóa, xã hội và con người mới có điều kiện thực hiện. Đối
với Việt Nam, Người khẳng định lý tưởng đó còn quá xa, chưa thể thực hiện được
trong vòng 50 năm tới; còn đối với thế giới, thì Người cũng nói khi trả lời các
nhà báo Pháp năm 1946 tại Paris, qua một sự so sánh: “Tất cả mọi người đều
có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các
Mác. Cách đây 2000 năm, Đức chúa Giêxu đã nói là chúng ta phải yêu mến các kẻ
thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được. Còn đến bao
giờ chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được”.[10] Như đã thấy: Hồ Chí Minh là một nhà
chính trị tỉnh táo và trung thực.
b. Vậy Hồ Chí Minh là ai?
Cần thấy rằng con đường cách mạng của Nguyễn Tất Thành
khi ở Pháp đã phát triển qua nhiều chặng. Khi mới chân ướt chân ráo tới Paris
cuối năm 1911, trung thành với chiến lược canh tân của Phan Châu Trinh (có thể
có sự gợi ý và giúp đỡ của cụ Phan), anh Thành đã viết đơn xin vào Trường Thuộc
địa với hy vọng tranh thủ nâng cao học vấn để trở về giúp đồng bào. Năm 1919,
cùng với Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, anh đưa Yêu sách 8 điểm gửi
Hội nghị Hòa bình Versailles, thí điểm dùng luật pháp tư sản và biện pháp kiến
nghị hòa bình để đòi các quyền dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Chắc
không ai cho anh là người theo chủ nghĩa cải lương !
Trước khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã
từng tham gia Đảng Xã hội Pháp Quốc Tế 2. Dù đã có cuộc chia tay ở Đại hội
Tours, ông vẫn duy trì quan hệ tốt đẹp với nhiều lãnh tụ và đảng viên Xã hội -
những người một thời đã dìu dắt, giúp đỡ ông trong buổi đầu chập chững khi ông
mới bước vào hoạt động chính trị trên đất Pháp. Chắc cũng không ai vì điều này
mà cho ông là người xã hội dân chủ từ gốc rễ?
Hay là, do cách ứng xử ôn hòa của ông: biết tiến biết
lui, biết liên minh, đối thoại, kiên trì giải pháp hòa bình trong nhiều
vấn đề quốc gia và quốc tế, mà có thể khiến người ta nhìn nhận ông như là một
người xã hội dân chủ chăng?
Giải đáp vấn đề này, cần nhắc lại một nguyên lý đơn
giản: Chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng như mọi chủ thuyết chính trị hay tôn giáo khác,
như Phật giáo, Nho giáo khi được du nhập vào Việt Nam, ít nhiều cũng bị khúc xạ
bởi truyền thống văn hoá, tư tưởng, đạo đức, lối sống ,…của dân tộc Việt Nam -
một dân tộc có truyền thống nghìn năm văn hiến.
Gia nhập hàng ngũ mácxít, đương nhiên Nguyễn Ái Quốc
chấp nhận học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác. Nhưng xuất phát
từ thực tế xã hội và văn hoá truyền thống Việt Nam, ông không coi đấu tranh
giai cấp là động lực duy nhất, càng không tuyệt đối hoá nó, mà có sự điều chỉnh
cho phù hợp với thực tế Việt Nam. Lý luận Mác-Lênin nhấn mạnh đấu tranh giai
cấp và chuyên chính vô sản, nhưng Nguyễn Ái Quốc lại cho rằng: “Cuộc đấu tranh
giai cấp (ở Việt Nam
) không diễn ra giống như ở phương Tây”.“Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn
của đất nước…Người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu như
không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống xã hội của
họ”[11]. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh
đã có lần phê phán những biểu hiện giáo điều, tả khuynh của một số người mới từ
nước ngoài về: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng đề ra khẩu
hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho
đúng”[12]. “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà
chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc”[13]. Về chính quyền, Hồ Chí Minh không tuyên bố xây dựng nhà
nước chuyên chính vô sản mà chủ trương thành lập nhà nước dân chủ cộng hòa, tiêu
biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân.
Là người cộng sản, đương nhiên về nguyên tắc, Hồ Chí
Minh thừa nhận học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.
Nhưng khi Nguyễn Ái Quốc bước vào hoạt động chính trị đầu thập niên 20 thế kỷ
trước, thì giai cấp công nhân Việt Nam mới đang trên đường hình thành, số lượng
còn nhỏ bé, càng chưa thể có giai cấp công nhân công nghiệp và cũng chưa thực
sự xuất hiện trên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị. Khi đó, Nguyễn Ái
Quốc đã từng viết một số bài về phong trào công nhân Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật
Bản, Thổ Nhĩ Kỳ,…mà chưa có điều kiện bàn nhiều về sứ mệnh lịch sử của giai cấp
công nhân Việt Nam khi nó chưa thật sự trưởng thành. Từ sau cách mạng tháng
Tám, rồi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, thì Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ
có giai cấp công nhân lãnh đạo thì kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới
thành công”[14].
Những điều trình bày trên cho thấy Hồ Chí Minh hoàn
toàn không có gì giống với các quan điểm cơ bản của chủ nghia xã hội dân
chủ. Ông không phủ nhận đấu tranh giai cấp để đi vào con đường
thoả hiệp với kẻ thù ; không từ bỏ con đường đấu tranh cách mạng để chấp nhận
những cải cách bố thí nhỏ giọt của đế quốc, thực dân ; càng không tin rằng
vận mệnh của Tổ quốc, tự do của nhân dân có thể giành lại chỉ bằng con đường
đấu tranh nghị trường, v.v. vốn là những quan điểm đặc trưng của những
người xã hội dân chủ. Chính vì bất mãn với thái độ của các lãnh tụ Đảng Xã hội
Pháp trong vấn đề thuộc địa : “Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông
qua những nghị quyết rất kêu để sau Đại hội đưa vào viện bảo tàng”[15], nên Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc
Tế 3, trở thành người chiến sĩ quốc tế nồng nhiệt, đấu tranh không mệt
mỏi cho độc lập của dân tộc mình và cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa.
Đó là so sánh trên những điều thuộc về nguyên tắc, còn
cung bực uyển chuyển trong xử lý mỗi sự việc cụ thể là thuộc về sách lược, nó
phụ thuộc vào phong cách, khí chất của mỗi con người, vào nền tảng văn hóa của
họ.
Nhưng điều quan trọng không phải là lý giải xem Hồ Chí
Minh là Xã hội Dân chủ hay Cộng sản, mà vấn đề cơ bản cần làm rõ: Ông là
người cộng sản như thế nào? Bởi trong những lãnh tụ cộng sản, có
người chuyên quyền, độc đoán, giáo điều, cơ hội “tả” khuynh,…lại cũng có những
người như Antonio Gramsçi, lãnh tụ Đảng Cộng sản Italia, chủ trương thay thế
khái niệm “chuyên chính vô sản”(dictature du prolétariat) bằng khái niệm “bá
quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản” (hégémonie du prolétariat), nhấn mạnh
vai trò chỉ đạo của trí tuệ và đạo đức hơn là bằng quyền lực nhà nước; hoặc
như Rosa Luxemburg - lãnh tụ Đảng Cộng sản Đức, bà cho rằng “chế độ tập
trung dân chủ là tập trung quyền lực vào một nhóm người, còn các tổ chức khác
chỉ là công cụ chấp hành của Trung Ương mà thôi”; theo bà, cải lương cũng là
sản phẩm của cách mạng, lựa chọn cải lương hay bạo lực là tùy tình thế cách
mạng, còn bạo lực chỉ là giải pháp cuối cùng, nó là con dao hai lưỡi, rất khó
sử dụng,…
Đó là nói những lãnh tụ cộng sản chưa cầm quyền. Hồ
Chí Minh là một lãnh tụ đã cầm quyền suốt 24 năm, nhưng trước sau vẫn nhất quán
là người cộng sản yêu nước, thương dân, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và
dân tộc lên trên lợi ích giai cấp và bộ phận, suốt đời tận tụy, khắc khổ nêu tấm
gương về người lãnh đạo - người đày tớ thật trung thành của nhân dân; trong sạch,
liêm khiết, đi tiên phong đấu tranh chống hủ bại: tham ô, lãng phi, quan liêu
trong điều kiện cầm quyền. Hồ Chí Minh là biểu tượng của người cộng sản cầm quyền
theo chính trị “vương đạo”: lãnh đạo bằng thuyết phục và nêu gương, luôn nêu
cao trí tuệ, đạo đức, dân chủ, coi dân là chủ, lấy lợi ích và nguyện
vọng của dân làm gốc. Cụ là người rất “trí thức” nên biết quý trọng trí thức,
tin dùng người tài, không gợn một chút “kiêu ngạo cộng sản” nào. Cụ thường nói:
“Cách mạng rất cần trí thức và thực ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức…Không
có trí thức tham gia, công việc của cách mạng khó khăn thêm nhiều”[16]. Nhân cách của Cụ tỏa ra sức
hấp dẫn đặc biệt đối với trí thức thuộc nhiều xu hướng, cả trong Nam ngoài Bắc
lẫn trí thức Việt kiều, lôi cuốn được hầu hết những trí thức lớn của đất nước
đi vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc; ai chưa kịp đến với Cụ thì cũng không
khi nào chống lại Cụ cả. Đó là “chìa khóa” đã giúp Hồ Chí Minh thành công. Học
tập và làm theo Hồ Chí Minh là phải phấn đấu thực hiện bằng được những điều đó.
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng Hồ Chí Minh lại là một minh chứng
hùng hồn về vai trò của vĩ nhân trong lịch sử. Không có Hồ Chí Minh, Đảng Cộng
sản Việt Nam
cũng khó có thể sớm giành được bá quyền lãnh đạo của mình ngay từ sau năm 1945.
Tuy nhiên, cũng không thể quy những phẩm chất nói trên
của Hồ Chí Minh chỉ do ông là môn đồ của Khổng giáo. Không ai phủ nhận:
xuất thân từ một gia đình nhà nho, từ nhỏ Nguyễn Tất Thành đã thấm nhuần nhiều
mệnh đề Nho giáo có giá trị chỉ đạo nhận thức thế giới và xử lý các vấn đề xã
hội-nhân sinh, (ví như đạo “Trung Thứ”của Khổng-Mạnh: suy từ lòng mình để hiểu
được lòng người, làm chính trị như thế có thể đạt tới điều “nhân”). Nhưng ảnh
hưởng của Khổng giáo chỉ là một phần thôi, cái gốc làm nên nhân cách chính trị
Hồ Chí Minh chính là văn hóa Việt Nam, mà hạt nhân của nó là chủ nghĩa yêu
nước, chủ nghĩa nhân ái và chủ nghĩa cộng đồng Việt Nam - được hình thành lâu
đời từ trong quá trình dựng nước và giữ nước.
c.
Hồ Chí Minh không phải là người cộng sản giáo điều mà là người cộng sản nhân
văn, có tư duy độc lập, sáng tạo, một nhà chính trị có đầu óc thực tế.
Chỉ mới hơn một năm sống ở Maxkva, Nguyễn Áí Quốc đã
đưa ra một luận điểm mà nhiều nhà cách mạng thế giới phải suy nghĩ: “Mác đã
xây dựng học thuyết của mình trên một triết học nhất định của lịch sử. Nhưng
lịch sử nào?-Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gi? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”[17] - (một phản ứng rất tinh, rất sớm với thuyết “Dĩ
Âu vi trung” đang thịnh hành ở châu Âu lúc bấy giờ).
Nguyễn Ái Quốc đã xuất phát từ truyền thống văn hoá
Việt Nam
để nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác. Ông là người cộng sản đầu tiên nhận ra
và đánh giá cao tiềm lực của cách mạng thuộc địa ở Phương Đông. Trong lúc các
đảng Cộng sản theo Quốc Tế 3 cho rằng: vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc
địa chỉ có thể được giải quyết khi nào cách mạng vô sản giành được thắng lợi ở
phương Tây. Cả Mác - Enghen, rồi Lênin cũng chưa nghĩ đến khả năng các dân
tộc thuộc địa có thể tự giải phóng mình ngay giữa vòng vây của chủ nghĩa
đế quốc.
Thế mà Nguyễn Ái Quốc lại “cả gan” đưa ra một luận
điểm trái ngược, “phi kinh điển”, so với các quan niệm trên! Từ
sự phân tích những điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội…của châu Á (chế độ
ruộng công, thuyết bình đẳng về tài sản, chế độ giáo dục và lao động cưỡng bức
đối với người lớn, chế độ phúc lợi cho người già, tư tưởng “dân vi quý”, sự lên
án nghiêm khắc thói ăn bám,…), Nguyễn Ái Quốc đưa ra nhận định: “chủ nghĩa
cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á hơn là ở châu Âu”, nghĩa là cách
mạng thuộc địa theo đường lối vô sản có thể nổ ra ở châu Á, nếu “chúng ta có
nhiệt tình tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và thực tâm muốn giúp đỡ những người
lao động lật đổ ách của những kẻ bóc lột” thì họ sẽ trở thành một lực lượng
khổng lồ “và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ
nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc” họ còn “có thể giúp đỡ những người
anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”[18]. Đó quả thật là một luận điểm táo bạo,
mới mẻ, lạ lùng nữa, trước đó chưa có ai nhìn ra và chưa ai dám khẳng định mạnh
mẽ như thế !
Nhìn vào những đặc điểm của văn hoá
chính trị Hồ Chí Minh, chúng ta đều nhận thấy đó chính là sản phẩm của văn
hoá chính tri Việt Nam, phản
ánh những giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những nguyên lý của chủ
nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam,
thông qua Hồ Chí Minh, cũng được lọc qua hệ giá trị đó. Khi Hồ Chí Minh nhắc
nhở cán bộ, đảng viên: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. “Hiểu
chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao
nhiêu sách mà sống không có tinh, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa
Mác-Lênin được” – thì đó chỉ là mượn danh nghĩa Mác-Lênin để truyền đạt
tinh thần nhân văn - nhân nghĩa của văn hóa Việt Nam mà thôi !
III. Kết luận
Nêu lại luận đề “Cụ Hồ là ai” để trao đổi, chúng tôi
chỉ muốn góp thêm một vài ý kiến để cùng tham khảo, vì hiểu rằng Hồ Chí Minh dù
là dân tộc hay quốc tế, cộng hòa hay cộng sản, xã hội dân chủ hay Khổng giáo,…đối
với các học giả nói trên, đều không quan trọng. Mỗi người từ chỗ đứng của mình,
rọi một cái nhìn để giúp hiểu được tính đa dạng, phong phú cuả một vĩ nhân. Vĩ
nhân nào cũng đều là sản phẩm của những điều kiện lịch sử- xã hội nhất định, sở
dĩ họ là vĩ nhân vì họ đã vượt lên được những hạn chế của hoàn cảnh để trở
thành người đi tiên phong trong thời đại của mình. Ở một vĩ nhân như Hồ
Chí Minh lại càng như vậy. Trên hành trình 30 năm tìm đường, Cụ đã đến nhiều
nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, đã tìm hiểu nhiều chủ thuyết, tự coi mình
là học trò nhỏ của nhiều ông thày lớn, nhưng Cụ biết chọn lọc để chỉ học lấy
những “cái cần thiết cho chúng ta”, phục vụ cho “con đường giải phóng
chúng ta”[19] phù hợp với truyền thống văn hóa của
dân tộc, chứ không hề “tiếp thu cả gói” một cách giáo điều. Trong những hoàn
cảnh bị o ép khắc nghiệt, Cụ vẫn giữ được bản lĩnh, bản sắc của một nhà chính
trị tầm vóc, không bị bào mòn, hòa tan, không đầu hàng, khuất phục. Cụ đã nêu
tấm gương bất khuất của một dân tộc nhỏ trước những cường quốc lớn, ngay cả
trong vấn đề tiếp nhận văn hóa và tư tưởng.
Vậy cuối cùng, Cụ Hồ là ai? Theo
Voltaire, “nhà chính trị thực sự xứng đáng với tên gọi này là người “biết chơi”
và dần dà là người chiến thắng”. Theo tôi, Cụ Hồ là nhà chính trị “biết chơi”, biết
khéo tận dụng mọi cơ hội và phương tiện để thực hiện mục tiêu đấu tranh của
dân tộc. Cụ là người chiến thắng, vì nền tảng văn hóa của Cụ sâu rộng, lý tưởng
của Cụ cao cả, phẩm cách của Cụ trong sáng, phương pháp tư duy của Cụ uyển
chuyển, biết linh hoạt ứng biến trước mọi hoàn cảnh, như Cụ thường nói “dĩ
bất biến, ứng vạn biến”, khi “tình hình, nhiệm vụ đã thay đổi,… chính
sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi cho hợp với tình hình mới”[20].Vì vậy, Cụ được thừa nhận là biểu
tượng cho khát vọng Độc lập, Tự do, Lương tâm và Trí tuệ của các
dân tộc bị áp bức; được Tạp chí Time của Mỹ tổ chức bầu chọn vào danh sách 20
nhà lãnh đạo có uy tín hàng đầu trong tổng số 100 nhân vật được bầu chọn
là những người nổi tiếng nhất thế giới trong thế kỷ XX[21]. Về phần Cụ, sứ mệnh đã hoàn thành.
Trong 80 năm mất nước, bị nô lệ, có biết bao cuộc đấu tranh anh hùng đã diễn
ra, song tất cả đều thất bại; với Cụ, ta đã có “một nước Việt Nam hòa bình, độc
lập, thống nhất”; còn “dân chủ, giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng
thế giới” sẽ được thực hiện ra sao, đó là trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo hôm
nay, của những người được coi là kế tục Cụ; nhưng để được như vậy, không chỉ nhân
danh Cụ mà cần ra sức học tập, thành tâm noi theo Cụ, cả về Tâm, Đức,
Trí và Hành ./.
Chú thích
[1] Thu Trang-Gaspard: Hô Chi Minh
à Paris
(1917-1923). Preface de Ph. Devillers, p.13.
[2] Alain Ruscio: Nguyen Ai
Quoc-Ho ChiMinh : Portrait d’un “Bolchevik jaune”, Revue Communisme
No 28, 4 me Trimestre 1990.
[3].Bài nói chuyện của Pierre Brocheux
tại Toronto-Canada ngày 29-10-2003 về cuốn sách của ông: “Viêt Nam expose and
New biography of Ho Chi Minh” .
[4] David Halberstam: “Ho”, Random
House, New York,
1971.
[5] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 4, tr. 458
[6] Luận đè này đến năm 1959 mới được Hồ
Chí Minh diễn đạt thành văn, nhưng nó đã là sản phẩm tư duy của Nguyễn Ái Quốc
được hình thành từ những điều kiện lịch sử khách quan của những năm 20 TK XX.
Cũng có thể xem đó là sự lựa chọn của lịch sử.
[7] “Một nhà yêu nước và một nhà cách
mạng mẫu mực”, trong Ho Chi Minh, notre camarade, Ed.
Sociales Paris, 1970, p. 21.
[8] Ch. Fourniau : Ho Chi Minh,
notre camarade, Ed. Sociales, Paris, 1970, tr. 31.
[9] Hồi ký của Trương Phát Khuê,
đăng trên Tuần báo Liên hợp tạp chí ,Hồng Kông, 1962.
[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, t,4,
tr. 272.
[11] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 1,
tr. 464, 467.
[12] HCM Toàn tập, t.5, tr.272.
[13] XYZ: Duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử. Ban Huấn luyện TƯ xb 1949. (Chưa có trong HCM Toàn tâp
xb lần 2).
[14] Hồ Chí Minh Toàn Tập, sdd,
t.6,tr. 458.
[15] Hồ Chí Minh Toàn Tập ,sdd,
t.1,tr. 281.
[16] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t.7,
tr. 33 và t.5, tr.235 .
[17] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 1,
tr. 465.
[18] Hồ Chí Minh Toàn Tập, sdd ,
t.1, tr.36.
[19] Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa
Lênin, HCM Toàn Tập, t. 10, tr. 127.
[20] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t.7,
tr. 315.
[21] Chuẩn bị cho thời điểm kết thúc thế
kỷ XX, tạo chí Time đã phối hợp với hãng truyền hình CBS, đưa ra
bảy triệu phiếu bầu, gửi đi khắp các nước, để bầu chọn lấy 100 nhân vật được
coi là có ảnh hưởng lớn nhất, thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong thế kỷ XX. Số
cuối tháng 12-1999, tạp chí Time đã công bố danh sách 100 nhân
vật đó. Hồ Chí Minh nằm trong số 20 nhà lãnh đạo có uy tín lớn nhất, bên cạnh
V.I.Lênin, M.Gandhi, W. Churchill, A. Khomeney, N. Mandela cùng nhiều nhân vật
nổi danh khác.
Nguồn viet-studies
|