HGYT - “Lý tưởng nào cũng đòi hỏi sự hy sinh và cô đơn của người
phụ nữ. Có lẽ chưa ở đâu trên thế giới có nhiều phụ nữ chờ chồng như ở
ta”, đạo diễn Đặng Nhật Minh đã rút ra kết luận như vậy từ câu chuyện
của cha mẹ mình.
Đạo diễn Đặng Nhật Minh đã rút ra kết luận như vậy từ câu
chuyện của cha mẹ mình. Và có lẽ, đó cũng là kinh nghiệm từ những câu
chuyện mà ông đã nghe, đã gặp, trong thời kỳ gian khó và oai hùng đó của
lịch sử dân tộc.
“Tôi thuộc Chinh phụ ngâm trước khi biết Truyện Kiều”
Cha mẹ tôi là những người Huế. Quê nội tôi ở An cựu và quê ngoại ở
làng Lại Thế. Tôi nghe Bà tôi kể: đám cưới cha mẹ tôi là một đám cưới
chạy tang. Mẹ tôi đã khóc rất nhiều trước khi về nhà chồng để rồi không
lâu sau trở lại nhà mình để chịu tang cha. Phải chăng vì sự khởi đầu như
vậy nên cuộc sống chung của hai người vui ít buồn nhiều. Chắc chắn
cha mẹ tôi đã có những ngày rất hạnh phúc bên nhau, nhưng những ngày ấy
rất ngắn ngủi. Sau khi cha tôi quyết định lên đường sang Nhật du học, đi
theo tiếng gọi của lý tưởng khoa học, là bắt dầu những chuỗi ngày xa
cách chia ly.
Tôi thuộc Chinh phụ ngâm trước khi biết Truyện Kiều là do mẹ tôi, bà
hay đọc cho tôi nghe từ nhỏ. Lớn lên tôi biết thêm rằng con người ta còn
có những lý tưởng khác nữa như: Giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội
công bằng, bác ái, không có người bóc lột người…. Lý tưởng nào cũng đòi
hỏi sự hy sinh và nỗi cô đơn của người phụ nữ. Về sau tôi hiểu thêm: lý
tưởng cũng như tôn giáo, nó còn đòi hỏi một sự sùng tín nữa, hy sinh
không chỉ bản thân mình mà cả những người thân xung quanh mình. Cha mẹ
tôi là một trong muôn vàn thí dụ về sự hy sinh như thế .
Đạo diễn Đặng Nhật Minh.
Những năm 40, việc một người phụ nữ trẻ, ôm một nách 3 con, con nhỏ
nhất mới hơn một tuổi, vừa nuôi con vừa hầu hạ bố mẹ chồng, sống cô đơn
ròng rã suốt 7 năm trời là một chuyện hy hữu. Sau này trong hai cuộc
Kháng chiến trường kỳ của dân tộc vợ chồng xa cách nhau, kẻ Bắc người
Nam là chuyện thường tình. Có lẽ chưa ở đâu trên thế giới có nhiều phụ
nữ chờ chồng như ở ta. Vợ chờ chồng 10 năm, 20 năm, 30 năm…. Mẹ tôi chờ
chồng 7 năm, nhưng 7 năm ấy đối vời bà là một chuỗi ngày dài đằng
đẵng. Còn đối với tôi 7 năm ấy là cả một miền ký ức vô tận của tuổi
thơ….
Ngày ấy, sau khi cha tôi lên đường du học, mẹ tôi cùng 3 anh em chúng
tôi về sống trong ngôi nhà nội tôi tại An Cựu. Tôi chỉ còn giữ lại
trong ký ức hình ảnh ông nội tôi như một ông đồ nho đầu búi tó củ hành.
Quanh vùng người ta gọi ông là ông Khoá. Có nghĩa ông tôi suốt đời vẫn
là một anh học trò…, chẳng đỗ đạt bằng cấp gì. Dầu sao được gọi như vậy
cũng coi như đựơc xếp vào hạng người có học trong xã hội rồi. Nghe nói
ông tôi đã nhiều lần đi thi nhưng không thành, phẫn chí quay ra làm giàu
bằng con đường phi thương bất phú. Và rồi …….ông tôi giàu thật, giầu
nhất vùng An Cựu. Ông tôi quyết chí làm giàu cốt để có tiền nuôi con ăn
học, sau này đỗ đạt thành người, rửa cái hận thi cử bất thành của mình.
Gọi đó là lý tưởng của ông tôi cũng được.
Mà khởi đầu có gì đâu? Chỉ là một sạp hàng trong chợ An Cựu của Bà
nội tôi. Cơ ngơi chỉ có thế: một cái sạp hàng bán vải. Bây giờ mỗi lần
về thăm nhà đi qua chợ An Cựu tôi không khỏi cười thầm khi nghĩ: kể từ
thời bà nội tôi cho đến nay dễ hơn một thế kỷ, gia đình tôi không lúc
nào không có một sạp hàng trong chợ đó. Mẹ tôi một dạo cũng từng ngồi
bán vải trong đó và bây giờ con gái ông anh con bác tôi đang ngồi trong
đó, cũng bán vải. Có cảm tưởng như gia đình tôi có duyên nợ nào đó từ
kiếp trước với cái chợ này, để đến bây giờ cái biển đường phố mang tên
cha tôi cứ suốt ngày đau đáu nhìn sang phía cổng chợ.
Gia đình GS Đặng Văn Ngữ. Ảnh chụp tại Hà Nội năm 1942.
Đó là vào một buổi tối năm 1950…. Một người đàn ông đến tìm gặp mẹ
tôi tại nhà với vẻ mặt đầy bí ẩn. Tôi nhận ra người đó là bác thợ cạo
vẫn ngồi dưới gốc cây đa trước Miếu Đại Càng, nơi tôi thường hay ra cắt
tóc. Người đàn ông đó gặp mẹ tôi chưa đầy 5 phút rồi cáo lui. Ông đến
rồi đi như một cái bóng.Trong cuộc đời đầy dâu bể con người ta đôi khi
cũng cần bấu víu vào những cái gì đó bất biến, không đổi thay. Mà những
cái đó thì trong gia đình bên nội tôi có nhiều lắm. Đó là nề nếp của
một gia đình theo khổng giáo, lấy chữ hiếu làm đầu, tự bao đời nay được
coi là nền tảng bất di bất dịch trong cái thế giới thu nhỏ này. Ông nội
tôi mất đi, đến lượt Bác tôi, Bác tôi mất đi đến lượt anh cả con Bác
tôi… Hết lớp người này đến lớp người khác bền bỉ duy trì nếp sống đó
trong gia đình hệt như những vận động viên chạy tiếp sức truyền nhau một
ngọn đuốc.
Xin đơn cử một việc mà tôi được chứng kiên từ hồi còn nhỏ đó là lệ
cúng trà vào mỗi buổi sáng và mỗi buổi chiều. Từ ngày ông nội rồi bà nội
tôi mất, Bác Kế tôi, ngày nào cũng như ngày nào đều đặn đạp xe lên thắp
hương cúng trên mộ ông bà tôi rồi mới đến trường Quốc học làm việc (Bác
tôi là giám thị lâu năm nhất của Trường này). Chiều tan việc xong lại
đạp xe lên mộ thắp hương trước khi về nhà. Ngày nắng cũng như ngày mưa,
ông bền bỉ giữ trọn đạo Hiếu đối với cha mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi
tay. Bây giờ đến lượt anh cả con Bác tôi. Và rồi sẽ đến lượt con ông
anh tôi…, chắc chắn là như vậy. Những ngôi mộ trong nghĩa trang họ Đặng
mỗi năm một nhiều thêm và việc hương khói vẫn thế, không hề sao nhãng.
“Gương mặt ám ảnh tôi suốt cả cuộc đời”
Từ Vỹ dạ rẽ phải đi qua cầu ông Thượng về làng Lại Thế là đến quê
ngoại tôi. Ông ngoại tôi làm Thượng thư dưới triều đình Khải Định. Ông
tôi đã xây chiếc cầu này nên cầu có tên là cầu ông Thượng. Ông ngoại tôi
có bốn bà, nhưng tôi chỉ biết có bà Ba và bà Tư, hai bà trước qua đời
khi tôi còn chưa đẻ. Mẹ tôi là con bà Ba. Mỗi lần được về bên ngoại đối
với tôi thực sự là những ngày hội. Chúng làm xáo động cuộc sống bình
lặng của tôi trong những ngày sống ở bên nội. Tôi được về với đồng quê,
được ngửi mùi thơm của rơm rạ, được sống trong một không gian khác hẳn
khung cảnh phố phường ở An Cựu. Các dì các cậu tôi nhiều lắm. Chỉ riêng
con bà Ba và Bà Tư cũng đã có tới mười ba người. Ai cũng chiều chuộng,
yêu thương tôi.
Có một điều tôi không cắt nghĩa nổi tại sao xuất thân trong một gia
đình đại quan lại và phong kiến như vậy mà các dì các cậu tôi đều tham
gia vào các tổ chức bí mật của Việt minh hoạt động trong nội thành. Cứ
mỗi lần có dì hoặc cậu nào bị bắt là mẹ tôi lại đến Cung An định xin Bà
Từ Cung can thiệp với Sở mật thám Pháp để họ tha cho. Hẳn là mẹ tôi đã
bịa ra đủ thứ lý do để làm mủi lòng bà Hoàng Thái hậu vốn còn chút tình
nghĩa với gia đình quan thượng thư ngày nào. Rồi các dì các cậu tôi
được tha về để lại tiếp tục hoạt động và rồi lại bị bắt. Tôi không biết
mẹ tôi đã xin cho các dì cậu tôi bằng cách như vậy được mấy lần rồi
thôi. Tôi chỉ nhớ một hôm mẹ tôi mặc quần áo sạch sẽ cho tôi rồi dắt tôi
đi theo vào Đại nội. Qua rất nhiều tầng cửa có lính gác, cuối cùng mẹ
tôi dắt tôi đi dọc theo một dẫy xà lim dài… dừng lại bên một khung cửa
vuông nhỏ.
Một gương mặt hốc hác bầm tím hiện ra sau ô cửa. Tôi giật mình nhận
ra cậu Long em mẹ tôi. Tôi đau nhói trong tim nhưng không khóc được. Mẹ
tôi đưa qua ô cửa những ổ bánh mỳ cùng thức ăn khô, hỏi han cậu tôi. Cậu
tôi cố gượng cười để mẹ tôi yên lòng, rồi cúi xuống nhìn tôi. Hơn 50
năm qua ánh mắt ấy, gương mặt sau ô cửa xà lim ngày ấy vẫn còn ám ảnh
tôi, theo suốt cả cuộc đời tôi. Đối với tôi đó là gương mặt của Lương
tâm, của Phẩm giá và Nhân cách.
Tuổi thơ tôi cứ như vậy trôi đi giữa hai miền nội ngoại – An Cựu và
Lại Thế. Hết 4 năm tiểu học ở Trường An cựu tôi vào Trường Khải Định, đã
bắt đầu biết ngẩn ngơ nhìn sang tường bên kia Trường Đồng Khánh mỗi khi
tan trường. Chẳng có gì biến động lớn lao ngoại trừ cái đêm toàn quốc
Kháng chiến nổi lửa đốt khách sạn Morin sáng rực cả một góc trời. Rồi
những ngày lênh đênh trên thuyền cùng bên ngoại tản cư ra tận phá Tam
Giang, mà đối với tuổi thơ vô tư của tôi như một cuộc du ngoạn dài.
Mặt trận Huế vỡ, gia đình ngoại tôi lại trở về Lại Thế, trở thành cơ
sở bí mật của thành uỷ Thuận Hoá. Còn mẹ con chúng tôi lại trở về bên
nội. Tôi lại tiếp tục đi học. Nhưng cuộc sống tưởng chừng bất biến ấy đã
một lần xáo động, xáo động đến nỗi không một ai trong gia đình tôi dù
có giàu tưởng tượng đến mấy cũng không thể ngờ tới.
Vợ chồng GS Đặng Văn Ngữ chụp tại Hà Nội năm 1941. Ảnh do gia đình cung cấp.
“Được tin Cha”
Còn mẹ tôi hẳn không băn khoăn lắm về điều đó. Bà chỉ nóng lòng chờ
cơ sở bí mật đến bắt liên lạc để tổ chức vượt thành, đi gặp chồng. Cơ sở
bí mật được giao làm việc đó không phải ai khác chính là cậu tôi, người
mà mẹ tôi và tôi đã từng đi thăm trong xà lim Đại nội ngày nào. Vậy là
vào một ngày đã định, mẹ tôi cùng 3 anh em chúng tôi xin phép ông bà
cùng họ hàng bên nội, lên một chiếc xe kéo để về quê ngoại ăn kỵ. Thực
ra không có kỵ giỗ nào cả. Ngay khuya hôm ấy 3 du kích địa phuơng đến
đón bốn mẹ con chúng tôi đi….Về sau tôi mới biết rằng đêm đó người thợ
cắt tóc, một cơ sở bí mật trong thành phố, đã chuyển đến tận tay cho mẹ
tôi một bức thư của cha tôi viết từ Chiến khuViệt Bắc. Tôi không được
chứng kiến giây phút đó nhưng có thể hình dung hết được sự ngạc hiên
mừng rỡ như thế nào của mẹ tôi khi bà nhận ra nét chữ quen thuộc của
chồng mình sau hơn một năm bặt vô âm tín. Thì ra ông không còn ở Nhật
nữa. Ông đã trở về vùng tự do theo Kháng chiến và bây giờ đang nóng lòng
chờ gặp mẹ tôi cùng 3 anh em chúng tôi. Điều bất ngờ nhất đối với họ
hàng trong gia đình tôi là việc cha tôi, một người chỉ biết có kính hiển
vi và phòng thí nghiệm, bỗng nhiên đi theo Việt Minh, theo Kháng chiến.
Tác giả: ĐẠO DIỄN ĐẶNG NHẬT MINH- theo Hoà giải.vn
|