|
Một
đại học ở “đẳng cấp quốc tế” không có nghĩa đơn giản là có tên trong
các bảng xếp hạng do các nhóm như Đại học Giao thông Thượng Hải hay tạp
chí Times làm hàng năm. Trung Quốc là nước có tham vọng “cháy
bỏng” về một vài đại học đẳng cấp quốc tế. Dù Trung Quốc có vài đại học
trong danh sách đại học hàng đầu theo tiêu chuẩn của Times, nhưng người
trong cuộc thì khẳng định Trung Quốc chưa có một đại học nào đạt đẳng
cấp quốc tế.
Nói như học giả Philip Altbach, nước nào cũng muốn có một hay vài đại
học đẳng cấp quốc tế. Những nước có tham vọng đó phải kể đến Trung
Quốc, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan. Trung Quốc có hẳn một chương trình với
tên gọi là “C9” (cái gì của nước này cũng có những mã số bí hiểm), mà
theo đó, Chính phủ tập trung đầu tư cho 9 trường đại học với mục tiêu
đến năm 2020 đạt được hay gần ngưỡng “đẳng cấp quốc tế”. Chín trường đại
học này bao gồm Đại học Bắc Kinh, Nam Kinh, Thanh Hoa, Giao Thông
Thượng Hải, Khoa học và Công nghệ. Riêng trường Thanh Hoa quyết tâm
“phấn đấu” để đến năm 2011 sẽ có vị trí 100 trong danh sách các đại học
hàng đầu trên thế giới. Ấn Độ cũng cảm thấy để nâng cao vị thế quốc gia
trên trường quốc tế, họ cần phải có ít nhất 5 đại học trong danh sách
các đại học hàng đầu trên thế giới. Không riêng gì Trung Quốc và Ấn Độ,
đại học các nước “đang lên” như Malaysia và Thái Lan cũng đã và đang có
tham vọng cao đó. Ngay cả nước ta với một nền giáo dục đại học còn nhiều
ngổn ngang mà vẫn có chủ trương đến năm 2020 phấn đấu có ít nhất một
đại học đẳng cấp quốc tế.
Nếu ý muốn có đại học đẳng cấp quốc tế đã quá rõ ràng, thì định nghĩa
thế nào là “đẳng cấp quốc tế” vẫn chưa mấy rõ ràng. Đại học đẳng cấp
quốc tế là dịch từ cụm từ world class university của tiếng Anh,
và các học giả vẫn chưa nhất trí với một định nghĩa phổ quát. Nhiều
người, như Altbach chẳng hạn, đề nghị đại học đẳng cấp quốc tế có những
đặc điểm sau đây: xuất sắc trong nghiên cứu khoa học, tự do học thuật,
môi trường học thuật lành mạnh, tự chủ về chính sách tuyển sinh và ngân
sách. Gần đây, giới nghiên cứu chú ý đến khái niệm EGM (emerging global model – mô hình toàn cầu) như là đại học đẳng cấp quốc tế. Đại học EGM có 8 đặc điểm như sau:
Có sứ mệnh xuyên quốc gia, chứ không chỉ hạn chế trong một quốc gia;
- Đặt nặng nghiên cứu khoa học như là một điểm mạnh;
- Tạo điều kiện cho các giáo sư đóng vai trò quan trọng trong chính sách giáo dục và khoa học;
- Nguồn tài trợ đa dạng;
- Có quan hệ đa chiều với các đối tác;
- Tuyển giáo sư và sinh viên một cách toàn cầu;
- Cơ chế tự chủ; và Hợp tác với các trung tâm và đại học trên thế giới.
Dựa vào những tiêu chuẩn (hay đặc điểm) trên, Trung Quốc đã có một
đại học nào có thể xem là đẳng cấp quốc tế chưa? Xin nói thêm rằng trong
bảng xếp hạng đại học của nhóm THES (THES World University Rankings)
năm 2010-2011, Đại học Thanh Hoa đứng hạng 59 và Đại học Bắc Kinh hạng
37. Theo Xu Zhihong, cựu hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc chưa
có một đại học nào đạt đẳng cấp quốc tế cả. Trong một bài nói chuyện với
sinh viên vào tháng 4/2010, ông lí giải rằng một đại học đẳng cấp quốc
tế phải đạt 3 chỉ tiêu. Thứ nhất, đại học đó phải có các giáo sư danh
tiếng trên thế giới làm những nghiên cứu có tác động ở qui mô quốc tế.
Thứ hai, đại học phải có những thành tựu gây ảnh hưởng đến nền văn minh
hiện đại. Thứ ba, đại học đẳng cấp quốc tế nên có những cựu sinh viên có
đóng góp quan trọng trong việc khai sáng xã hội và văn minh nhân loại.
Với những tiêu chuẩn đó, Xu Zhihong cho rằng Trung Quốc chưa có đại học
đẳng cấp quốc tế.
Một trong những cạm bẫy trong các chương trình phát triển đại học
đẳng cấp quốc tế là … quá tham vọng. Phát triển một đại học thành đẳng
cấp quốc tế theo mô hình EGM đòi hỏi thời gian và một sự đầu tư lớn. Các
nước giàu như Đức, Anh, Pháp, Nhật, Canada, Úc, v.v. cần đến cả trăm
năm để có những đại học đẳng cấp quốc tế. Thái Lan phát triển đại học
hơn 50 năm nhưng vẫn chưa có một đại học nào có thể gọi là đẳng cấp quốc
tế. Trong môi trường tham nhũng tràn lan như ở Trung Quốc, giới học giả
Trung Quốc tỏ ra bi quan về triển vọng có một đại học sánh vai ngang
hàng với các đại học Ivy League của Mĩ hay Oxford, Cambridge của Anh.
Nhìn người lại nghĩ đến ta. Việt Nam chúng ta cũng có tham vọng cháy
bỏng có vài đại học đẳng cấp quốc tế. Giống như Trung Quốc, Phó thủ
tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng đặt mục tiêu đến năm 2020 có 4 trường được
xem là đẳng cấp quốc tế. Tuy nhiên, đó chỉ là mục tiêu bởi vì trong thực
tế hình như chưa thấy lộ trình cụ thể để đạt mục tiêu đó ra sao cả.
Đối chiếu với 8 đặc điểm EGM, chúng ta dễ dàng thấy Việt Nam chưa sẵn
sàng cho và chưa thể có một nền tảng cho một (chứ chưa nói đến 4) đại
học đẳng cấp quốc tế:
Sứ mệnh xuyên quốc gia? Đại học Việt Nam chưa có tham
vọng này, vì mục tiêu vẫn là đáp ứng nhu cầu quốc gia; phần lớn
“đại học” thực chất chỉ là những cơ sở đào tạo, thậm chí dạy nghề
chứ chưa hẳn là một đại học
Đặt nặng nghiên cứu khoa học? Một số đại học Việt Nam nói về nghiên cứu khoa học, nhưng chưa làm và người làm thì chưa được khuyến khích.
Tạo điều kiện cho các giáo sư đóng vai trò quan trọng trong chính sách giáo dục và khoa học?
Việt Nam có rất nhiều giáo sư và phó giáo sư, nhưng sự đóng góp
cho các chính sách công của họ vẫn còn mờ nhạt. Thật ra, Nhà nước
ít khi nào chịu nghe phản biện và đóng góp ý kiến về các chính sách
giáo dục, kinh tế, y tế, v.v. của giới trí thức (chứ chưa nói đến
giới giáo sư đại học)!
Nguồn tài trợ đa dạng? Tài trợ cho nghiên cứu khoa
học ở Việt Nam còn rất hạn chế. Đại đa số các nhà nghiên cứu
và giáo sư vẫn chỉ loay hoay xin tài trợ từ các nguồn trong nước,
chứ chưa vươn ra xin tài trợ từ các tổ chức ở nước ngoài. Quan hệ đa chiều với các đối tác? Quan hệ quốc tế của
các đại học lớn ở Việt Nam thì có nhưng chỉ trên giấy tờ là chủ yếu
chứ chưa đi vào thực tiễn. Ngoài ra, mối liên hệ giữa đại học và kĩ
nghệ vẫn chưa được rộng rãi như ở các nước tiên tiến. Thật ra, giới kĩ
nghệ không có tiếng nói gì trong các chương trình đào tạo của đại
học!
Tuyển giáo sư và sinh viên một cách toàn cầu? Việt
Nam có cơ chế tuyển giáo sư và sinh viên rất đặc thù và … bao cấp.
Khái niệm “cơ cấu” rất xa lạ trong giới học thuật nhưng lại rất
phổ biến ở Việt Nam. Tuyển dụng giáo sư từ nước ngoài có lẽ khó
thực hiện được ở Việt Nam (nhất là các đại học công) bởi cơ chế
nặng nề và can thiệp của an ninh. Sinh viên nước ngoài theo học ở Việt
Nam rất hiếm.
Cơ chế tự chủ? Chưa có đại học nào ở Việt Nam thực
sự tự chủ. Có người nói đùa với người viết bài này rằng Việt Nam ta
có hơn 300 trường đại học nhưng chỉ có một hiệu trưởng thôi, đó là
ông Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo!
Hợp tác với các trung tâm và đại học trên thế giới? Như
đề cập trên một số đại học Việt Nam có hợp tác với nhiều đại học
trên thế giới, nhưng chủ yếu chỉ là liên đào tạo chứ chưa phải hợp
tác trong nghiên cứu khoa học mà một đại học đẳng cấp quốc tế đòi
hỏi.
Với những đối chiếu đơn giản trên, chúng ta thấy rõ ràng rằng con
đường đến năm 2020 để có một đại học đẳng cấp quốc tế cho Việt Nam còn
rất khó khăn, nếu không muốn nói là không thể thực hiện được. Thật vậy,
nếu Trung Quốc còn bi quan như thế thì triển vọng có một đại học đẳng
cấp quốc tế ở Việt Nam có thể nói là còn rất xa vời.
Môi trường đại học VN chỉ là môi trường trung học kéo dài. Không có
những sinh hoạt học thuật sau giờ học. Ngay cả làm seminars cũng rất
nhiêu khê và hạn chế. Sinh viên đi học như là công chức, sáng đến
trường, trưa đi ngủ, chiều lại tiếp học học. Thật khó tưởng tượng ở
trường y mà thầy cô không có phòng làm việc thậm chí chẳng có lab! Lab
thì nhếch nhác, thiếu an toàn. Thư viện thì thật là buồn, chẳng khác gì
thư viện trung học. Hệ thống internet thì chập chờn. Vân vân. Với những
cơ sở vật chất như thế (chưa nói đến nghiên cứu khoa học làm gì cho xa
vời) mà mơ tưởng đến đại học đẳng cấp quốc tế thì quả thật đó là một
giấc mơ lãng mạn. Tôi nghĩ chiến lược tốt nhất là là tập trung xây dựng
“capacity” cho nghiên cứu khoa học tốt, tạo môi trường học thuật và tự
do học thuật, đầu tư vào cơ sở vật chất tốt, rồi hãy nói đến chuyện
"đẳng cấp quốc tế".
NVT- Theo nguyenvantuan.net
Lời bàn:
Đúng là còn rất nhiều việc phải làm cho mục tiêu xây dựng trường đại học đẳng cấp Quốc tế ở Việt Nam.
Đầu tư cho nghiên cứu khoa học tốt, tạo
môi trường học thuật và tự do học thuật. Xây dựng vào cơ sở vật chất tốt cho các trường đại học. Hay nói gắn gọn là tạo môi trường sư phạm cho các trường đại học trong nước tương đương như các trường đại học nước ngoài như tác giả đề xuất là một hướng đi khác. Tuy nhiên cũng không dễ, nếu không nói là khó hơn xây dựng 01 trường đại học đẳng cấp Quốc tế ở Việt Nam (Theo Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân gợi ý khi trả lời trực tuyến trên TV, sẽ xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế theo mô hình một trường đại học cụ thể nào đó của nước ngoài) .
Thử lấy Đại học Quốc tế RMIT Việt Nam, là đại học 100%
vốn nước ngoài đầu tiên tại Việt Nam và hiện cũng là đại học nước ngoài duy
nhất hoạt động hoàn toàn độc lập tại Việt Nam để khảo sát.
Khoan nói về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên đẳng cấp quốc tế..., xin kể ra đây mấy nét về việc dạy và học của trường này cho lớp sinh viên dự bị (đang học ngoại ngữ) khai giảng đầu tháng 9/2011 mà chúng tôi có dịp quan sát để so sánh.
Tuy mới nhập học 03 ngày, nhưng xem cách giảng dạy của Tây khác hẳn
cách dạy của Ta. Ở ta ngày đầu tiên bước qua cổng trường đại học là ngày khai
giảng, tập trung toàn khoá, sau đó là mấy ngày học chính trị, nội qui...
Ở Trường RMIT buổi đầu tiên vào học ngay, tuy nhiên thầy dành khoảng 01-02
giờ để thầy trò làm quen, giới thiệu về nhau và gợi ý các trò lập các nhóm học
tập. Ngày thứ 02 các trò kể cho nhau nghe về mình. Trên cơ sở nghe hiểu viết thành
bài miêu tả về bạn mình. Buổi trưa sinh viên tham dự một hội thảo ngắn tại hội trường (tất nhiên
mới ở mức thày nói trò nghe). Ngày thứ 03 mỗi sinh viên được cung cấp
password để truy cập vào trang web của lớp mình và thày cho bài tập trên mạng.
Giao diện nhà trường thiết kế cho học sinh na ná như trang thư
điện tử, nhưng có thể thao tác như một trang Web đơn giản. Thay vì đọc chép
trên lớp như ở Ta, trò copy bài tập từ trang của thầy về trang của mình và làm bài
trên đó, sau đó đặt tên file và save. Mỗi lớp có chừng 15-20 sinh viên, trong đó vài sinh viên người nước ngoài
và do 02
thầy người nước ngoài giảng dạy. Cách giao bài cũng rất mở. Ví dụ, thầy lưu ý sinh viên một số bài báo học chương trình phát thành của một đài nước ngoài, sinh viên lên mạng tự tìm các bài đó nghe, đọc và dùng các thông tin đó để làm bài.
Với cách dạy và học như vậy, sinh viên phải lao động thực sự và rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm và tự nghiên cứu ngay từ đầu khóa học.
Thử áp dụng vào môi trường giảng dạy của Việt Nam có được không ? Thưa không được, vì chương trình giảng dạy của ta là chương trình khung, đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua và áp dụng cho toàn hệ thống. Tiết nào sinh viện học bài gì, ở sách nào đã có qui định cụ thể. Giảng viên cứ việc đọc cho sinh viên chép, phần mở rộng là không nhiều. Muốn cải cách giáo trình giảng dạy đại học khi chưa cải cách xong giáo trình giảng dạy chương trình phổ thông là không thể.
Để có 03 buổi học như trên là cả một vấn đề...Chiến lược. Vì vậy đề xuất của tác giả về Đầu tư cho nghiên cứu khoa học tốt, tạo
môi trường học thuật và tự do học thuật... như trên cũng chỉ là giả thiết mà thôi.
Như khoán 10 trong nông nghiệp, chỉ cần người nông dân được giải phóng khỏi cơ chế làm ăn cũ là có những mùa vàng bội thu, trong giáo dục đào tạo cũng vậy.
>> SGGP Online- Bùng nổ đại học và hệ quả - Bài 2: Những cuộc đua ...
|