CHỮ HIẾU - XƯA và NAY
Chữ hiếu xưa & nay
“Hiếu
tâm tức thị Phật tâm,
Hiếu hạnh vô phi Phật hạnh”
Một thông điệp ngắn nhưng hạt giống nhân
bản vô cùng lớn, trên hết là tính cách mạng về giáo dục đạo đức của Phật giáo.
Bậc Đạo Sư khi dạy điều này Ngài đã
đặt mình ở vị trí của một người làm con nói về hạnh hiếu, chứ không phải ở vị
trí của bậc đã viễn ly sanh tử. Ngài dạy rằng Thế Tôn cũng là người đại hiếu và
tất cả các con cũng phải như vậy: “Khể thủ tam giới chủ, đại hiếu Thích Ca
văn” (sớ Vu Lan), tâm hiếu tức tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật.
Hiếu tâm- hiếu hạnh là cội nguồn của đạo
làm người trên nghĩa tuyệt đối để thành tựu những con người với nhân cách cao
thượng. Đạo hiếu là con đường, là chân lý, là phương thức,là cách sống, là cứu
cánh viễn ly điên đảo mộng tưởng, là giềng mối cho sự thịnh trị quốc gia và
hạnh phúc xã hội.
Gương hiếu xưa
Chữ hiếu xưa nay được dạy nhiều trong cả
hai nền văn hóa Đông Tây, như trong Phật giáo số lượng các bài kinh hiếu hạnh
rất lớn và nằm tản mát trong Tam Tạng, sự ra đời những bài kinh hiếu hạnh
mà Phật dạy luôn có nhân duyên xuất hiện đặc biệt.
Câu chuyện tiền thân “Hiếu Tử Sàma”[1]. Có chàng
trai thuộc gia đình giàu có ở thành Xá-vệ, vì mộ đạo nên xuất gia. Khi xuất gia
một thời gian và làm Tỳ-kheo, gia đình của thầy lâm vào cảnh khốn khó, cha mẹ
thầy phải lang thang xin ăn, khi hay tin cha mẹ như vậy, sầu thương nổi lên và
thầy buồn khóc thật nhiều, nghĩ rằng mình phải trở về gia đình để lo cho cha
mẹ. Nghĩ vậy,trên đường hoàn tục để quay lại quê nhà tại Xá-Vệ, thầy đã đến Kỳ
Viên để đảnh lễ Phật lần cuối, quán thấy những bất an của vị Tỳ-kheo này
nên bậc Đạo Sư đã dạy, một người con đi xuất gia vẫn lo được cho cha mẹ mình.
Hôm sau trên đường về, thầy đã gặp cha mẹ đang ngồi xin ăn bên vệ đường, thầy
không kìm lòng được và đã cúng dường hết cho cha mẹ phần thức ăn mà thầy đã khất
thực, hôm sau thầy cũng phụng dưỡng cha mẹ bằng cách đó.
Việc làm này của thầy đã gây ngờ vực cho các thầy
khác, rồi đem chuyện này trình lên đức Phật, Phật cho gọi vị Tỳ-kheo trẻ
đến và hỏi: “ Có
phải ông đã xuất gia mà còn lấy
vật cúng dường của thí chủ đem
cho người thế tục không?đó là người thế tục nào?. Thầy đáp: “Bạch Thế Tôn, có, đó chính là cha mẹ của
con”. Phật tán thán việc
làm đó và dạy: “Lành thay! Ông đang
đi con đường ngày xưa Ta đã đi qua, ngày xưa khi đi khất thực Ta cũng phụng dưỡng cha
mẹ Ta”.
Các vị Tỳ-kheo khi xuất gia tu hành, dù cắt ái từ
thân thực hiện nếp sống viễn ly, nhưng trên phương diện đạo đức xã hội, phụ mẫu
tình thâm nên vẫn phải làm tròn bổn phận đạo con. Thời Đức Phật còn tại thế, mỗ
khi biết vị Tỳ-kheo nào có hiếu với cha mẹ Ngài đều tán
thán, vì trải qua vô lượng a tăng kỳ kiếp, tiền thân của Phật cũng là hiện thân
của người con đại hiếu, như trong chuyện tiền thân “Cánh đồng lúa”, đức Phật
từng hóa thân làm chim Oanh Vũ hàng ngày đi kiếm lúa về nuôi cha mẹ mù.
Vào thời đức Phật có Tôn giả Tất-
Lăng-Già-Bà-Ta, sau khi xuất gia hành đạo, nhưng còn cha mẹ già yếu, nghèo khổ
không ai nuôi dưỡng. Ngài muốn đem y phục và thực phẩm cúng dường cha mẹ, nhưng
vì sợ phạm giới luật. Ngài bèn trình bày nỗi băn khoăn của mình lên Thế Tôn.
Nhân đó, đức Đạo Sư họp các
Tỳ-kheo và
truyền dạy: "Nếu có người nào suốt cả trăm năm, vai phải cõng cha, vai
trái cõng mẹ, và dù cha mẹ có đại tiểu tiện trên vai mình, cũng chưa thể gọi là
làm tròn hiếu đạo. Hoặc đem những thứ y phục và ẩm thực quý nhất trên đời cung phụng
cha mẹ cũng chưa đủ báo đền công ơn cha mẹ trong muôn một. Từ nay Ta cho phép
các Tỳ-kheo suốt
đời hết lòng cúng dường cha mẹ. Nếu ai không cúng dường thì phạm tội nặng” (Luật ngũ
phần)[2].
Viêt Nam
ngày trước, đạo hiếu có lúc được quy định rõ trong hiến pháp, sự tiến bộ của
hình pháp đã có từ thời Lê Sơ thông qua “Quốc triều hình luật”[3] hay gọi là
Bộ luật Hồng Đức, cán cân luật pháp thể hiện tính nghiêm
minh thông qua quy phạm của luật hình sự, các tội nặng nhẹ được phân định
rõ ràng, đặc biệt các tội được gọi là "tội ác" gồm có 10 loại:
"Thập ác"
Điều 7 trong thập ác quy định về
tội bất hiếu: “ Bất hiếu là các tội tố cáo hoặc dùng lời lẽ để chửi mắng, bỏ
đói, bỏ rét ông bà, cha mẹ, hoặc khi có tang ông bà cha mẹ lại không để tang mà
nhởn nhơ vui chơi”.
Người phạm tội bị phạt đồ
hình, đày đọa làm việc nặng
nhọc, bắt làm khao binh vụ cho lính ở chiến trường, và trước khi đưa đi đày, kẻ
bất hiếu bị đánh 80 trượng trước
xóm làng để răn đe thói hư bất hiếu.
Đến triều Nguyễn, tấm gương hiếu hạnh được nhắc nhiều là vua Tự
Đức, nói về chữ hiếu mà không nhắc đến vua Tự Đức là một thiếu sót, vua Tự-Đức Là vị vua
có Hiếu[4]
với mẹ bậc nhất trong 13 vị Hoàng đế Triều Nguyễn.
“Trải qua 36 năm làm Vua trên ngai vàng, Vua Tự-Đức
lúc nào cũng dành ngày chẵn vào cung để vấn an sức khỏe mẹ, đồng thời nghe lời
truyền bảo của mẹ, nếu có điều gì quan trọng đáng lưu tâm thì ghi ngay vào
quyển sổ tùy thân mà nghiền ngẫm. Đó là, quyển sổ từ huấn lục- quyển sổ chép
lời mẹ dạy. Còn ngày lẻ thì lo việc triều đình, chớ không vì làm Vua có vạn
năng quyền thế mà lơ là bổn phận làm con”. (Tìm Hiểu Các Danh Nhân - Nguyễn Phú Thứ)
“Có lần, ngày mai là đến kỳ giỗ kỵ tiên đế Thiệu-Trị, thế
mà hôm ấy Vua Tự-Đức ham đi săn bắn, gặp nước lụt chảy xiết mạnh bất ngờ, Vua
quan chưa dám dùng thuyền hồi cung, phải mắc kẹt chốn ngoại thành thuộc rừng Thuận-Trực.
Bà Từ-Dũ sai quan Nguyễn-Tri-Phương đi rước, khi vào cung, vua biết lỗi, dâng
roi, nằm xuống chờ quở phạt. Bà Từ-Dũ giận, quay mặt chẳng nói một lời, sau đó
mới tha cho hình phạt, chỉ trách dạy bằng lời mà thôi”. ( trích nt)
Trong Đại Nam Nhất Thống Chí, bộ sách lịch sử địa
lý của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, biên soạn thời Tự Đức, có thuật lại tấm gương hiếu của
Thiền Sư Nhất Đinh, khi mẹ
thầy bị bịnh nặng, Thiền Sư lặn lội lập
An Dưỡng Am để cõng mẹ về cùng nương nấu và cũng thuận đường tu tập.
Mẹ Ngài
ngày thêm bệnh nặng, được y sư khuyên rằng cần phải bồi bổ cho bệnh nhân bằng
thịt hoặc cá mới mong khỏi, hằng ngày Sư chống gậy băng rừng lội bộ xuống chợ
cách đó hơn 5 cây số để mua cá và buộc vào đầu gậy mang về am thổi cháo hầu mẹ,
lần hồi bệnh thuyên giảm... vì
xuống chợ mua cá mà bị đời đàm tiếu vì họ không hiểu. Lâu ngày,
chuyện đến tai Vua Tự-Đức, Vua sai người theo dõi, tìm hiểu hư thực. Vốn
cũng là vua hiếu nên khi biết hoàn cảnh của thiền sư, vua rất quý kính, cung
cấp lương thực cho Sư nuôi mẹ, và cho tu bổ An Dưỡng Am rồi ban biển ngự đề "Sắc
Tứ Từ Hiếu Tự". Kể từ đó, An-Dưỡng-Am trở thành chùa Từ Hiếu
lưu danh đến ngày nay.
Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, có hai việc làm cho phàm phu được công
đức lớn, được quả báo lớn, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, đó là phụng sự cha và
phụng sự mẹ. Phụng sự cha mẹ được công đức lớn, được quả báo lớn như cúng dường
cho vị Bồ Tát chỉ còn một đời nữa là thành Phật. Vì vậy, các thầy phải luôn
luôn ghi nhớ mà hiếu thuận phụng sự cha mẹ”.
Chữ hiếu nay, nhìn nhận đôi điều..
Khi những cơn nắng dâng oi bức của sa mạc triều
khô mùa hè đang dạt về những đợt thịnh nộ yếu ớt cuối cùng để làm nhịp cầu cho
những hạt mưa ngâu bắt đầu rơi, là lúc tiết trời đang ở giữa lưng chừng của đại thử và lập thu, cũng là lúc sắp
mãn cửu tuần an cư kiết hạ tịnh tu Tam nghiệp thúc liễm thân tâm của hàng Tứ
chúng đệ tử Phật, là bắt đầu mùa hiếu hạnh tưởng nhớ những đấng sinh thành “Thương
cha xuôi ngược giữa dòng, mẹ yêu tất tảo gánh gồng nuôi con”, cũng là mùa
bạt theo độ truyền thống nhân gian:
“Tiết đầu thu lập đàn
giải thoát,
Nước
tĩnh đàn sái hạt dương chi,
Muôn nhờ đức Phật từ bi,
Giải oan cứu khổ độ về Tây Phương”.
(Văn tế thập
loại chúng sanh- Nguyễn Du)
Chữ hiếu ở
mỗi thời khác nhau, do sự khác biệt ý thức hệ và hành trạng xã hội luôn đặt sự
nhận thức khác nhau về bổn phận trách nhiệm của người con phải hành xử như thế
nào cho trọn tình hiếu nghĩa với cha mẹ, trong quan hệ với tình anh em, đồng bào,tổ quốc.
Chính vậy,
trong buổi giao thời chữ hiếu rất hệ trọng, ngày nay kỹ nghệ thông tin bùng nổ
như thác lũ, chúng ta sẽ tiếp nhận rất nhiều nguồn thông tin: internet, truyền
hình, báo, di động…trong dòng thác đó, tốt có, xấu có..sự thông tin qua lại
trong gia đình từ đó ngày một giảm dần, con cái ít nhận thông tin từ cha mẹ, lơ
là hiếu đạo, tình cảm xa cách.
Người ta dự
báo rằng, hiện tại cũng như tương lai, thân tướng con người sẽ như que diêm,
nhưng bộ não sẽ phải phì đại như trái bóng vì nạp lượng thông tin quá lớn, mặt
trái của nó, thức ăn là lượng thông tin nhưng đầy dẫy những con virus, kết nối
cuộc sống trên cộng đồng mạng và tìm quên trong thế giới ảo, xa rời đời sống
thực tại, xa rời cội nguồn văn hóa tâm linh truyền thống, làm trật tự xã hội bị
đảo lộn, cha mẹ ít có điều kiện gần gũi, chữ hiếu bị lãng quên.
Cuộc sống hối
hả, tình người hời hợt, kẻ sống đua đòi, háo danh, lắm lúc quên đi tình cảm
thiêng liêng nhất là gia đình, quên rằng mình chỉ có duy nhất một người cha và
một người mẹ trên đời, đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo, không dễ gì tìm thấy
một chúng sanh chưa từng là cha, là mẹ, là anh, là chị, là con trai, là con gái
của các Thầy trong bước đường dài của sự tái sanh”. (Tương Ưng Bộ Kinh
II).
Gia đình, nơi
có cha, có mẹ,có anh, có em.. vốn là nơi kết nối ân tình, là mầm móng yêu
thương và phát triển nhân cách, là nơi chốn bình yên mỗi khi ta tìm về thì nay
ta đã vô tình quên lối, từ đó mới xảy ra nhiều những sự việc đau lòng cho xã
hội.
Chuyện bao
đời nước chảy xuôi chứ chẳng bao giờ chảy ngược, cha mẹ khổ nhọc sớm hôm tần
tảo nuôi con ăn học thành tài, làm ông này, bà nọ..là chuyện thường, nhưng khi
con thành tài chăm lại cha mẹ không phải là nhiều, thậm chí chuyện con làm phật
lòng cha mẹ, có kẻ nghịch tử còn đánh cha chửi mẹ, chuyện đó không phải ít trên
các báo hằng ngày.
Một người con
có hiếu, sẽ biết phải làm gì để cha mẹ vui lòng, ngược lại bổn phận người làm
cha mẹ cũng phải biết làm sao để con nên người. Khi con cái không cần biết cha
mẹ thích gì, cần gì..vì cái gọi là tổ ấm hạnh phúc riêng tư mà quên bẵng đi cha
mẹ mình, tới tháng dấm dúi vào tay cha mẹ vài đồng như một cái máy gọi là xong
trách nhiệm, đợi khi cha mẹ qua đời thì làm tang ma thật lớn, sự hiếu
thuận tưởng chừng đã muộn nhưng không là chuyện hiếm thời nay.
Nhớ câu
chuyện “Đôi mắt người mẹ” đọc được trên mạng:“Có một người lúc nào cũng căm
ghét mẹ mình, vì bà nghèo, xấu, lam lũ và chỉ có một con mắt. Người con này học
hành chăm chỉ nên được du học, thành đạt và có vợ con, thỉnh thoảng anh ta gởi tiền về
và mua căn nhà nhỏ cho bà, rồi tự nhủ đã làm tròn bổn phận, cắt đứt mọi liên lạc với bà.
Ngày kia có
một bà già lam lũ đến trước cửa nhà anh ta, làm mấy đứa con anh ta hoảng sợ,
anh ra quát “Hồi nhỏ, bà đã làm cho
con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã, bây giờ bà còn định phá hỏng cuộc sống của con hay sao”? bà nói xin
lỗi vì tôi nhầm địa chỉ và lặng lẽ đi.
Rồi bà qua đời
trong hiu quạnh không ai hay biết, bà để lại một lá thư cho người con trai.
"Con yêu
quý! Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi và ân hận về việc đã làm cho con
xấu hổ và các cháu sợ hãi. Con biết không hồi con còn nhỏ, con bị tai nạn và
hỏng mất một bên mắt, nên mẹ đã cho con con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những
gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc
đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm
được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới bằng con mắt của mẹ, thay
cho mẹ...
Mẹ yêu con lắm....”
Đọc xong
câu chuyện lại nhớ hai câu thơ trong bài thơ “Mắt buồn” của Bùi Giáng, “Bây
giờ riêng đối diện tôi, còn hai con mắt một con khóc người”, khóc đây xin
khóc cho đôi mắt người mẹ với hạnh vô úy thí của vị Bồ-tát, đã cho người con
nhìn thấy thế giới bằng đôi mắt của mình, nhưng người con kia lại vô minh như
“Gã Cùng Tử” trong kinh Pháp Hoa. “Thủ khoa đỗ đạt trạng nguyên,khôn mình mà
vẫn là người Ngu si”.
Nhưng cũng
không hiếm chuyện những người mẹ trẻ thời nay nhẫn tâm vứt máu mủ ruột rà của
mình vào những hầm rác,hố xí,bồn cầu…với những tội ác được biện mình bằng sự
lầm lỡ, ích kỷ mà ngay cả những con vật cũng chưa thấy có hành động tương tự.
Điển hình
như mới đây, một người mẹ 21 tuổi bỏ đứa con sơ sinh của mình xuống kênh trên
báo vnexpress ngày 11/7, rồi tạo hiện trường giả như một vụ bắt cóc con. Theo đó, người phụ nữ đã lẳng lặng đem con trai 11 ngày tuổi bỏ
xuống mương nước cách nhà khoảng 100 m. Sau đó, cô ta vào nhà tự lấy vải bịt
miệng, trói chân tay của mình lại và la lên cho người nhà biết. Đó là một tội
ác, là tội giết người, rất đáng lên án.
Thời mà thước
đo giá trị bị lệch về phía thực phẩm thay vì nhân phẩm, lương thực thay vì
lương tâm, là bởi xã hội không trang bị được cho người dân ý thức trách nhiệm
về việc gìn giữ và phát huy đạo đức tâm linh nguồn cội, phạm vi của chữ hiếu
thay vì phải được hiểu rộng theo chuẩn mở rộng thì bị thu hẹp lại trong phạm vi
gia đình, nên khi sự vẹn toàn của lãnh thổ đang hiểm nguy, đồng bào bị ‘tàu lạ’
tấn công cướp của nhưng ít được ai lưu tâm.
Ngưỡng cửa
vào đời đã mở nhưng chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại chưa được xây dựng,
người thanh niên thiếu một thanh gươm trí tuệ và tình thương yêu đồng loại, sự
nhường nhịn đủ lớn, nên khi ra đường một cú va quẹt xe rất nhỏ nhưng lại xảy ra
án mạng.
Rồi rột người
thanh niên chẳng may bị cướp giật rớt túi tiền, người đi đường lương thiện thấy
vậy, thay vì giúp đỡ ngươi gặp nạn, nhưng lại chọn cách biến mình thành kẻ cướp
mạt hạn, nhảy vào tranh dành những đồng tiền rơi rải vô tội của người bị nan,
không thua gì tên đạo tặc. Nhớ trận sóng thần ở Nhật, có tượng Phật bị sóng
đánh nằm đìu hiu trong đống đổ nát, một vị sư Nhật khi được hỏi sao thầy không
thỉnh Phật về thờ cho trang nghiêm. Sư đáp, cũng xót lắm nhưng đó không phải là
của mình, hay như bài học về sự nhường nhịn của cậu bé Ashima 9 tuổi.. bởi vì
người dân Nhật hiểu rất rõ về hiếu đạo của mình, hiểu rõ ‘Tứ ân’ trong Phật
giáo.
Đạo hiếu của người Việt từ xưa có nét đặc thù riêng được
đề cập trong Lục Độ Tập Kinh, hiếu đâu phải chỉ thương cha thương mẹ là đã làm
tròn hiếu đạo của một con người, mà còn phải "Giúp nghèo cứu thiếu, thương nuôi quần sinh, là
đứng đầu của hạnh ’’[5].(Lục độ tập kinh 2), từ đó hiểu rõ hơn đạo hiếu của Việt Nam: “Tôi ở đời lâu
năm, tuy thấy Nho sĩ tích đức làm lành, há có ai như đệ tử Phật quên mình cứu
người, âm thầm mà không nêu danh” (Lục độ tập
kinh 5).
“Người Việt [6] phải xác định mình có một nền văn hóa, một nền đạo đức cần
phải bảo vệ, nếu không nối dõi được thì dân tộc không thể tồn tại với tư cách
là một dân tộc được. Xuất phát từ quan điểm nối dõi như thế, người Việt không đi
đến một chủ nghĩa nối dõi cực đoan, như sự nối dõi về mặt sinh vật học của chủ
nghĩa ưu sinh (eugenics) hiện đại, gây tác hại và tốn bao sinh mạng đối với
những dân tộc khác, như hành động xâm lấn đất đai, biển đảo từ xưa cũng như gần
đây của Trung Quốc. Bảo vệ nền văn hóa của mình, bảo vệ lối sống (hạnh) của
mình, đó chính là đạo hiếu của Việt Nam’’.
Cuộc sống bộn
bề vốn kèm theo sự xung đột giữa chuẩn mực mới và cũ, ở đó bóng đêm luôn rình
rập, trong trạng huống này duy chỉ có ánh sáng là đủ quyền năng, muốn vậy phải
có đủ trí tuệ để tìm ra cách hành xử khôn ngoan, để giải thoát ta ra khỏi bóng
tôi mê mờ, vừa không bị cuốn theo ma lực hào nhoáng của tiền tài, danh
vọng..[ngũ dục], vừa giữ được đạo làm con, vừa giữ được hạnh phúc gia đình và
sự thịnh vượng xã hội..ánh sáng đó mà nhà Phật gọi là Trung đạo, hay khái niệm
Balance trong kinh tế.
Đạo Phật ra
đời hơn hai ngàn năm, những gì mà Phật dạy không ngoài mục đích giúp xác lập trật tự bình đẳng và sự bình an cho xã hội loài người
trên con đường đoạn tận khổ đau, trong đó đạo hiếu là căn bản.
Ngày nay thế
giới loài người phải chăng là một chuỗi suy vong các giá trị, những điều tốt
đẹp thuở ban đầu dường như về sau suy yếu dần, nhưng chắc chắn một điều rằng,
trong khu rừng rậm rạp u tối kia đâu chỉ có mỗi loài hoa độc, mà ở đó vẫn có
những đóa hoa như đẹp lan rừng nên Phật mới dạy chúng ta phương cách để vào đó
tìm kiếm.
Mùa Vu Lan,
PL 2555
Huệ Lưu
[1] Tiểu Bộ Kinh, Nikaya-Trần Phương Lan dịch
[2] Theo gương báo hiếu của người xuất gia- Thích Phước Sơn
[4] Tìm Hiểu Các Danh Nhân, trang 279 đến trang 281, tác giả Nguyễn Phú Thứ
[5] Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Quan niệm về chữ hiếu của dân tộc Việt Nam, Lê Mạnh Thát
Nguồn Blog Nguyễn Xuân Diện
|