|
LÀNG VÀ QUAN HỆ DÒNG HỌ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
NGÔ VĂN LỆ*
1) Người Việt là tộc người đa số trong
cộng đồng các dân tộc Việt Nam[1]. Trong
tiến trình lịch sử Việt Nam, người Việt đã cùng với các tộc người thiểu số sinh
sống trên lãnh thổ Việt Nam viết lên những trang lịch sử hào hùng trong các
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng hòa bình. Do có ưu
thế về số lượng dân cư, địa bàn sinh sống và trình độ phát triển kinh tế xã
hội, mà văn hóa của người Việt giữ vai trò chủ đạo trong dòng chảy văn hóa Việt
Nam, nhất là trong giai đoạn cận hiện đại. Hàng ngàn năm nay người Việt, một
mặt vừa chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, với những kẻ thù xâm lược, mặt
khác, đã sáng tạo cho mình những giá trị văn hóa, đồng thời lại tiếp thu có
chọn lọc những giá trị văn hóa ngoại nhập, làm phong phú thêm văn hóa Việt Nam.
Tất cả những giá trị văn hóa đó đã tạo nên bản sắc và sức mạnh để Việt Nam tiếp
bước trên con đường phát triển, để thực hiện mục đích cao quý: dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà Việt Nam
đang trên con đường hội nhập thì việc
nghiên cứu văn hóa người Việt không chỉ giúp cho người đọc thấy đựơc sự kế thứa
và sự sáng tạo trong chiều dài lịch sử, mà còn thấy đựơc những giá trị đích thực
tạo nên sức mạnh cho sự phát triển hôm nay. Bởi vì trong “công cuộc đổi mới
toàn diện, đầy mạnh công nghiệp hoá – hiện đại hóa đất nước, xây dựng xã hội
chủ nghĩa, thực hiện mục đích dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh đòi hỏi chúng ta phải xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… Coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
kinh tế – xã hội”[2].
Do tính chất và tầm quan trọng của vấn đề
nên làng và quan hệ dòng họ người Việt được đề cập trong nhiều công trình
nghiên cứu đã đựơc công bố[3]. Các công
trình đó đã trình bày về xã hội nông thôn truyền thống của người Việt thông qua
cơ cấu tổ chức, hoạt động kinh tế, thiết chế xã hội. Tuy nhiên, các công trình
đã được công bố tập trung chủ yếu vào
việc nghiên cứu làng và quan hệ dòng họ người Việt ở Bắc Bộ – cái nôi hình
thành những giá trị văn hóa Việt – còn ở Nam Bộ chưa được chú ý. Bài viết của
chúng tôi không đề cập đến một làng và quan hệ dòng họ cụ thể nào của người
Việt ở Nam Bộ, mà trên cơ sở những vấn đề đã được nghiên cứu về làng và quan hệ
dòng họ người Việt ở Bắc Bộ và sự trải nghiệm của bản thân tác giả trong những
năm sinh sống ở một làng quê Bắc Bộ và những năm công tác tại các tỉnh phía Nam
nêu lên những nguyên nhân về những khác biệt về làng và quan hệ dòng họ người
Việt Nam Bộ trong bối cảnh chung của Văn hóa Việt. Tuy nhiên, làng và quan hệ
dòng họ người Việt Nam Bộ là một đề tài phức tạp đầy khó khăn, trong một tiểu
luận nhỏ này khó lòng bao quát được. Hơn nữa, sự hình thành các làng Việt là một qúa trình,
lại bị chi phối bởi những nguyên
nhân khác nhau.Theo
một nghiên cứu thì qúa trình hình thành các làng ở Đồng Nai-Gia Định (bao gồm
không chỉ Đồng Nai mà cả vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay) có 4 phương
thức lập làng. Còn ở tỉnh Tiền Giang thì tồn tại 4 loại hình cư trú (thực chất
là 4 loại hình cộng cư, mà bản chất của vấn đề là các loại hình làng khác nhau)
[4]. Còn ở
miền Bắc sự hình thành làng cũng diễn ra rất phức tạp. Trong qúa trình lịch sử,
những tác động của các nhân tố cũng không giống nhau dẫn đến mỗi làng có một
sắc thái văn hóa riêng, mà nhà nghiên cứu Từ Chi gọi là những “ốc đảo”. Chúng
tôi hiểu rằng tính đa dạng của điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội sẽ tác
động rất lớn đến sự hình thành các làng, cũng như cơ cấu tổ chức và vận hành
của các làng Việt, mặc dù thuật ngữ “làng” trong tiếng Việt chỉ một cấp trong
tổ chức hành chính trước đây và hàm chứa địa bàn cư trú của một cộng đồng cư
dân. Với một tình hình thực tế như vậy, sự đa dạng của làng Việt như là một
điều hiển nhiên. Nhưng nếu xét về cơ cấu tổ chức và sự vận hành của làng, thì
về cơ bản các làng lại tương đối giống nhau. Mặt khác, chúng tôi cũng bị hạn
chế về thời gian, nên không có điều kiện để khảo sát các làng khác, ngoài địa
bàn nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Về tài liệu tham khảo, như trên chúng tôi đã
trình bày, do tính chất và tầm quan trọng của làng Việt nên đã có nhiều công
trình được xuất bản trong những năm qua, nhưng chúng tôi chỉ tiếp cận được một
lượng tài liệu khiêm tốn. Do đó những đánh giá, nhận xét về làng Việt Bắc Bộ và
làng Việt Nam Bộ khó có thể nói là toàn diện được. Vì vậy, chúng tôi chỉ giới
hạn ở một số vấn đề mà theo chúng tôi là những nét đặc trưng nhất để làm nên sự
khác biệt giữa làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ.
2) Làng Việt ở miền Bắc, miền Trung, miền
Nam quy mô có thể rất khác nhau, nhưng đều là nơi cư trú của những cộng đồng
dân cư Việt có quan hệ huyết tộc hoặc cùng quê có một không gian xác định so
với các làng khác. Do tiến trình lịch sử, do sự mở rộng vùng lãnh thổ của quốc
gia, do gia tăng dân cư nên sự hình thành các làng Việt diễn ra ở các giai đoạn
lịch sử, ở các vùng là rất khác nhau. Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ – cái nôi của văn
minh Việt – có những làng có nguồn gốc từ thời nguyên thủy. Bởi vì, sự phát
triển của xã hội Việt Nam mà chúng ta có thể quan sát thấy không tạo ra một đột
biến phá vỡ hoàn toàn cơ cấu tổ chức làng xã cũ để thành lập lại trên cơ sở xã
hội mới. Các làng xã loại này, do vậy vẫn mang nặng những tàn dư nguyên thủy
với bộ phận đất công chiếm đa số, do chưa có tư hữu. Tình hình này còn biểu
hiện rất rõ ở các tộc người thiểu số ở Trường Sơn – Tây Nguyên trong những thập
niên gần đây[5]. Đến thời
kỳ xã hội có giai cấp, quá trình hình thành làng theo những con đường khác
nhau. “Thường có khi các làng chỉ có một số ruộng hạn chế, nên khi không còn có
đủ để nuôi sống cả số dân đã quá đông, nhiều người buộc phải đi tìm đất mới ở
những nơi khác. Họ nhân danh chính mình hay nhân danh những kẻ muốn đi theo họ,
xin được quyền chiếm dụng các đất đai bỏ hoang, để lập ở đây một làng mới, bằng
cách cam đoan đóng thuế điền sau thời kỳ khẩn hoang nhất định.
Nhà nước có thói quen ủng hộ những vụ
khẩn hoang đó để mở rộng phạm vi quốc gia”[6].
Ở một địa điểm mới, dân cư ngày một tăng, đây có lẽ là cơ sở để hình thành
những làng có liên quan đến một dòng họ hoặc có thể nhiều dòng họ. Theo thống
kê thì ở miền Bắc có tới 192 họ đã được đặt tên cho làng. Trong hầu hết các
trường hợp lấy tên họ đặt tên làng, thì mỗi tên một dòng họ thường chỉ dùng đặt
tên cho một làng. Riêng họ Nguyễn được dùng để đặt đặt tên cho gần 50 làng[7]. Cũng có
những trường hợp tên làng do hai họ kết hợp lại để hình thành. Trong trường hợp
này thường có sự liên kết ngay từ đầu. Thí dụ làng Đoàn – Đào (Hưng Yên) là sự
kết hợp của hai dòng họ. Những trường hợp làng do sự liên kết của hai dòng họ
nói chung không nhiều, nó phản ánh một tâm lý “đèn nhà ai nấy rạng" vốn đã
từng tồn tại lâu đời trong lòng người Việt.
Một loại làng có nguồn gốc khác. Đó là
những làng do nhà nước chủ trì việc phá hoang lập ấp. Những làng thuộc loại này
chủ yếu được hình thành ở các vùng ven biển thuộc Thái Bình và Ninh Bình, đặc
biệt diễn ra mạnh mẽ ở vùng Nam Bộ trong quá trình Nam tiến có sự hỗ trợ của
chính quyền. Khi nói về cai trị của Nh nước trong việc lập lng tại Nam Bộ Địa
chí Đồng Nai viết: “Nhà nước chiêu mộ những thành phần lưu tán – trong đó có tù
đào binh, tứ cố vô thân-hay phân bổ nhân dân và nhiều loại binh lính đến khai
đất đai lập ra làng.Những ruộng đất ngày càng mở rộng và cũng dần dần đi theo
khuôn mẫu chung với các hình thức sở hữu được Nhà nước chủ động cung cấp các
phương tiện canh tác như tru cày, lúa giống …chính phương thức này có xu hướng
phát sinh những loại tài sản tập thể trong các làng xã. Nhà nước tổ chức các
làng đồng điền rồi huy động nhân dân, nhất là binh lính đến làm việc theo một
kỷ luật rất chặt chẽ để duy trì thường trực đội quân nông dân-ngụ binh ư
nông-vừa sản xuất,vừa chiến đấu hay luân phiên làm việc đến việc lia khi hữu
sự.Trên nguyên tắc,các đồn điền trực
tiếp tạo ra các diện tích công điền, công thổ.” [8].
Tại Thái Bình và Ninh Bình, Nguyễn Công Trứ với tư cách là quan dinh điền sứ đã
có công rất lớn trong việc hình thành các làng mới tại hai huyện Tiền Hải (Thái
Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình)[9]. Quá trình
hình thành các làng mới này cũng diễn ra ở thời hiện đại ở các huyện này.
Trường hợp lập xã mới: xã Nam Cường (Tiền Hải) trong những năm 60 thế kỷ XX là
một thí dụ.
Người Việt trong quá trình Nam tiến mở
rộng biên cương, xác lập chủ quyền, cũng là lúc hình thành những điểm tụ cư và
trở thành làng. Làng Việt Nam Bộ cũng mang những nét chung của làng Việt Bắc
Bộ. Đó là nơi cư ngụ của những cộng đồng dân cư Việt có quan hệ với nhau dựa
trên một địa vực cư trú nhất định, và thêm vào đó là những mối quan hệ huyết
tộc hoặc cùng quê. Quá trình hình thành làng Việt Nam Bộ khác với quá trình
hình thành làng Việt Bắc Bộ. Khi người Việt bằng nhiều cách và vì nhiều lý do
khác nhau đã có mặt ở vùng đất Nam Bộ trước thế kỷ XVII, nhưng vào thời điểm đó
chưa có những điều kiện cần và đủ để hình thành làng. Và chỉ có ở giai đoạn sau
đó, nhất là sau khi Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn cử vào thiết lập bộ máy
hành chính ở Đồng Nai – Gia Định (1698), việc hình thành làng Việt mới có những
điều kiện thuận lợi. Như vậy, sự hình thành làng Việt Nam Bộ, trong bối cảnh xã
hội Việt Nam đã tiến một bước dài trên con đường phong kiến hóa nên đã có những
khác biệt so với Bắc Bộ. Các làng Việt Nam Bộ được hình thành muộn hơn nhiều so
với làng Việt Bắc Bộ nên không có làng nào có nguồn gốc từ thời nguyên thủy như
các làng Việt Bắc Bộ. Làng Việt Nam Bộ được hình thành trong quá trình khai
phá, có làng vốn là các đồn điền của chúa Nguyễn, nhà Nguyễn[10]. Các làng
Việt Nam Bộ không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Mặc dù việc thành
lập làng vai trò của cá nhân là rất quan trọng. Chính quyền khuyến khích những
người có vật lực tuyển mộ khai hoang, “dưới tất cả mọi triều đại đều có một
chính sách khẩn hoang và định cư. Những người lập làng mới được khích lệ bằng
đủ loại biện pháp[11]. Rất
nhiều người có công lập làng[12], nhưng
không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Điều này cũng dễ hiểu, những
người có vật lực chiêu mộ những người lao động ở các địa phương, là những người
thuộc các dòng họ khác nhau. Trong môi trường mới, họ lao động để sinh sống mà
thành quả của họ là những cánh đồng lúa bạt ngàn, là cơ sở để hình thành các
làng mới. Nhưng đây là những làng đã hội đủ các yếu tố theo quy định của Nhà
nước phong kiến. Người có công lập làng đã được nhà nước ban thưởng và có lẽ vì
vậy không thể lấy tên họ tên làng. Trong những ngày đầu khai thác một hay mấy
gia đình cùng chung lưng đấu cật để đấu tranh với thiên nhiên, giành lấy sự
sống. Trải qua nhiều đời con cháu của những gia đình này sinh sôi nảy nở nhiều,
số ruộng đất được khai thác nhiều thêm, thôn xã dần dần hình thành”[13]. Tình
hình này là rất khác với quá trình hình thành các làng Việt Bắc Bộ. Dân cư của
một làng phát triển từ sự tăng lên các thành viên của một dòng họ. Để ghi nhận
sự phát triển của các làng đó, người ta lấy tên họ đặt cho tên làng. Trải qua
những biến cố lịch sử tên làng không thay đổi tồn tại cho đến ngày nay.
Các làng khi đã hình thành để cho việc
quản lý được thuận lợi, cần thiết phải đặt tên cho các làng. Cách thức này
khiến chúng ta liên tưởng đến việc nhà Nguyễn buộc người Khmer ở đồng bằng sông
Cửu Long phải mang một trong 5 họ: Thạch, Sơn, Kim, Danh, Lâm[14] mà bản
thân người Khmer cũng chưa hiểu hết bản chất của dòng họ là gì. Các làng Việt
Bắc Bộ khi mới hình thành (các làng có nguồn gốc từ thời nguyên thủy) có lẽ có
các tên gọi phản ánh những đặc điểm tự nhiên nơi cộng đồng đó cư trú. Những tên
làng đó hiện nay vẫn còn tồn tại song song với những tên làng mới. Ở Thái Bình
còn nhiều làng như thế: như làng Mét, làng Cọi, làng Đác, làng Lụ. Có lẽ sang
thời kỳ độc lập khi hình thành bộ máy quản lý từ trung ương đến các địa phương,
và nhất là khi chữ Hán đã có vai trò trong đời sống thì những làng mang tên chữ
có yếu tố Hán – Việt ra đời. Mỗi làng mang tên chữ là những từ hoàn toàn có
tính chất văn học biểu tượng của điềm lành. Ở vùng quê nào thuộc các tỉnh đồng
bằng Bắc Bộ đều có tình hình như vậy[15].
Các tên gọi của các làng theo chữ Hán – Việt được dùng trong hành chính, còn
trong dân gian các cư dân của các làng xung quanh vẫn gọi tên làng theo cách
gọi cũ.
Làng Việt Nam Bộ ngay từ khi hình thành
đã có vai trò của Nhà nước, lại được hình thành muộn hơn các làng Việt Bắc Bộ[16]. Tên gọi
các làng Việt Nam Bộ thường là từ Hán – Việt mang ý nghĩa tốt đẹp như An Bình,
An Hòa, Bình Lợi, Phú Hòa. Cũng do quá trình hình thành làng diễn ra nhanh, dân
cư bao gồm những người đến từ các vùng khác nhau nên làng Việt Nam Bộ cũng
không có làng nào lấy tên họ đặt cho tên làng. Quá trình hình thành làng và sự
can thiệp của Nhà nước đã làm cho những nét văn hóa truyền thống của làng Việt
Bắc Bộ không được thể hiện ở làng Việt Nam Bộ (như không có hương ước,
khơng cĩ lng tn Nơm, tổ chức phi quan phương hầu như không có hoặc nếu có thì
rất ít, không nhiều như các làng Việt Bắc Bộ).
Do điều kiện địa lý tự nhiên, do vị trí
tọa lạc của làng Vĩệt, do qui mô của các làng rất khác nhau nên hình thái cư
trú cũng hết sức khác nhau. Trần Từ nêu lên bốn hình thái cư trú của người Việt
ở đồng bằng Bắc Bộ[17]. Trong
cuốn Văn minh Việt Nam, Nguyễn Văn
Huyên phân biệt các làng theo hình thể[18],
cư trú của cư dân, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện địa lý tự nhiên tại các
vùng định cư. Toan Anh nêu tên các loại làng như làng theo chiều dài, làng nằm
rải rác, làng tựa ven đồi[19], và nhận
diện những nét chung nhất của làng Việt Bắc Bộ. Trong công trình Tìm hiểu làng Việt, Diệp Đình Hoa nêu
lên ba hình thái bố trí làng. Đó là bố trí theo lối co cụm, từng khối, hoặc dọc
theo ven sông hay ở men theo hai bờ sông và kết luận: “Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
và Bắc Trung Bộ loại tổ chức theo lối co cụm tồn tại theo lối phổ biến. Và cách
tổ chức này có liên quan đến hệ thống phòng ngự của làng, đến trình độ thâm
canh tăng năng suất, đến việc điều khiển môi trường trong trạng thái cân bằng
của thế độc canh cây lúa. Con người cố tạo ra cho mình một tâm lý yên ổn, trong
khu vực vườn nhà, sau lũy tre làng”[20].
Chính cách tổ chức làng như vậy đã tạo nên những ốc đảo, khu vực không gian cư
trú của mỗi làng, cùng với việc trở thành làng, hoạt động kinh tế đã hình thành
nên sự khác biệt văn hóa làng tại đồng bằng Bắc Bộ. Còn quá trình chiếm lĩnh
đồng bằng Nam Bộ lại diễn ra theo một quá trình lấn biển liên tục, vẫn còn tiếp
tục cho đến ngày nay. Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông ngòi chằng chịt,
quá trình khai phá vùng đất này lại có sự tham gia rất tích cực của người
Khmer, người Hoa, người Chăm. Tất cả những yếu tố đó có ảnh hưởng rất lớn đến
hình thái cư trú của người Việt. Các nghiên cứu đã được công bố cũng như qua
các đợt điền dã tại các địa phương có thể nêu lên những hình thái cư trú như
sau: hình thái cư trú ven sông rạch, hình thái cư trú dọc kinh đào, hình thái
cư trú theo giồng cát, hình thái cư trú tập trung[21].
Nhưng chủ yếu là cư trú trên diện rộng, điều này hoàn toàn khác với hình thức
cư trú co cụm của các làng miền Bắc. Cư trú trên diện rộng và hầu như không tồn
tại chế độ công điền, công thổ đã làm nảy sinh tính năng động xã hội của người
tiểu nông. Người nông dân Việt Nam Bộ – người tiểu nông – tuy vẫn là thành viên
của một làng và chịu sự chi phối của làng (mặc dù không chặc chẽ như làng Việt
Bắc Bộ) nhưng cá nhân họ dựa trên quyền tư hữu ruộng đất (do chính họ khai phá
hay mua bán sang nhượng) và được luật pháp thừa nhận. Hình thái cư trú trên
diện rộng đã tác động đến lối sống của người nông dân Việt Nam Bộ. Đây có thể
được xem là nét khác biệt rất lớn giữa làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ
trong bối cảnh chung của văn hóa Việt.
Khi nghiên cứu về làng xã Việt dù ở Bắc
Bộ hay Nam Bộ các học giả đều rất quan tâm đến tình hình ruộng đất, và chế độ
sở hữu ruộng đất[22]. Ở nông
thôn Bắc Bộ do nguồn gốc hình thành và những nét văn hóa riêng của từng làng đã
làm cho tình hình sở hữu đất đai là khá đa dạng. Nhưng tựu trung lại có hai
loại: sở hữu tư nhân và sở hữu tập thể. Trong xu hướng phát triển chung của
làng xã Việt Nam sở hữu tư nhân ngày một chiếm ưu thế. Nhưng thực tế ở đồng
bằng Bắc Bộ cho đến những năm 50 của thế kỷ XX thì “làng nào cũng còn lại một
số ruộng đất công, nhiều ít tùy địa phương, tùy trường hợp cụ thể, nhưng không
làng nào không có[23]. Các làng
chia ruộng công cho dân đinh (tức những công dân nam có đăng ký vào danh bạ Nhà
nước từ 18 đến 60 tuổi). Về định kỳ phân chia lại ruộng đất công cũng không
giống nhau giữa các làng. Có làng cứ ba năm một lần, có làng bốn năm một lần,
có làng năm năm một lần, có làng sáu năm một lần, có làng thậm chí mười năm một
lần, nhưng cũng có làng mỗi năm một lần[24].
Như vậy, định kỳ phân chia lại ruộng công không theo một quy định chung nào, nó
tùy thuộc vào tình hình thực tế và những quy định của mỗi làng. Ruộng công đại
bộ phận dành chia cho dân đinh, còn một phần được sử dụng để biếu cho những
người đỗ đạt, dành cho hoạt động tôn giáo… Người nông dân được chia ruộng công
đều phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như đóng thuế, lao dịch cho Nhà nước
cũng như những đóng góp khác theo quy định của làng. Bị cột chặt vào phần đất
quân cấp và vào công xã của họ, không có khả năng đi lao động làm ăn ở những
chỗ có cơ hội hơn và thuận lợi hơn cho bản thân mình, người nông dân phải nằm
chết cứng trong làng xã, không dám vượt qua lũy tre làng. Ruộng đất công của
làng xã có một cuộc sống dai dẳng hơn nhờ một cơ chế quản lý các làng không
trực tiếp tới từng người dân, mà tất cả mọi lĩnh vực có liên quan đến người dân
đều thông qua bộ máy quản lý làng. Ruộng đất công, trong chừng mực nhất định là
cơ sở để hình thành làn, cho sự hình thành các xã thôn – ít ra là đúng với các
làng miền Bắc Việt Nam. Và có lẽ cũng chính vì thế có cơ sở xã hội cho việc tồn
tại ruộng công ở các làng Việt Bắc Bộ. Quá trình hình thành các làng
Việt Nam Bộ diễn ra hoàn toàn khác so với việc hình thành các làng Việt Bắc Bộ.
Quá trình khẩn hoang lập làng diễn ra trực tiếp bởi những người nông dân Việt
vì nhiều lý do đã có mặt trước khi được tổ chức thành những đơn vị hành chính
(trước năm 1698). Do vậy, ruộng đất khẩn hoang của người nào được phép trở
thành sở hữu riêng của người đó. Tình hình này diễn ra trong một khoảng thời gian
dài từ thế kỷ XVII, XVIII và ở nửa đầu thế kỷ XIX. Như vậy, sự hình thành các
xã thôn hầu như tách rời và không phụ thuộc vào chế độ ruộng đất công. Sự hình
thành các làng Việt Nam Bộ gắn liền với sự phát triển của ruộng đất tư hữu.
Theo một kết quả nghiên cứu dựa trên các số liệu đo đạc lập địa ba năm 1836 thì
ruộng đất công chiếm một tỉ lệ rất thấp so với đất sở hữu cá nhân[25]. Do điều
kiện lịch sử và tự nhiên ở đồng bằng Nam Bộ cho đến đầu thế kỷ XIX ruộng đất
công đã không tự xuất hiện. Sau năm 1836 nhà Nguyễn dùng nhiều biện pháp nhằm
gia tăng diện tích ruộng công. Nhưng nhìn chung công điền cũng chỉ chiếm một tỷ
lệ khiêm tốn[26]. Làng
Việt Nam Bộ ra đời không bị chi phối hoặc bị chi phối nhưng rất yếu ớt của chế
độ ruộng công nên người nông dân không bị quá lệ thuộc vào làng, họ có thể di
chuyển khá tự do có lẽ cũng vì thế mà quan niệm chính cư, ngụ cư không chi phối
các thành viên của một làng. Nguồn gốc hình thành các làng Việt Nam Bộ cũng như
không bị chi phối bởi chế độ ruộng công đã làm cho làng Việt có xu hướng mở,
người nông dân năng động hơn. Người tiểu nông tuy vẫn mang nặng tình làng nghĩa
xóm, nhưng tính cách và vai trò của họ không bị hòa tan trong cộng đồng, tính
năng động làm cho họ tùy ý lựa chọn phương thức hoạt động kinh tế của mình. Và
có lẽ cũng chính vì thế họ ít bị chi phối bởi các mối quan hệ khác như người
nông dân Việt Bắc Bộ, ngay cả khi người Pháp chiếm xong Nam Bộ, họ cũng không
làm gì hơn để thay đổi tình hình. Trái lại, họ càng đẩy nhanh quá trình tư hữu
hóa ruộng đất với sự tham gia tích cực của các địa chủ người Pháp, làm
cho bộ phận nông dân không có ruộng đất tăng lên.
Cơ cấu tổ chức và sự vận hành của làng
Việt cũng là nét khá độc đáo lôi cuốn sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Một loạt
các bài viết đề cập đến những nội dung này đã được tập hợp đăng trong cuốn Nông thôn Việt Nam trong lịch sử (tập
II)[27]. Toan
Anh, Nguyễn Văn Huyên trong các công trình của mình cũng dành khá nhiều trang
nói về tổ chức làng xã cổ truyền Việt Nam và trong chừng mực nhất định đã nêu
lên những khác biệt giữa làng Việt Bắc Bộ và làng Việt Nam Bộ[28]. Trần Từ
vào năm 1984 đã công bố công trình nghiên cứu về “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ"[29]. Đây được
coi là công trình hoàn chỉnh (ít ra cho đến thời điểm này) nghiên cứu một cách
toàn diện cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền của người Việt ở Bắc Bộ. Các công
trình nghiên cứu về cơ cấu làng Việt Bắc Bộ đều khẳng định có sự hiện diện của
các tổ chức phi quan phương bên cạnh các tổ chức quan phương[30]. Các tổ
chức quan phương (hay bộ máy quản lý làng) do Nhà nước trung ương tập quyền áp
đặt lên các làng, theo những quy định chung. Và bộ máy tổ chức này về cơ bản có
sự thống nhất của toàn bộ vùng đồng bắng Bắc Bộ xét trên phương diện tổ chức
cũng như chức năng nhiệm vụ. Thông qua các tổ chức quan phương Nhà nước thể
hiện quyền lực đến các công dân của mình trong việc thực hiện các nghĩa vụ đối
với Nhà nước. Tổ chức phi quan phương không nằm trong hệ thống của bộ máy hành
chính, nó ẩn tàng trong các làng Việt và vận hành theo những nét rất riêng của
từng loại tổ chức. Hoạt động của các tổ chức phi quan phương tạo nên sự kết
dính giữa các thành viên trong tổ chức của mình. Đây là một nét rất khác trong
cơ cấu tổ chức làng Việt Bắc Bộ so với làng Việt Nam Bộ. Các làng Việt Nam Bộ
là các làng khai phá ngay từ khi hình thành đã thể hiện vai trò của mình. Mặt
khác các thành viên của các làng Việt Nam Bộ được tập hợp từ các vùng khác
nhau, nên mối quan hệ thân tộc không có cơ sở để thể hiện vai trò của mình, các
nghiên cứu trước đây cũng như các công trình gần đây không thấy có làng nào có
giáp[31]. Và vì
những lý do đó các tổ chức phi quan phương không có điều kiện phát triển ở làng
Việt Nam Bộ. Các tổ chức phi quan phương ở làng Việt Bắc Bộ trong bối cảnh hiện
nay vẫn thể hiện rõ vai trò của mình trong đời sống thường nhật của người nông
dân. Trong khi đó các tổ chức phi quan phương tại các làng Việt Nam Bộ vẫn vắng
bóng, nếu có cũng thể hiện rất yếu ớt vai trò của mình.
Trong bối cảnh chung của làng Việt Bắc Bộ
với sự tồn tại song hành của các tổ chức quan phương và phi quan phương giữ vai
trò quan trọng để điều hòa chung làm cho các làng Việt Bắc Bộ dù phức tạp, vẫn
là một tế bào xã hội vận hành như một đơn vị thống nhất là hương ước. Hầu hết
các làng Việt Bắc Bộ đều có hương ước. Làng nào có hương ước ấy, tùy truyền
thống của từng làng mà hương ước đề cập đến những vấn đề cụ thể. Tuy nhiên, nội
dung của hương ước của các làng lại có nội dung tương đối giống nhau. Vì hương
ước không phải là bộ luật chung cho các làng, nên hình thức thể hiện những vấn
đề cần đề cập tới của từng làng cũng khác nhau. Những nội dung mà hương ước các
làng thường đề cập đến bao gồm:
1)
Những
trường hợp thưởng công (ví như thưởng cho người bắt được trộm cướp)
2)
Những
trường hợp phạt tội, thường là các tội nhẹ mà pháp lý của Nhà nước quân chủ
chính thức không giải quyết (trộm cắp vặt, ẩu đả thông thường, bất kính đối với
bề trên)
3)
Những
trường hợp đền bù cho người vì quyền lợi chung của cả làng chịu hy sinh (ví như
bị thương, hay bỏ mình trong khi chống lại quân cướp)
4)
Những
trường hợp suy tôn người đã bỏ của, bỏ sức để làm việc ích chung cho cả làng
(ví như tu bổ chùa làng, xây cầu, đắp cống)
5)
Những
trường hợp cấm đoán hoặc nhằm bảo vệ đạo lý (ví như cấm cờ bạc, trai gái)[32].
Và “dù không phải là bộ luật hoàn chỉnh,
hương ước với những điều quy định về một số nét sinh hoạt riêng biệt của làng
xã, vẫn đóng vai trò một cương lĩnh. Có thể còn khá chung chung, nhưng dù sao
vẫn đáng được xem là một cương lĩnh về nếp sống hàng ngày của làng xã, mà mọi
cá nhân, mọi tổ chức, trong làng, trong xã phải tuân thủ”[33].
Các hương ước của từng làng tác động trực tiếp đến các thành viên của làng. Các
thành viên trong làng dù thuộc tổ chức phi quan phương nào cũng đều có trách
nhiệm thực hiện hương ước. Mỗi thành viên trong làng với trách nhiệm của mình
đối với làng, đối với một tổ chức nào đó mà họ là một thành viên, vì danh dự
của làng, của gia đình và của chính cá nhân mà tuân thủ tự giác, thực hiện
những điều đã được ghi trong hương ước.
Các làng Việt Nam Bộ không có hương ước.
Không có các tổ chức phi quan phương, không có hương ước, các làng Việt Nam Bộ
ngay từ khi hình thành đã sớm chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước. Nhưng xét
trên phương diện quản lý thì sự ràng buộc các thành viên ở các làng Việt Bắc Bộ
chặt chẽ hơn so với các làng Việt Nam Bộ. Tại các làng Việt Bắc Bộ đất đai có
hạn, các quan hệ dòng họ ràng buộc, những quy định của hương ước đã làm cho
người nông dân Việt không năng động, khó có thể vượt qua sự thụ động. Trái lại,
thiên nhiên Nam Bộ khá ưu đãi và hào phóng với con người, lại không có tâm lý
phân biệt người chính cư và người ngụ cư, nên một khi, ở nơi ở cũ họ cảm thấy
không còn sống được nữa thì họ sẵn sàng rời để đến những nơi khác lập nghiệp.
Cũng cần phải nhấn mạnh thêm do làng Việt
Nam Bộ không được thiết lập trên nền tảng ruộng công nên vai trò của làng có
phần nào bị hạ thấp so với làng Việt Bắc Bộ. Bởi vì ở đây, làng không phải làm
chức năng kiểm soát, phân chia việc khai thác đất đai và đương nhiên cũng không
có chức năng điều hòa sử dụng các nguồn nước. Những công việc đó không theo thể
chế của làng và thường do những tư nhân trực tiếp canh tác giải quyết. Và có lẽ
do cơ chế vận hành của làng Việt Nam Bộ như vậy, nên ở Nam Bộ các làng không có
hương ưđc như những làng Việt Bắc Bộ. Trong chế độ sở hữu ruộng đất Nam Bộ có
một hiện tượng khá phổ biến, nó khác biệt hoàn toàn so với tình hình ở Bắc Bộ.
Đó là hiện tượng ruộng phụ canh[34]. Ruộng
phụ canh không chỉ ở làng bên, mà còn ở nhiều làng, nhiều tổng, thậm chí ở tỉnh
khác. Cơ chế sở hữu đất canh tác như vậy đã dẫn đến sự giao lưu giữa các vùng,
không có những cơ sở kinh tế để tạo thành những “ốc đảo” như những làng Việt
Bắc Bộ, làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn Nam Bộ không khép kín cũng không đòi
hỏi sự thỏa mãn bằng một quy mô dân số nhất định của làng. Cũng cần lưu ý đến
sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa cộng đồng người Việt với các cộng đồng người
khác ở Nam Bộ. Khi người Việt di dân đến vùng đất mới thì trước đó đã có các
tộc người khác đặc biệt là người Khmer sinh sống. Các tộc người này đã góp phần
cùng người Việt khai hoang, cải tạo để có được đồng ruộng phì nhiêu, bốn mùa
cây trái. Trong quá trình cộng cư, trong quá trình khai hoang và đặc biệt trong
giai đoạn lịch sử sau này, trong quá trình chống ngoại xâm để bảo vệ sự sống
còn của quốc gia dân tộc, của từng tộc người, đã diễn ra quá trình giao lưu văn
hóa giữa các tộc người đã hình thành nên những giá trị văn hóa chung cho cả Nam
Bộ – văn minh miệt vườn[35]. Ở Nam Bộ
đã sớm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất nông sản hàng hóa. Ở làng
Việt Nam Bộ do không tồn tại chế độ sở hữu công cộng, nên ngay từ đầu đã xác
lập sở hữu tư nhân, tạo nên tính năng động của người tiểu nông. Người nông dân
Nam Bộ do những ưu đãi của thiên nhiên, không có phong cách “tích cốc phòng cơ”
mà luôn gắn bó với thị trường. Để gia nhập thị trường không thể duy trì nền sản
xuất nhỏ theo hướng tự cung tự cấp, mà phải hướng tới việc huy động mọi nguồn
lực, vốn liếng để sản xuất cho rẻ, cho nhanh đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Không phải ngẫu nhiên mà ngay trước những năm 30 của thế kỷ XIX đã thấy có sự
tích tụ đất đai rất lớn ở Nam Bộ[36]. Cùng với
việc sản xuất hàng hóa là việc hình thành các đô thị, nhưng đô thị ở vùng này
không mang đậm nét tàn dư của công xã nông thôn. Đô thị ở đồng bằng sông Cửu
Long hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu của một nông thôn sản xuất hàng hóa, mở
rộng giao lưu buôn bán với tất cả các vùng. Trở thành đầu mối giao dịch với các
nơi. Người nông dân Nam Bộ không kỳ thị đối với buôn bán. Tâm lý đó của người
nông dân Nam Bộ được thể hiện rõ qua câu ca dao quen thuộc đã đi vào lòng người
bao thế hệ :
Đạo nào vui bằng đạo đi
buôn,
Xuống biển lên nguồn gạo
chợ nước sông.
Sự phát triển kinh tế hàng hóa ở Nam Bộ
kích thích giao lưu quốc tế làm cho hoạt động của làng Việt Nam Bộ năng động
hơn so với làng Việt Bắc Bộ.
Làng Việt Nam Bộ sẽ tồn tại và sẽ biến
đổi cùng với quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn. Một thực thể tất
yếu có vai trò và vị trí trong sự phát triển chung. Tuy làng (thôn, ấp… ) không
phải là cấp trong hệ thống tổ chức Nhà nước, nhưng lại là nơi sinh sống của
cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ trực tiếp và rộng rãi nhằm giải
quyết các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư. Đồng thời làng còn là nơi
bảo đảm đoàn kết giữ gìn trật tự, an toàn xã hội và vệ sinh môi trường, cùng
nhau xây dựng cuộc sống mới, giúp nhau trong sản xuất và đời sống. Và cũng
chính địa bàn làng là nơi giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp và thuần phong
mỹ tục của cộng đồng nhằm xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
3) Quan hệ dòng họ – quan hệ huyết thống
– xuất hiện rất sớm và ở hầu hết các tộc
người trên thế giới. Ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại con người không thể
sống cô độc, mà phải dựa vào nhau. Do đó mối quan hệ huyết thống xuất hiện
trước khi xuất hiện các mối quan hệ khác. Quan hệ đó là quan hệ giữa người và
người dựa trên huyết thống là sản phẩm thừa hưởng từ tự nhiên. Nhưng do các yếu
tố khách quan và chủ quan tác động vào tiến trình lịch sử của các tộc người hết
sức khác nhau, nên ngày nay quan hệ dòng họ ở các tộc người cũng khác nhau. Ở
một số tộc người quan hệ thân tộc được tính theo dòng mẹ (theo mẫu hệ) ở đây
vai trò của người phụ nữ trong xã hội, cũng như trong gia đình được đề cao.
Người phụ nữ là người chủ động trong hôn nhân, trong việc điều hành gia đình,
nuôi con, thừa kế tài sản. Ngay cả khi người chồng qua đời cũng không được chôn
cất ở phía bên vợ mà phải đưa về chôn cất tại nghĩa địa của dòng họ mẹ. Ở Việt
Nam, chế độ mẫu hệ tồn lại khá đậm nét ở các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo. Ở
một số tộc người, quan hệ dòng họ không thể hiện một cách rõ ràng là theo dòng
cha (phụ hệ) hay dòng mẹ (mẫu hệ). Trong dân tộc học, những tộc người này được
gọi là những tộc người song hệ ở giai đoạn chuyển tiếp từ mẫu hệ lên phụ hệ.
Ở người Việt, chế độ phụ hệ đã được xác
lập từ lâu. Quá trình chuyển hóa từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ ở các tộc
người cũng hết sức khác nhau. Đến thời đại đồ đồng, thậm chí đến thời đại đồ
sắt, tức là thời kỳ đầu của sự hình thành Nhà nước Văn Lang và Âu Lạc, chế độ
mẫu hệ vẫn còn chưa mất hết sức sống. Cho đến hơn một ngàn năm Bắc Thuộc, văn
minh Trung Hoa có điều kiện du nhập vào xã hội Việt Nam. Nho giáo xác định được
chỗ đứng trong nhân dân Việt. Tuy nhiên, nếu quan sát những quan hệ trong xã
hội và gia đình, nhất là trong các hội làng, ta vẫn thấy vai trò khá rõ nét của
phụ nữ và những yếu tố của chế độ mẫu hệ. Tuy đề cao nguyên tắc “nam nữ thụ thụ
bất thân”, nhưng lại có “có nam, có nữ mới nên xuân”. Ở người Việt trước đây
vẫn có tục ở rể. Trong đời sống hàng ngày, người phụ nữ cũng ít bị hạn chế
trong sinh hoạt kinh tế xã hội, thậm chí trong sinh hoạt chính trị. Ho không
được ra đình để họp, nhưng những lễ vật tế thần lại do một tay người phụ nữ đảm
nhận. Trong cuộc sống xã hội, người phụ nữ đảm nhiệm việc cấy, gặt, sàng sẩy,
tham gia nhiều nghề thủ công, buôn bán ở các chợ làng, đảm nhiệm việc hậu
phương, thậm chí "giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”. Số lượng các nữ thần
khá đông. Còn trong cuộc sống gia đình, phụ nữ là người quán xuyến mọi công
việc, từ nuôi con, lo cái ăn, cái mặc. Những hình ảnh tảo tần người phụ nữ Việt
đã được Tú Xương khắc họa rất sinh động :
“Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông…”
Có lẽ không thể phủ nhận được vai trò và
vị trí của người phụ nữ trong gia đình, nên mới có câu “lệnh ông không bằng
cồng bà”. Một số đất nước mà Nho giáo đã thấm vào từng khía cạnh của đời
sống, nhưng trong những điều luật cụ thể cũng nêu lên quyền như nhau của vợ
chồng với tài sản cùng làm ra (Luật Hồng Đức). Việc phân chia tài sản cũng được
phân định rõ ràng, ngoài phần dành cho hương hỏa, những gì còn lại, không phân
biệt con trai hay con gái, đều được nhận phần và các phần được chia đều nhau
hoặc có chênh lệch không đáng kể. Về nguyên tắc, ruộng hương hỏa do người
trưởng nam nhận để lo hương khói cho người quá cố. Nhưng trong những trường hợp
không có con trai thì người con gái trưởng nhận phần hương hỏa.
Họ của người Việt đã xác lập theo dòng
cha, nhưng tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn được bảo lưu.
Sự phát triển ngày càng tăng của dân cư
đã dẫn đến tình trạng sống xen kẽ giữa các thành viên của các dòng họ khác nhau
trong một địa vực cư trú. Tuy nhiên, trong một khu vực cư trú nhất định, thông
thường cũng có một hay hai dòng họ chiếm ưu thế. Quan hệ mới xuất hiện – quan hệ làng xã. Quan hệ làng xã là quan hệ giữa
người với người dựa trên mối quan hệ láng giềng. Quan hệ láng giềng xuất hiện
muộn hơn so với quan hệ thân tộc, do sự gia tăng tính xen kẽ của cư dân và sự
di chuyển địa bàn cư trú. Quan hệ dòng họ mất dần đi cơ sở kinh tế của sự tồn
tại. Cấu trúc gia đình, thân tộc do đó cũng có những biến đổi nhất định. Tuy
nhiên, những nét chủ yếu của quan hệ thân tộc vẫn được duy trì cho đến ngày
nay. Nó thể hiện ở một số khía cạnh sau
Trước hết, chế độ ngoại hôn luôn được thể
hiện rõ rệt trong việc lựa chọn hôn nhân ngoài dòng họ. Làng Việt Bắc Bộ không
có nhiều dòng họ, lại cộng cư trong một không gian xác định, nên các thành viên
trong làng hiểu rõ những mối quan hệ thân tộc. Nên hầu như không có sự vi phạm
những quy định của chế độ ngoại hôn. Ngay cả trong trường hợp hai người cùng
tộc danh cũng rất ít trường hợp dẫn đến hôn nhân. Dư luận xã hội lên án gay gắt
những trường hợp vi phạm chế độ ngoại hôn. Không chỉ trong suy nghĩ của người
có tuổi mà ngay cả trong lòng lớp trẻ, nguyên tắc này cũng rất được coi trọng.
Thứ hai, theo chế độ phụ hệ gia trưởng,
người đàn ông luôn luôn đóng vai trò chủ gia đình. Mọi lĩnh vực có liên quan
đến đời sống gia đình như: làm nhà, dạm vợ, gả chồng cho con cái, chăn nuôi,
trồng trọt… nhất nhất đều do người đàn ông chủ gia đình quyết định. Tư
tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo góp phần làm cho chế độ phụ hệ gia trưởng
trong người Việt thêm củng cố. Trong một gia đình nếu không có con trai nối dõi
tông đường thì dù có bao nhiêu con gái thì dư luận xã hội cũng đều cho là không
có con (Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô). Người phụ nữ sau khi đi lấy chồng
trở thành thành viên của gia đình chồng "Con gái là con người ta, con dâu
mới thật mẹ cha mua về" và cũng từ đây họ và tên của người đàn bà sẽ biến
mất. Người đàn bà đó đội tên chồng hoặc tên con. Ngày nay, trong gia đình luật
pháp đã đảm bảo sự bình đẳng nam nữ. Mọi công việc trong gia đình đều có
sự bàn bạc và tạo được sự nhất trí của cả hai vợ chồng. Tuy nhiên, tàn dư của
chế độ phụ hệ gia trưởng vẫn còn, nhất là ở nông thôn. Khi không có con trai
trong một gia đình vẫn làm cho hai vợ chồng suy nghĩ để rồi họ quyết định phải
sinh tiếp. Và đây là một trong nhiều lý do dẫn đến việc gia tăng dân số ở Việt
Nam.
Thứ ba, theo chế độ tông pháp người con
trưởng sẽ làm nhiệm vụ nối nghiệp gia đình bất luận tư chất của người đó như
thế nào. Đây là vị thế mặc định kể từ lúc người con trưởng xuất hiện trong gia
đình. Theo truyền thống dòng trưởng được kế thừa một số đặc quyền đặc lợi (như
ruộng hương hỏa, hoa lợi trong khuôn viên của nhà thờ họ…) để lo chăm sóc từ
đường (nơi thờ cúng của một gia đình) hay nhà thờ họ (nơi thờ cúng của một dòng
họ). Khi vắng cha thì người anh thế, quyền huynh thế phụ. Ngày nay, khi ruộng
hương hỏa không còn thì nguồn kinh phí phục vụ cho việc thờ cúng tại các nhà
thờ họ, sẽ do sự đóng góp của những người con trai của dòng họ. Đóng góp nhiều
hay ít phụ thuộc vào tính chất của công việc. Để xây dựng, tu sửa nhà thờ họ,
người ta tính toán toàn bộ chi phí, sau đó chia đều cho tất cả những người đàn
ông, con trai không phân biệt tuổi tác. Những người giàu có có thể đóng góp
nhiều hơn những người khác, nhưng tất cả theo nguyên tắc tự nguyện. Những người
đàn bà đã đi lấy chồng có thể xin được đóng góp tiền của để xây dựng hoặc tu
sửa nhà thờ họ. Nhiều ít hoàn toàn do tự nguyện.
Trong quan hệ dòng họ, con của dòng đích
(tộc trưởng đối với một dòng họ) con của dòng bác (anh của cha trong một gia
đình) đều mặc nhiên được những người con của dòng thứ, hay dòng chú (em cha)
tôn trọng nhận là anh, chị, dù là những người đó sinh sau đẻ muộn. Nguyên tắc
này vẫn còn được duy trì khá chặt chẽ tại các làng Việt Bắc Bộ. Ai vi
phạm nguyên tắc này sẽ bị phê phán. Vì vậy, những người vì những lý do khác
nhau, sinh sống xa quê, khi trở về đoàn tụ gia đình sẽ được những người lớn
tuổi dẫn đi để làm quen với họ hàng, tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra
trong ứng xử với những người trong họ.
Cũng theo chế độ phụ quyền, người phụ nữ
khi đi lấy chồng phụ thuộc vào gia đình chồng. Tài sản trong gia đình (dù nhiều
hay ít) đều thuộc về người chồng, không là của con cũng là của họ hàng nhà
chồng. Người phụ nữ một nắng hai sương làm ra, nhưng một khi li dị hoặc tái giá
thường chỉ được phép ra khỏi nhà chồng với hai bàn tay trắng, không được mang
theo con và của cải. Ngày nay, nam nữ bình đẳng vấn đề thừa kế tài sản và nuôi
dạy con sau ly dị đã được luật pháp Việt Nam qui định[37].
Tuy nhiên cũng không ít những trường hợp tranh chấp.
Trong tiến trình sinh hoạt văn hóa xã hội
ở làng Việt Bắc Bộ những hình thái sinh hoạt cộng đồng của các dòng họ có rất
nhiều. Những sinh hoạt văn hóa xã hội này phản ánh cuộc sống đích thực của các
làng Việt Bắc Bộ, nơi lưu giữ các giá trị văn hóa. Để cho các sinh hoạt này
được duy trì đòi hỏi phải có nguồn kinh phí. Trước đây nguồn kinh phí này là do
hoa lợi thu được từ ruộng hương hỏa, mà làng nào cũng có hoặc ít hoặc nhiều tùy
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng dòng họ. Ngoài ra, cần có sự đóng góp của
các thành viên khác trong họ, nhất là những người giàu, những người đỗ đạt. Quỹ
họ do trưởng tộc giữ, nhưng người sử dụng lại là tập thể của dòng họ. Mọi
chi tiêu tiền quỹ họ đều được bàn bạc, công khai. Khi quỹ đất không còn, quỹ họ
chủ yếu do sự đóng góp của các thành viên trong dòng họ. Trong những năm chiến
tranh ác liệt, nhiều nhà thờ họ bị tàn phá hoặc hư hỏng. Để giáo dục truyền
thống về nguồn, nhiều nhà thờ họ được xây dựng mới hoặc tu sửa lại khá khang
trang, trở thành nơi sinh hoạt văn hóa trong dòng họ. Ở một số dòng họ, còn
dùng quỹ họ để khuyến khích những thành viên của dòng họ thi đỗ các trường đại
học hoặc là những học sinh học giỏi tại các trường phổ thông. Đây là một việc
làm rất đáng khuyến khích trong bối cảnh hiện nay khi mà toàn xã hội đang có
nhiều quan tâm đến sự nghiệp giáo dục.
Sinh hoạt văn hóa xã hội của dòng họ là
rất nhiều được thể hiện qua các lễ. Chúng tôi nêu lên hai trong nhiều những lễ
đó. Sở dĩ chúng tôi có lựa chọn này vì tính chất cũng như quy mô của chúng khác
với các lễ khác. Mặt khác, đây là những lễ được tổ chức ở hầu hết các họ, không
phân biệt họ lớn hay họ nhỏ. Đó là lễ tảo mộ và lễ tế họ.
Lễ tảo mộ thường được tiến hành vào dịp
thanh minh. Vào dịp thanh minh về nguyên tắc, những thành viên trong dòng họ
đến nghĩa địa, nơi chôn cất ông thủy tổ để dọn mới, phát quang mồ mả tổ tiên,
đắp cho cao, cho đẹp. Những người lớn tuổi trong họ chỉ cho lớp trẻ vị trí,
những đặc điểm nhận biết để lớp trẻ ghi nhớ. Đây là một hình thức biểu thị sự
“uống nước nhớ nguồn”, một truyền thống tốt đẹp của người Việt. Tuy là theo
nguyên tắc các thành viên trong họ đi tảo mộ, nhưng phần lớn trong các trường
hợp chỉ những người lớn tuổi, trưởng các chi phái. Sau khi làm xong công việc ở
mộ tổ các chi phái lại tiếp tục tảo mộ ông tổ của các chi. Thông thường các chi
phái dòng họ cũng hay tổ chức tế lễ tại nhà thờ họ các chi phái vào dịp này.
Lễ tế họ thường được tổ chức vào ngày mất
của cụ tổ. Vào ngày này người ta sửa sang, thu dọn sao cho nhà thờ họ sạch sẽ
hơn, gọn gàng hơn. Kinh phí cho tế lễ họ là nguồn hoa lợi thu được từ ruộng
hương hỏa và sự đóng góp của các thành viên trong dòng họ. Khi ruộng hương hỏa
không còn, thì mọi chi phí cho tế lễ họ sẽ do các thành viên đóng góp. Trong
ngày tế họ người ta phải biện lễ theo truyền thống của từng dòng họ. Những họ
nhỏ sẽ là dịp gặp mặt của tất cả thành viên của dòng họ. Còn những họ lớn gồm
nhiều chi phái, nhiều người chỉ có những người trưởng các chi phái và
những người lớn tuổi trong dòng họ mới có cơ hội có mặt tại nhà thờ họ
trong dịp này. Bởi vì, cũng vào thời gian đó tại các nhà thờ của các chi phái
cũng sẽ tiến hành lễ tổ.
Tại buổi lễ, trưởng tộc (chi cả) và
trưởng các chi phái khác cũng như những người lớn tuổi trong họ đứng dâng nước,
còn các thành phần khác đứng phía sau. Người ta chọn hai người giỏi văn tự đọc
gia phả và lời cầu chúc tổ tiên. Sau khi đọc xong gia phả và lời cầu chúc tổ
tiên mọi người có mặt đều rất cung kính vái tổ tiên. Lễ tế họ được tổ chức
trang nghiêm tại nhà thờ họ với sự kiện của tất cả các thành viên trong dòng họ
tạo nên niềm cộng cảm, là sợi dây nối kết mọi người lại để họ hiểu nhau hơn.
Cho dù cụ tổ đã mất cách nay vài ba thế kỷ, các thế hệ cháu con đã tăng lên
rất nhiều lần, sinh sống ở nhiều làng khác nhau, quan hệ láng giềng đã lấn át
quan hệ huyết thống, nhưng niềm cộng cảm chung một cội nguồn đã giúp cho những
người tiểu nông gắn bó hơn và có thể bỏ qua cho nhau những mâu thuẫn của đời
thường. Quan hệ giữa các thành viên trong một dòng họ tự nó không mang tính
giai cấp và ở một chừng mực nào đó quan hệ đó cũng không mang tính đẳng cấp,
mặc dù trong thực tế đời sống, vị trí xã hội của các thành viên của một dòng họ
cũng không giống nhau, có trường hợp, giữa họ với nhau đã xảy ra sự bóc lột. Về
cơ bản, quan hệ dòng họ là quan hệ bình đẳng thương yêu tôn trọng, giúp đỡ lẫn
nhau trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong hoạn nạn, khó khăn.
Mặc dù “làng Việt cổ truyền ở đồng bằng
và trung du Bắc Bộ là một đơn vị dân cư được tập hợp chủ yếu theo quan hệ láng
giềng”[38] nhưng
quan hệ dòng họ vẫn có vai trò trong đời sống của người nông dân Việt Bắc Bộ.
Quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ đã xuất hiện ngay từ ban đầu, ngay trong
từng nhóm di dân đến khai phá vùng đất mới đầy rẫy những khó khăn khắc nghiệt.
Quan hệ dòng họ đó vẫn có giữa các thành viên của một dòng họ tại quê hương bản
quán của họ ở một vùng nào đó ở miền Bắc hay miền Trung, sau vì một lý do nào
đó họ phải rời bỏ quê hương để vào vùng đất mới. Trong môi trường mới, mối quan
hệ dòng họ tiếp tục được duy trì.
Các thành viên trong mỗi dòng họ của các
làng Việt Nam Bộ vẫn thể hiện rất rõ nguyên tắc “chung tộc danh về phía bố”, mà
trong một công trình nghiên cứu Gerald.C.Hakey đã viết về dòng họ của người
Việt Nam Bộ. “Đó là một hệ thống thân tộc theo dòng của người cha trong đó con
trai được coi trọng hơn con gái và giữ một vai trò ưu thế dẫu rằng con gái cũng
không bị gạt xuống một quy chế thấp kém. Tên của con gái cũng mang họ của người
cha và đều là những phần tử của dòng họ nội”[39].
Xác định rạch ròi bên nội, bên ngoại là thể hiện rõ chế độ ngoại hôn. Cho dù đã
có những biến động lịch sử, sinh sống xa cái nôi văn minh Việt và ảnh hường của
Nho giáo cũng rất nhạt nhòa, nhưng người Việt Nam Bộ vẫn giữ được những nét văn
hóa đã ăn sâu vào tiềm thức.
Trong bối cảnh chung của Nam Bộ, chế độ
phụ hệ gia trưởng của người Việt tuy vẫn được duy trì như ở miền Bắc Việt Nam
nhưng cũng đã thay đổi. Mọi công việc trong gia đình người đàn ông vẫn là người
chủ trì, nhưng đã có sự tham gia của người vợ, ngay trong việc thừa kế gia tài
người con gái cũng được hưởng một phần. “Con trai được hưởng một phần gia tài
lớn hơn, nhưng con gái cũng được phần nào gia tài và có trường hợp được hưởng
ngay cả ruộng đất nữa. Người vợ có quyền tham dự vào những quyết định có liên
quan đến gia đình và trong đa số các gia đình người vợ là người giữ ngân quỹ”[40]. Dù theo
chế độ phụ hệ gia trưởng, nhưng trong các gia đình Việt Nam Bộ vai trò của
người vợ thể hiện rất rõ, người vợ đã chia sẻ cùng chồng trong các công việc có
liên quan đến gia đình. Không cần ẩn tàng như ở Bắc Bộ với vai trò “nội tướng”
như cách nói của Trần Từ[41]. Và có lẽ
vì vậy, mà trong các gia đình Việt Nam Bộ dù có sinh toàn con gái cũng không
gây cú sốc tâm lý như các gia đình Việt Bắc Bộ.
Theo truyền thống của các gia đình người
Việt Bắc Bộ thì người con trai trưởng có trách nhiệm thờ cúng bố mẹ. Ngày tết
và những ngày giỗ bố, mẹ, những người con khác trong gia đình sẽ mang lễ vật
cũng như đóng góp tiền bạc để người con trai trưởng lo sắm sửa. Vị trí này
không ai có thể thay thế, khi người con trai trưởng đó vẫn còn sống, chỉ có thể
thay thế vị trí này khi người con trai trưởng chết mà không có con trai.
Qua quan sát thực tế của chúng tôi ở các
huyện ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh và một số địa phương khác ở Nam Bộ thì
tộc trưởng của các dòng họ không theo dòng con trưởng. Ở một số dòng họ, tộc
trưởng thuộc dòng thứ, ở một số dòng họ khác, tộc trưởng do đại cử tri bầu[42]. Trong
công trình nghiên cứu về làng Khánh Hậu, Hickey cũng có một nhận xét tương tự,
ông viết: “trách nhiệm cúng giỗ không nhất thiết phải do trưởng tộc đảm nhiệm.
Nhiều khi trách nhiệm đó được chia sớt giữa các người thuộc nam phái trong nội
tộc để tránh cho một người nào đó phải một mình chịu đựng cái gánh nặng tài
chính. Trường hợp này đặc biệt đúng với các gia đình không có hương hỏa và
không có nguồn lợi nào khác đặt ra để lo việc cúng giỗ cho nên họ được tự do
hơn để kiếm những tiện nghi riêng của họ. Và có một phần tử nào đó trong gia
đình giàu có hơn những người khác, thì người đó có thể đảm nhận trách nhiệm
cúng giỗ và đãi tiệc, tuy rằng không phải là trưởng tộc”[43].
Như vậy so với những quan niệm truyền
thống đã có những thay đổi. Không theo chế độ tông pháp còn được thể hiện ở chỗ
không có sự phân định rõ ràng trong cách xưng hô giữa dòng đích và dòng thứ.
Theo chế độ tông pháp, những người con của người con trưởng sẽ được những người
con của dòng thứ gọi là anh, chị không phân biệt tuổi tác. Còn ở Nam Bộ, thì
phần lớn các trường hợp những người lớn tuổi sẽ được gọi bằng anh, chị dù những
người đó ở dòng thứ. Đó có thể do ảnh hưởng của người Hoa, một tộc người hay
giữ tục lệ này.
Các làng Việt Nam Bộ được hình thành
trong quá trình khai hoang lập làng ở một vùng đất rất thuận lợi cho việc giao
lưu, mà thành phần cư dân khá đa dạng từ nhiều tỉnh, nhiều vùng khác nhau đến
khai hoang vùng đất mới tạo dựng những đơn vị cư trú. Những làng Việt Nam Bộ
nói chung có tính chất mở nên người dân dễ dàng di chuyển đi nơi khác làm ăn và
họ tạo dựng nên những đơn vị cư trú mới. Bởi vậy, cho nên dân cư của các làng
không thuần nhất như các làng xã Bắc Bộ. Làng được hình thành trong quá trình
khai phá, tập hợp cư dân ở nhiều địa phương khác nhau, nhiều dòng họ khác nhau.
Chính vì vậy, trong một làng, số dòng họ khá nhiều[44],
không có dòng họ nào chiếm áp đảo dân cư so với các dòng họ khác và cũng không
có làng nào lấy lên họ đặt lên cho làng như ở các làng Việt Bắc Bộ. Tuy họ lập
thành “dân ấp, dân lân” với nhau, nhưng sự cố kết “họ hàng, làng xã" ở Nam
Bộ lỏng lẻo hơn so với các làng Việt Bắc Bộ. Trong bối cảnh cụ thể của Nam Bộ,
chính những điều kiện tự nhiên và xã hội đã tác động đến mối quan hệ dòng họ
vốn đã ăn sâu vào nếp nghĩ, đời sống của người nông dân Việt, làm cho nó khác
so với Bắc Bộ.
Mặt khác, quá trình khai hoang lập làng
hình thành các đơn vị cư trú mới làm cho chế độ sở hữu đất đai ở Nam Bộ hình
thành sớm. Ở Bắc Bộ, chế độ công điền công thổ tồn tại khá dai dẳng[45]. Chính
công điền, công thổ đã níu kéo các thành viên gắn bó với làng. Dù đi xa cũng cố
gắng thực hiện các nghĩa vụ của làng để đến khi phân chia lại công điền, công
thổ sẽ được làng dành cho một phần như những thành viên khác đang sinh sống tại
làng. Trong tình hình đó, mối quan hệ dòng họ có điều kiện được củng cố thông
qua mối liên hệ siêu hình giữa người sống và người chết. Sợi dây liên hệ này
chủ yếu là việc thờ cúng tổ tiên. Và mối liên hệ giữa người sống và sợi dây
liên hệ này chủ yếu là sở hữu tập thể gồm có đất công và nhà thờ. Hơn thế nữa, vinh
hạnh của một người được cả dòng họ đón nhận với tấm lòng trân trọng (một người
làm quan cả họ được nhờ). Còn ở Nam Bộ chế độ tư hữu sớm, làng lại không được
thiết lập trên nền tảng ruộng công nên vai trò của làng có phần bị hạ so với
làng ở Bắc Bộ. Người tiểu nông tuy vẫn mang tình làng nghĩa xóm, nhưng tính
cách và vai trò của họ không bị hòa tan trong cộng đồng, tính năng động làm cho
họ tùy ý lựa chọn phương thức hoạt động kinh tế của mình. Chính điều đó đã
làm cho quan hệ dòng họ có phần lỏng lẻo (bán anh em xa, mua láng giềng gần).
Và cuối cùng quan hệ dòng họ của người
Việt Nam Bộ, có phần khác so với quan hệ dòng họ của người Việt Bắc Bộ, chính
là những người di dân khai hoang lập làng là “những người nghèo khó, đấu tranh
để sống, nhưng lại thiếu chữ, đủ sức làm dân, làm người mà không thuộc Kinh
truyện" (Trần Bạch Đằng). Nho giáo du nhập vào Việt Nam dần dần, xác lập
được vị trí của mình, được Nhà nước đề cao, nhưng khi chính trị suy vi, Nho
giáo cũng mất dần địa vị độc tôn. Khi vào tới Nam Bộ, Nho giáo đã nhạt dần, lại
tồn tại trong bối cảnh cư dân vốn là những người nghèo khó, ít học, “nói lý
luận là buồn ngủ” (Sơn Nam), nên không có ảnh hưởng chi phối như ở các làng Bắc
Bộ. Nho giáo cũng không có ảnh hưởng sâu sắc đến tế bào xã hội – gia đình, điều
đó được thể hiện trong quan niệm sinh con cái, trong hôn nhân gia đình. Trong
bối cảnh như thế chế độ tông pháp cũng không có những điều kiện để phát triển,
khi quan hệ láng giềng đã thay thế quan hệ dòng họ (tứ hải giai huynh đệ).
Làng và quan hệ dòng họ của người Việt
Nam Bộ đã và sẽ còn tồn tại gắn bó với họ và không thể thiếu trong đời sống
hàng ngày. Nhưng làng và quan hệ dòng họ của người Việt Nam Bộ đã có những thay
đổi so với làng và quan hệ dòng họ của người Việt Bắc Bộ. Cùng với thời gian làng
và quan hệ dòng họ của người Việt Bắc Bộ cũng đã có những đổi thay. Nhưng ở Nam
Bộ chính môi trường tự nhiên và xã hội ở vùng đất mới tác động đến mọi mặt của
người lưu dân, tạo nên những sắc thái địa phương, hình thành vùng văn hóa Nam
Bộ - văn minh miệt vườn, văn minh sông nước. Nhưng sự phát triển đó diễn ra
theo quy luật tạo nên sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa người Việt.
---o0o----
Tài liệu
tham khảo
1) Nguyễn Công Bình và các tác giả: Văn hóa và cư dân đồng
bằng sông Cửu Long, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.
2) Nguyễn Công Bình và các tác giả: Đồng bằng sông Cửu Long
nghiên cứu và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995.
3) Nguyễn Công Bình: Đời sống xã hội ở vùng Nam Bộ, Nxb. ĐHQG
Tp.HCM, 2008.
4) Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb.Văn
hóa-Thông tin, Hà Nội, 1996.
5) Condominas G.: Không gian xã hội vùng Đông Nam Á, Nxb.
Văn hóa, Hà Nội, 1998.
6) P. Gourou: Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (bản dịch), Nxb.
Trẻ, 2003.
7) Nguyễn Duy Hinh: Vài tư liệu có liên quan đến hệ thống
thân tộc của người Việt, Tạp chí Dân tộc học, số 2/1982.
8) Diệp Đình Hoa: Tìm hiểu làng Việt, Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1990.
9) Diệp Đình Hoa: Làng Nguyễn –Tìm hiểu làng Việt II, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.
10) Nguyễn Văn Huyên: Văn minh Việt Nam, Nxb. Hội nhà văn, Hà
Nội, 2005.
11) Vũ Khiêu: Gia đình Nho giáo Việt Nam, Nxb. Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1996.
12) Vũ Tự Lập và các tác giả: Văn hóa và cư dân đồng bằng
sông Hồng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.
13) Ngô Văn Lệ: Vài nét về công xã nông thôn ở Đông Nam Á,
trong sách Đông Nam Á: Những vần đề văn hóa - xã hội, Nxb. ĐHQG Tp. HCM, 2000.
14) Ngô Văn Lệ: Công xã Đông Nam Á – thống nhất trong đa
dạng, Nxb. ĐHQG Tp.HCM, 2000.
15) Ngô Văn Lệ: Làng Việt Nam Bộ trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hoa, Nxb. ĐHQG Tp. HCM, 2003, trg.82-96.
16) Ngô Văn Lệ,(2003),Về quan hệ dòng họ của người Việt ở
ngoại thành Tp. Hồ Chí Minh, Nxb. ĐHQG Tp.HCM, 2003, trg.97-109.
17) Leopold Cadiere: Văn
hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt, Nxb. Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 1997.
18) Huỳnh Lứa và các tác giả: Lịch sử khai hoang vùng đất
Nam Bộ, Nxb.Tp.HCM, 1987.
19) Huỳnh Lứa: Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ
XVII, XVIII, XIX, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.
20) Trần Thị Thu Lương: Chế độ sở hữu và canh tác ruộng đất
ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX, Nxb. Tp. HCM, 1994.
22) Sơn Nam: Văn minh miệt vườn, Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1992.
22) Philippe Papin – OlivierTessier (Chủ biên): Làng ở vùng
châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ, Trung tâm KHXH&NV Quốc gia, Hà Nội,
2002.
23) Nguyễn Hồng Phong: Xã thôn Việt Nam, Nxb. Sử-Địa, Hà
Nội, 1958.
24) Nguyễn Hồng Phong: Văn hóa chính trị Việt Nam truyền
thống và hiện đại, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1998.
25) Nguyễn Hồng Phong: Một số vấn đề về hình thi kinh tế-xã
hội, văn hóa và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000.
26) Nguyễn Phương Thảo: Văn hóa dân gian Nam Bộ - những phác
thảo, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1997.
27) Trần Từ: Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền Bắc Bộ, Nxb.
Khoa học xã hội, 1984.
28) Viện Sử học: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập I, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977.
29) Viện Sử học: Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập II, Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978.
30) Viện Sử học: Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận
đại, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990.
Địa chí Đồng Nai, Nxb.Tổng hợp, trg.119.
Toan Anh, 1992: Nếp
cũ, Làng xóm Việt Nam, Nxb Tp. HCM, trang 34 – 36.
Nguyễn Văn Huyên, sđđ, trang 121.
Phạm Minh Đức, Những làng văn hóa, văn nghệ dân
gian đặc sắc ở Thái Bình, NXB Văn hóa – thông tin, 2006.
|