|
Đỗ Công Sơn- Người mua Boeing
đầu tiên về Việt Nam
Phần
I
Ông
được coi là một trong những triệu phú đô la đầu tiên ở Việt Nam ngay từ
thập niên tám mươi của thế kỷ trước. Cho đến những năm đầu của thế kỷ này, ông
vẫn được coi là một trong những người giàu nhất Việt Nam.
Đỗ Công Sơn (giữa) cùng cựu Thủ tướng Australia và
một tỷ phú Hongkong
Tôi thực sự
không biết bắt đầu câu chuyện về anh từ đâu. Bởi câu chuyện nào của anh mà tôi
biết cũng có thể là câu chuyện mở đầu về chính bản thân anh, một người mà theo
tôi là vô cùng kỳ lạ. Tôi đã kể một cách rời rạc về cuộc đời anh cho rất nhiều
người nghe. Lần nào cũng vậy, khi tôi tạm ngừng kể, thì tất cả những người nghe
đều “chết lặng”. Họ không thể tin rằng có một người lạ lùng như thế ở chính
thành phố Hà Nội không lấy gì to lớn lắm này.
Lần đầu tiên
tôi gặp anh là ở ngôi nhà mà một người bạn tôi thuê ở Bangkok. Bạn tôi là Đỗ Dương Quy, người cùng
xã với tôi, lúc đó là người đại diện cho Hàng không Việt Nam ở Thái Lan.
Đó là năm 1994. Tôi quá cảnh Bangkok vài ngày để
đợi lấy visa vào Mỹ. Ngày đó, Mỹ vẫn còn theo đuổi chính sách cấm vận với Việt Nam, cho nên Sứ
quán Mỹ chưa đặt ở Hà Nội.
Bởi thế, cứ
mỗi lần đi Mỹ là tôi lại có dịp la cà ở Bangkok
ba bốn ngày. Một buổi tối, Đỗ Dương Quy mời tôi đi ăn. Khi đến một nhà hàng rất
lớn ở Bangkok,
Quy giới thiệu tôi với một người đàn ông nhìn rất trẻ và vô cùng sắc sảo. Đó là
Đỗ Công Sơn, cũng là người huyện Ứng Hoà, Hà Tây cùng chúng tôi. Đấy là lần đâu
tiên tôi gặp anh. Khi chia tay nhau, anh đưa cho tôi một tấm danh thiếp và nói
khi nào về Việt Nam
thì đến chơi.
Sau chuyến
đi Mỹ ấy trở về, tôi cũng công này việc nọ chẳng có thời gian nào đến thăm anh.
Một hôm, tôi thong thả chạy xe trôi theo đường Bà Triệu và nhận thấy có một
ngôi nhà cổng rất lớn mở rộng. Trong sân nhà có hai con sư tử đá khổng lồ. Lùi
sâu một chút là một tấm đá hoa cương có dòng chữ mạ vàng Công ty Vinh Hạnh.
Ngay lúc đó,
tôi giật mình nhớ ra người chủ của ngôi nhà đó: Đỗ Công Sơn. Trong bữa tối ở Bangkok, anh đã nói sơ
qua cho tôi nghe về công ty của vợ chồng anh. Nhưng thực sự lúc đó tôi chỉ hình
dung đến một công ty với dăm chục mét vuông diện tích và một tấm biển như mọi
tấm biển của các công ty trách nhiệm hữu hạn mọc lên như nấm ở Hà Nội thời đó.
Buổi chiều
ấy tôi không ghé vào thăm anh. Và cũng phải một tuần sau tôi mới đến được. Lúc
đó, tôi cũng chỉ nghĩ đến thăm một người đồng hương mà tôi đã cùng ăn tối trong
một nhà hàng sang trọng ở Bangkok.
Khi nhìn thấy tôi, anh nói như chúng tôi đã quen thân nhau từ lâu lắm rồi:
“Tưởng ông cóc đến. Bọn văn thơ các ông là kênh kiệu và hay hứa lắm”. Hôm đó,
anh dẫn tôi đi thăm văn phòng làm việc của anh. Sau buổi chiều đó, tôi mới biết
một chút ít về anh trong thế giới của những triệu phú đô la từ những tám mươi
của thế kỷ trước ở Việt Nam
này.
Thi thoảng
tôi lại ghé thăm anh. Chúng tôi ngồi nói với nhau đủ thứ chuyện. Có lúc anh ăn
mặc như một quý tộc và mang Mercedez đón tôi uống cà phê ở Metropol, có lúc lại
ăn mặc giản đơn như một công chức cạo giấy ở Hà Nội rủ rê tôi ngồi vỉa hè ăn
chân vịt nướng. Một hôm, anh nói với tôi rằng sẽ kể cho tôi nghe câu chuyện về
đời anh và những sự thật trong đời sống thương trường ở Việt Nam. Nhưng rồi
anh lại gọi điện cho tôi và nói: “Tôi không kể nữa, đang còn trẻ thế này mà đã
định hồi ký về cuộc đời có khi lại ra đi sớm. Nhiều việc lắm. Chưa chết được”.
Và thế là câu chuyện về cuộc đời và những bí mật thương trường Việt Nam của một
triệu phú đô la đã không được kể lại.
Quê quán của
Đỗ Công Sơn là Đông Lỗ thuộc huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Tây. Đây là nơi nổi tiếng về
nghệ thuật nấu thịt chó. Lần nào tôi về làm việc ở Ứng Hòa cũng đều được chiêu
đãi món thịt chó Đông Lỗ nổi tiếng. Đó là một làng quê thuộc chiêm trũng nghèo
nàn.
Đỗ Công Sơn
sinh ra ở Hà Nội nhưng lên năm tuổi thì anh được đưa về quê và sống ở đó hết cả
tuổi thơ ấu của mình. Một ngày đông giá lạnh, một người đàn bà trẻ cõng một đứa
bé năm tuổi về vùng quê đói nghèo ấy và nói: con ở nhà với ông bà để mợ đi chợ,
rồi mợ lại về với con. Nhưng rồi người đàn bà ấy không trở về nữa. Đứa bé năm
tuổi ấy chiều chiều vẫn ra ngõ trong những cơn đói lả chờ mẹ. Đứa bé năm tuổi ấy
là Đỗ Công Sơn và người đàn bà ấy là người sinh ra anh. Mẹ anh đã yêu một người
đàn ông khác và rời bỏ cha anh.
Đỗ Công Sơn
luôn luôn là một người đàn ông của lý chí và nguyên tắc. Nếu không lý chí và
nguyên tắc như thế, thì anh không thể làm được những điều kỳ lạ sau này. Nhưng
những lúc nói về năm tháng ấu thơ, thì lúc nào tôi cũng nhận thấy một đám mây
nặng và buồn trôi qua mắt anh. Dù sau này lớn lên anh đã thấu hiểu sự quyến rũ
ma quái của ái tình.
Lên bảy
tuổi, anh phải tham gia lao động như một người lớn. Anh phải đi nhổ mạ, cắt rạ,
cào cỏ, rồi mò cua, bắt ốc. Anh kể rằng anh thường dậy rất sớm để đi móc cua.
Vì lúc đó còn bé nên mỗi khi cúi xuống thọc tay vào hang cua là mặt anh chạm bờ
ruộng và đôi lúc chạm vào cả phân của một người nông dân đi làm sớm. Có lần anh
đã òa khóc một mình trên cánh đồng buổi sớm. Khóc trong nỗi tủi thân, trong nỗi
cô đơn và trong đói rét. Ngày ấy, hầu hết các gia đình ở nông thôn Việt Nam đều đói
rét.
Anh kể trong
những bữa cơm, nếu anh đưa bát xin xới cơm lần thứ ba, thì chắc chắn anh bị bà
cô lấy gót chân day mạnh vào những ngón chân anh. Nhưng vì đói quá mà anh đã
từng không chịu rút tay lại. Đói quá có lúc anh đã đốt rơm để hơ chiếc chai
đựng mỡ lợn chảy ra để húp. Lửa nóng quá làm chiếc chai bị vỡ toang và cả cục mỡ
trong chai rơi xuống bếp tro.
Anh nói suốt
tuổi thơ mình, anh cùng những đứa trẻ thôn quê suốt ngày lùng sục những gì có
thể ăn được. Lần nào nói chuyện với anh kể cả lúc đang vui nhất và ở một chốn
sang trọng nhất, thì tôi vẫn thấy một đám mây nặng và buồn trôi qua mắt anh.
Cái đói rét của những năm tháng xa xưa không bao giờ rời bỏ anh trong ký ức.
Chính đó là lý do ngày đêm cháy trong lòng anh khao khát làm giàu. Anh thường
nói với tôi: một người nghèo sẽ suốt đời mang theo nỗi nhục và một đất nước nghèo
cũng mang theo nỗi nhục. Sự đói rét đã bám theo anh và vô tình thúc giục anh
hãy thoát khỏi nó.
Năm 16 tuổi,
anh đến thăm cha mình lúc đó đang làm Giám thị ở một trại cải tạo của Bộ Nội vụ
(bây giờ là Bộ Công an) ở Hà Tây. Khi anh cùng cha mình đi qua một khu vực mà
các phạm nhân đang lao động thì có một phạm nhân già nhìn anh không chớp mắt.
Cha anh đã nhìn thấy ánh mắt không bình thường của phạm nhân kia thì vội kéo
anh đi.
Nhưng phạm
nhân già đó nói với cha anh hãy cho ông ta nhìn lại anh một lần nữa vì ông ta
muốn nói với người cha một bí mật của đứa con trai ông. Sau một chút lưỡng lự,
Cha Đỗ Công Sơn đã dẫn anh lại trước phạm nhân gìa kia. Phạm nhân gài nhìn Đỗ
Công Sơn một lúc rồi nói: “Thưa cán bộ, cậu nhà sẽ trở thành một trong những
người giàu có nhất nước này”. Anh không hề để ý đến chuyện đó. Còn cha anh thì
tỏ một chút khó chịu và kéo tay anh đi.
Khi lớn lên,
Đỗ Công Sơn làm nghề lái xe cho Du lịch Việt Nam. Anh là một trong những chuyên
gia về xe hơi nổi tiếng cả trong Nam ngoài Bắc. Dù trùm kín bất cứ
chiếc xe hơi nào và cho nổ máy thì anh cũng vẫn biết chiếc xe đó là hãng nào,
mới hay cũ và đang có bệnh gì. Những gara nổi tiếng đều biết tên anh. Anh có
một thời gian dài làm nghề buôn bán xe hơi cũ.
Nhưng làm
mãi vẫn chẳng thấy dấu hiệu trở thành một người giàu. Một lần, anh lái xe cho
một tỷ phú Hongkong mà anh cũng không biết. Ông tỷ phú này sang Việt Nam tìm mối làm
ăn. Sau gần hai tuần ở Việt Nam,
ông tỷ phú buồn rầu trở về Hongkong vì chuyến đi của ông chẳng đạt được kết quả
gì.
Trước khi về,
ông tặng anh 100 USD vì đã làm việc nhiệt tình và chu đáo cho ông. Mang 100 USD
về nhà. Anh dùng đèn soi mãi tờ 100 USD mà không dám tin người ta lại có thể
cho anh một số tiền lớn đến như thế. Nhưng rồi chuyện 100 đô la của ông tỷ phú
kia cũng dần dần trôi vào quên lãng.
Nhưng vào
một ngày của một năm sau, một người đến tìm anh. Khi đó, vợ chồng anh đang sống
trong một ngôi nhà chừng mười mét vuông ở phố Bà Triệu. Người đến tìm anh nói
với rằng cái ông tỷ phú người Hongkong kia đã quay trở lại Việt Nam và mong
muốn tìm lại anh. Đỗ Công Sơn theo người đàn ông đến khách sạn để gặp ông tỷ
phú mà không biết có chuyện gì.
Tôi xin chưa
kể ngay cuộc gặp gỡ giữa Đỗ Công Sơn và ông tỷ phú người Hongkong. Bởi tôi đang
nhớ tới câu chuyện về ngôi nhà của anh ở phố Bà Triệu. Khi anh còn đang ở trong
ngôi nhà đó thì thi thoảng cậu con trai của một người hàng xóm hay đến đứng đái
trước cửa nhà anh. Anh sang gặp người hàng xóm và nói về chuyện đó. Hình như
hai người có to tiếng với nhau.
Mấy ngày
sau, người hàng xóm sang hỏi mua ngôi nhà của anh. Đỗ Công Sơn ngạc nhiên hỏi
vì sao anh ta có ngôi nhà đàng hoàng như thế lại hỏi mua cái cơ ngơi bằng lỗ
mũi của mình. Người hàng xóm trả lời: “Tao mua để lấy chỗ cho con tao đái”. Một
nỗi cay đắng và tủi nhục tràn ngập lòng anh.
Đỗ Công Sơn
nói: “Tôi không khóc. Hình như tôi đã khóc hết nước mắt trong tuổi thơ mình
rồi. Nhưng tôi thấy nhục. Một trong những lý do để anh ta nói câu đó chỉ vì anh
ta nhìn thấy tôi ở trong một ngôi nhà quá ư tội nghiệp trong khi anh ta là một
người khá giả”.
Thế rồi sau
bao năm lao động hết mình, Đỗ Công Sơn đã đến gặp người đàn ông hàng xóm đặt
vấn đề mua ngôi nhà của anh ta. Khi nghe anh nói, người hàng xóm im lặng cúi
mặt. Tôi có cảm tưởng anh ta đang đợi một câu nói tương tự từ Đỗ Công Sơn như
anh ta đã nói với Đỗ Công Sơn mười mấy năm trước đó. Nhưng Đỗ Công Sơn bảo: “
Tôi muốn mua ngôi nhà của anh để mở rộng công ty. Tôi trả anh một cái giá xứng
đáng”. Tôi biết anh nói vậy là cách nói tế nhị của anh mà thôi.
Nếu anh cũng
nói với người hàng xóm là anh mua lại cái nhà đó cho con trai anh đái, thì anh
sẽ khó lòng mà mua được. Và Đỗ Công Sơn đã mua được ngôi nhà đó. Một người bạn
tôi khi nghe câu chuyện này đã bình luận: “ Đồng tiền đã đánh bại được danh dự
con người. Ví dụ ông Sơn trả một tỷ mà người hàng xóm không bán, thì ông Sơn
trả ba tỷ. Nếu ba tỷ vẫn không mua được thì 5 tỷ sẽ mua được”. Bây giờ nếu đi
qua phố Bà Triệu, bạn có thể nhìn thấy Công ty Vinh Hạnh với một tòa nhà lớn.
Và đối diện tòa nhà đó ở bên kia đường cũng là một dãy nhà sang trọng của gia
đình anh.
Giờ tôi xin
quay lại với cuộc gặp gỡ giữa Đỗ Công Sơn và ông tỷ phú người Hongkong. Khi gặp
lại ông khách người Hongkong kia, Đỗ Công Sơn hỏi anh có thể giúp ông ta được
việc gì. Ông tỷ phú người Hongkong trả lời là ông cũng chưa biết phải nhờ anh
giúp cái gì. Nhưng trước khi trở lại Việt Nam để tìm kiếm cơ hội làm ăn, ông
tỷ phú người Hongkong có nhờ một thầy tử vi người Hoa xem giúp. Thầy tử vi
người Hoa khuyên ông nếu muốn làm ăn thành công ở Việt Nam thì hãy tìm gặp lại một người lái xe ở Việt Nam đã giúp ông ta trong chuyến đi đầu của ông
ta tới Việt Nam
một năm trước đó. Nếu không gặp được người đó thì coi như thất bại.
Bởi thế mà
ông tỷ phú người Hongkong đã đến Du lịch Việt Nam và bằng mọi cách nhờ người
tìm được Đỗ Công Sơn. Và ông tỷ phú người Hongkong đã thành công với những dự
án kinh tế ở Việt Nam. Cũng từ việc đó, con đường kinh doanh của Đỗ Công Sơn
bắt đầu lật sang một trang mới.
Phần
II
Tháng 5 năm
1990, thời gian mà Việt Nam
vẫn nằm trong chính sách cấm vận của Mỹ, có một sự kiện “động trời” xẩy ra:
chiếc Boeing đầu tiên của Hãng Hàng không TEA Thụy Sỹ đã xuyên qua hàng rào cấm
vận của Mỹ hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất, Việt Nam.
Bay
qua thế giới vàng
Nếu ai đã
sống trong thời kỳ cấm vận ấy thì mới thấy hết sự kỳ vĩ của sự kiện này. Làm
thế nào mà Việt Nam lại đưa được chiếc máy bay khổng lồ ấy hạ cánh xuống Việt
Nam, vượt qua một hàng rào kiểm soát phục vụ cho chính sách cấm vận của Mỹ vô
cùng ngặt nghèo?
Kỳ vĩ thay,
người đưa chiếc Boeing ấy về Việt Nam là một người còn khá trẻ, năm
đó anh vừa bước qua tuổi 40. Đó chính là Đỗ Công Sơn, Giám đốc một Công ty
Trách nhiệm hữu hạn hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, có trụ sở trên đường Bà
Triệu. Báo chí hồi đó đã viết rất nhiều về sự kiện này và cho đó là chiến thắng
lớn của Việt Nam
cả về kinh tế lẫn ngoại giao. Sự kiện đó gián tiếp gửi đi một thông điệp rằng:
lệnh cấm vận của Mỹ đã bắt đầu mất hiệu lực.
Nhưng thực
ra đó không phải là chiếc Boeing đầu tiên bay về Việt Nam. Trước đó,
chiếc Boeing 737200 của một hãng hàng không Hà Lan đã cất cánh để bay về Việt
Nam. Khi Đỗ Công Sơn và ông Chủ tịch Hãng hàng không Con rồng vàng của Hongkong
vừa đưa chiếc Boeing này hạ cánh xuống sân bay Quốc tế Bangkok, Thái Lan để sau
đó bay về Việt Nam, thì Hà Lan nhận được thông báo của Mỹ: nếu Hà Lan không cho
chiếc Boeing 737200 quay trở lại Hà Lan thì toàn bộ đường bay của các Hãng hàng
không Hà Lan đến Mỹ sẽ bị cắt bỏ hoàn toàn.
Ngay đêm hôm
đó, chiếc Boeing 737200 lặng lẽ cất cánh rời đường băng sân bay quốc tế
Bangkok, Thái Lan quay trở về Hà Lan. Còn Đỗ Công Sơn một mình xách cặp buồn bã
trở về Việt Nam.
Khát vọng về những chiếc Boeing mang nhãn hiệu Hàng không Việt Nam coi như bị
dập tắt.
Sau này tôi
biết chuyến bay của chiếc Boeing 737200 là một chuyến bay đầy bất trắc. Chiếc
Boeing đã bay qua vùng vịnh vào thời điểm cuộc chiến tranh khốc liệt nhất. Bất
kỳ một quả tên lửa nào cũng có thể lao thẳng vào chiếc Boeing. Tôi hiểu tâm
trạng này vì tôi cũng đã sống trong một hoàn cảnh tương tự. Trước khi Mỹ tấn
công Kabul 3 ngày, nhà văn, nhà báo Nguyễn Như
Phong và tôi lên đường đi Pakistan
để viết về cuộc chiến này. Trước khi đi, có người đã công khai tuyên bố: “Thằng
Phong và thằng Thiều sẽ không còn cơ hội quay về Việt Nam nữa”. Nhưng
tôi vẫn đi. Vì tôi là một nhà báo và tôi là một người thích mạo hiểm. Tôi chấp
nhận mọi điều có thể xẩy ra.
Chuyến bay
từ Bangkok đi Pakistan vào lúc 8 giờ tối chỉ có Như Phong và tôi là người nước
ngoài. Tất cả hành khách còn lại là người Hồi giáo Pakistan. Chiếc máy bay lặng lẽ bay
vào vùng chiến sự. Mọi hành khách im lặng. Tôi mang cảm giác đang bay qua vùng
chết. Không ai nói trước được điều gì sẽ có thể xảy ra. Giữa đêm, chúng tôi hạ
cánh xuống sân bay Lahor ở miền trung Pakistan. Sân bay ngập tràn lính,
súng lăm lăm và những boongke bao tải cát đã được dựng lên.
Đỗ Công Sơn
kể với tôi khi chiếc Boeing đáp xuống một sân bay ở vùng Vịnh thì giá vàng ở đó
giảm xuống chưa từng thấy (giảm khoảng 50% đến 60% so với giá thị trường thế
giới). Anh nói chỉ cần đưa Master Card quét một cái là có thể mang về một khối
lượng vàng lớn. Anh có đủ tiền để mua vài trăm ki lô vàng. Nếu mang được từng
đó vàng về Bangkok
bán, bạn thử hình dung xem anh lãi được bao nhiêu? Anh đã đứng trước “thế giới
vàng” ấy và chợt nhớ đến câu chuyện cổ tích về một người quá tham lam lấy nhiều
vàng và bị rơi xuống biển vì con chim chở anh ta không đủ sức. Cuối cùng anh
chỉ mua một ít trang sức cho người thân và trở về.
Đỗ Công Sơn
nói với tôi, trong nghề kinh doanh nhiều lúc người ta thành công là nhờ những
vận may lạ kỳ. Anh là người luôn luôn nhận ra tín hiệu của những vận may và
luôn tìm cách tận dụng những vận may đó. Đó là khả năng quan sát và phân tích
rất quan trọng của những người kinh doanh. Nhưng trong vụ “vàng” ở vùng Vịnh,
anh đã phải bước qua vận may đó. Anh nói: “Sau cái màu vàng lấp lánh uy lực kia
có thể là cái chết”.
Vụ đưa chiếc
Boeing 737200 về Việt Nam
không thành đã làm cho Hãng Hàng không Hà Lan tốn hàng trăm ngàn đô la. Và Đỗ
Công Sơn tốn dăm bảy tháng trời cho công việc ấy. Nhưng chỉ sau đó ít tuần, ý
chí đưa Boeing về Việt Nam
lại thúc giục anh lên đường. Anh lại một mình bay đi Thụy Sỹ để đàm phán đưa
chiếc Boeing 767 của Hàng Hàng không TEA Thụy Sỹ về cho Việt Nam. Chuyến ra
đi ấy cũng chẳng cho anh một hứa hẹn gì. Nhiều người khuyên anh từ bỏ việc đó.
Nhưng anh vẫn quyết chí theo đuổi.
Một lần anh
nói với tôi: “Ông ạ, nếu không dám vượt qua cái hố sâu này thì không dám vượt
qua cái hố sâu khác. Kinh nghiệm cho tôi thấy rằng: cuộc đời là những cái hố
sâu liên tiếp ở trước mặt”. Có phải do ý chí như thế mà anh từ một cậu bé móc
cua, từ một người sống trong ngôi nhà khoảng 10 mét vuông mà có kẻ đòi mua để
cho con anh ta đái đã trở thành một trong những triệu phú đô la ở Việt Nam
không(?)
Và Đỗ Công
Sơn đã đến Thụy Sỹ. Chủ tịch Hãng Hàng không TEA đã hết lòng với anh. Hầu như
mọi yêu cầu của anh đều được ông chấp nhận. Ông từng nói với Đỗ Công Sơn: “Tôi
yêu dân tộc anh vì tôi yêu anh và tôi ủng hộ anh vì tôi ủng hộ dân tộc anh”. Cả
hai người cùng những người liên quan khác ở cả hai phía chuẩn bị cho việc đưa
chiếc Boeing 767 về Việt Nam
trong sự lo âu và hồi hộp.
Phía Mỹ lại
biết được kế hoạch đưa chiếc Boeing 767 về Việt Nam và tìm cách chặn đứng kế hoạch
đó. Ông Chủ tịch Hàng Hàng không TEA đã đâm đơn kiện Mỹ lên Liên Hợp Quốc vì
Hãng Hàng không của ông là một Hãng tư nhân. Theo luật, Mỹ không có quyền can
thiệp vào sự hợp tác giữa nước bị cấm vận với các Hãng tư nhân trên thế giới.
Ông Chủ tịch đã thắng cuộc sau khi tốn khá nhiều tiền cho việc kiện tụng.
Đỗ Công Sơn
là người giao du rất rộng trên thế giới. Một trong những cựu Thủ tướng Australia coi
ông như một người bạn, một người em. Lúc nào sang Australia, ngài cựu Thủ tướng chẳng
bao giờ chịu cho Đỗ Công Sơn ở khách sạn mà bắt anh về ở trong khu biệt thự
rộng lớn và thơ mộng của mình. Rồi các tỷ phú ở Mỹ, Đức, Hongkong, Singapore…
Nhưng trong
những người nước ngoài quen biết anh, tôi lại rất nhớ Tom Nova, một tiến sỹ
triết học người Đức, một hoạ sỹ và là một… lái xe đặc biệt của Đỗ Công Sơn. Lái
xe ở đây không phải là người lái xe như ở Việt Nam. Theo cách gọi của Đỗ Công
Sơn thì đây là một kẻ nhiều ý tưởng kỳ lạ và có khả năng nhớ đường như một “con
ma”. Mỗi khi anh đi nước ngoài, đặc biệt là Mỹ, thì Tom sẽ bay đến Mỹ để lái xe
cho anh.
Tom đã có
bằng tiến sỹ triết học, nhưng anh không đi dạy mà chỉ thích ở nhà viết sách và
đứng vẽ ở những khu phố cổ ở thủ đô Đức. Tom thích tự do. Với Tom chỉ cần kiếm
đủ tiền sinh sống và mua màu để vẽ là mỹ mãn. Tom nói với tôi rằng anh muốn Đỗ
Công Sơn trở thành tỷ phú đô la còn cá nhân anh lại chống lại việc trở thành tỷ
phú.
Tom nói trên
đời mệt nhất là những người có nhiều tiền. Với Tom, hành xử với đồng tiền là
một việc khó nhất. Tôi đã uống cà phê với Tom ở Việt Nam và đã ngồi trên xe do anh lái ở
Mỹ. Đó là năm 2003, tôi đang làm việc ở Mỹ thì Đỗ Công Sơn sang Mỹ chữa bệnh ở
đúng thành phố tôi đang ở. Anh bảo Tom đi tìm tôi. Chúng tôi chạy xe lang thang
và nói đủ chuyện.
Và tôi phát
hiện bố Tom là một triệu phú sống ở Mỹ. Nhưng hai cha con không thể nào chia sẻ
những ý tưởng và khát vọng trong cuộc sống với nhau được. Một người khát vọng
có đầy ắp tiền trong nhà băng còn một người đam mê đứng vẽ từng bức tranh nhỏ ở
một khu phố cổ quê hương mình và rất hạnh phúc nhận 20 mác cho một bức tranh
nhỏ từ một khách du lịch.
Tom không
thích những tỷ phú nhưng tại sao lại yêu Sơn và muốn Sơn trở thành tỷ phú đô
la. Tôi đã hỏi Tom như thế và anh trả lời: “Tôi không thích các triệu phú hay
tỷ phú, nhưng tôi thích con người Sơn, thẳng thắn và hài hước, dũng cảm và lãng
mạn. Một lý do khác mà tôi thích Sơn trở thành tỷ phú vì tôi muốn Việt Nam cần
có thật nhiều tỷ phú đô la, vì Việt Nam đã phải chịu đựng chiến tranh và nghèo
đói lâu quá rồi”.
Và tháng 5
năm 1990, Đỗ Công Sơn ngồi im lặng trên chiếc Boeing 767 rời đường băng của một
sân bay quốc tế ở Thụy Sỹ, nơi mà sau này, Đỗ Công Sơn trở lại để bước vào cuộc
đấu loại trực tiếp với Thần chết.
Phần
III
Năm 2000, Đỗ
Công Sơn mời cựu đại sứ Việt Nam
tại Pháp Trịnh Ngọc Thái và tôi tham gia một chuyến đi miền Trung. Đầu tiên tôi
từ chối không đi vì có việc. Nhưng anh nói là cần có tôi trong chuyến đi này.
Tôi chẳng biết đó là chuyện gì. Việc không biết mục đích chuyến đi đã kích
thích máu làm báo của tôi. Chúng tôi lên đường vào miền Trung sau khi vùng đất này bị
một trận lũ lớn gây nhiều thiệt hại.
Thi thoảng
chúng tôi dừng lại trước một làng ven đường đi. Một nhân viên của anh mang
xuống một thùng các-tông nhỏ và mở ra. Tất cả là tiền mặt. Và đều là loại tiền
10.000 đồng. Các nhân viên lấy tiền mặt ra và đến các nhà dân để tặng họ. Đấy
là cách làm từ thiện của anh. Cho đến lúc này tôi mới bắt đầu hiểu mục đích của
chuyến đi.
Trên đoạn
đường đi tiếp đến Huế, anh hỏi tôi có quen ai ở thành phố không. Tôi có rất
nhiều người quen ở đó. Đỗ Công Sơn nói với tôi hãy nhờ một người quen của tôi
để tìm một làng ở ngoại ô thành phố Huế bị thiệt hại nặng nhất. Tôi đã gọi cho
nhà văn Tô Nhuận Vỹ. Lúc đó nhà văn Tô Nhuận Vỹ đang là Giám đốc Sở Ngoại vụ
Huế sau khi ông thôi giữ chức Chủ tịch Hội văn học Nghệ thuật Huế. Ông đã chỉ
cho chúng tôi biết một địa chỉ mà chúng tôi muốn đến. Khi gần đến làng, Đỗ Công
Sơn nói với tôi là anh muốn giúp đỡ dân làng một việc gì đó.
Chúng tôi
đến ngôi làng bé nhỏ và nhận ra tàn tích của trận lụt trước đó hơn một tháng.
Hôm đó cả cựu đại sứ Trịnh Ngọc Thái và Đỗ Công Sơn đều nhất trí bầu tôi làm
phát ngôn viên của đoàn. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi có “chức vụ”. Chúng
tôi gặp chính quyền địa phương và nhờ mời giúp một số bô lão của làng đến để
chúng tôi thưa chuyện. Chính quyền địa phương vô cùng ngỡ ngàng và không hiểu
có chuyện gì. Khi các bô lão có mặt, tôi nói với họ là chúng tôi muốn giúp họ
một chút gì đó sau những thiệt hại của cơn lũ. Sau những phút ngạc nhiên và rụt
rè, các bô lão nói họ chỉ muốn có tiền để xây lại một trường mẫu giáo để có nơi
trông giữ những đứa trẻ cho ba má chúng đi làm. Ngôi trường cũ đã bị lũ tàn
phá. Tôi hỏi họ cần bao nhiêu tiền để xây lại ngôi trường đó. Khoảng ba trăm
triệu đồng. Đỗ Công Sơn nhìn tôi gật đầu.
Chúng tôi
chuyển ba trăm triệu tiền mặt cho các bô lão và chỉ xin lại một tờ biên nhận
viết trên một tờ giấy học sinh. Đỗ Công Sơn cũng nói thêm với các bô lão nếu
sau này cần gì cho những đứa trẻ như đồ chơi chẳng hạn thì cứ viết thư cho anh.
Sau này Đỗ Công Sơn nói với tôi vì sao anh chỉ muốn trao tiền trực tiếp cho các
bô lão. Vì anh đã nghe nhiều chuyện không hay về việc sử dụng tiền tài trợ của
nhân dân giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Ngay sau chuyến đi miền Trung về, Đỗ
Công Sơn vội lên đường đi Mỹ. Anh cảm rất mệt và đau. Bởi lúc đó, anh đang mang
trong mình căn bệnh hiểm nghèo: ung thư.
Khoảng mười
năm trước các bác sỹ bệnh viện Bạch Mai đã thông báo cho anh một cái tin kinh
hoàng: anh bị ung thư tụy. Đỗ Công Sơn trở về và thông báo cho toàn bộ gia đình
và công ty anh. Tất cả mọi người đã khóc. Vì lúc đó anh còn quá trẻ và công
việc anh theo đuổi đang rất thuận lợi. Các bác sỹ bắt buộc phải thông báo cho
anh biết anh chỉ có thể sống khoảng sáu tháng nữa mà thôi. Sau những ngày
choáng váng, anh quyết định nhận lời thách đấu của Thần chết. Đỗ Công Sơn quyết
định bay đến Thụy Sỹ để phẫu thuật. Thụy Sỹ là nơi anh đã mang chiếc Boeing đầu
tiên về cho Việt Nam
với muôn vàn khó khăn. Nhưng chẳng có khó khăn nào lớn hơn khó khăn phải đấu
loại trực tiếp với Thần chết. Nói điều này thật là chuyện hài hước.Trước khi
lên bàn phẫu thuật, anh âm thầm nuôi ý chí mình phải thắng trong trận này.
Các chuyên
gia ung thư Thụy Sỹ đã giúp anh vượt qua thử thách đầu tiên. Nhưng họ cũng
thông báo cho anh rằng: trong cuộc đấu này, anh không thể trụ nổi hai năm.
Nhưng anh đã vượt qua từng trận đấu một với Thần chết từng năm một. Hai đấu thủ
không một lúc nào rời nhau. Ba năm, năm năm, rồi mười năm…Hàng năm anh vẫn phải
bay sang Mỹ để chữa bệnh. Sau mỗi lần trở về, tóc anh rụng không còn một sợi
nào. Anh nằm bệt giường. Nhưng cứ thấy bạn bè đến là anh gắng gượng dậy và lại
bắt đầu kể những câu chuyện hài hước. Và khi cảm thấy bớt mệt mỏi, anh lại lao
vào công việc.
Có lần tôi
thấy anh định đập vỡ điện thoại di động của một người anh họ đang làm việc cho
anh. Anh nói: “Trong giờ làm việc thì anh là nhân viên của tôi. Anh phải phục
tùng tôi. Còn sau giờ làm việc thì anh sai tôi giặt quần cho anh tôi sẽ phải
giặt”. Có lẽ với kỷ luật đó anh mới có thể đưa công ty của anh đến được như
ngày nay. Bởi theo anh, trong công việc nói chung và trong kinh doanh nói
riêng, nếu rời nguyên tắc, nếu để kỷ luật lỏng ra đến đâu thì thất bại ùa vào
đến đó.
Tôi vẫn
thường nói về một thành công vô cùng quan trọng của Đỗ Công Sơn. Đó không phải
là chuyện tiền bạc. Đó chính là chuyện nuôi dạy con cái. Anh có hai đứa con.
Tôi là người có lẽ đã già nên luôn luôn bị một suy nghĩ rất không hay ho gì ám
ảnh. Đó là cứ nhìn con của những gia đình quá giàu có là tôi lại thường nghĩ
đến thuốc lắc và ma túy.
Nhưng một
ngày, tôi đang ngồi uống trà với anh thì vợ anh đưa cho anh lá thư điện tử của
con trai anh đang học ở Mỹ gửi về mà chị mới in ra. Anh đọc lá thư và đưa cho
tôi xem. Đó là thư cậu con trai xin phép bố cho cậu mua một đôi giày mới. Cho
đến bây giờ tôi vẫn thi thoảng suy nghĩ về lá thư đó. Một cậu con trai học ở Mỹ
nhiều năm và cậu luôn có trong tài khoản cá nhân của mình một khoản tiền không
nhỏ nhưng vẫn phải viết thư cho cha mình để xin phép khi tiêu một khoản tiền
nào đó.
Hồi đó, con
trai anh đang học Đại học Stanford, một trong vài trường đại học danh giá nhất
nước Mỹ. Theo tôi biết, đây là trường đại học mà có tiền cũng không phải dễ
vào. Đã nhiều lần anh nói với con trai mình rằng nếu học xong đại học ở Mỹ mà
không có khát vọng trở về Việt Nam
thì việc học hành coi như chẳng có ý nghĩa gì. Anh nói với con: “Nếu không trở
về Việt Nam
thì con chẳng có gì từ gia đình này cả ”.
Khi Đỗ Công
Sơn vượt qua năm thứ mười của cuộc đấu với Thần chết thì chính các bác sỹ ung
thư của Mỹ cũng ngạc nhiên. Họ nói, với căn bệnh như vậy mà anh vẫn trụ được
một thời gian dài như thế quả là một sự kỳ lạ. Trong thời gian đó, có lúc sức
khỏe anh chìm hẳn xuống. Nhưng tôi không thấy anh tỏ ra lo sợ. Anh nói với tôi
có những việc trên đời này là do số phận sắp xếp, còn sự cố gắng chỉ cộng thêm
một phần. Nhưng đối với tôi, nỗi ám ảnh đói rét của anh là có thật, cuộc chạy
trốn khỏi nghèo hèn của anh là có thật và ý chí vượt qua bệnh tật là có thật.
Từng đó cũng đủ cho chúng ta nói một điều gì đó.
Nhưng đến
năm thứ 13 thì anh không còn đủ sức cho cuộc đấu với Thần chết. Chẳng ai thắng
được Thần chết. Nhưng anh đã không gục ngã nhanh chóng. Anh đã chiến đấu bền bỉ
suốt 13 năm với căn bệnh hiểm nghèo. Anh trút hơi thở cuối cùng trong ngôi nhà
ở phố Bà Triệu. Thưa bạn đọc, tôi đang viết về anh trước hết là viết về một
người bạn, một người đồng hương, viết về một người đã khuất, một người làm được
những việc mà tôi không bao giờ làm được cho dù việc đó chỉ là cho gia đình anh
chứ chưa nói đến cho xã hội một điều gì đó.
Trước khi
mất, anh nói với vợ anh những ý nguyện cuối cùng. Một trong những ý nguyện đó
là người viết điếu văn tiễn anh phải là Nguyễn Quang Thiều và người đọc điếu
văn đó là Phạm Sơn Dương (Anh Dương là con trai của cố thủ tướng Phạm Văn
Đồng). Vì sao? Vì đó là hai người bạn của anh. Giờ đây anh đã trở về yên nghỉ
trên cánh đồng lúa Đông Lỗ quê hương anh, nơi ngày xưa anh từng khóc trong đói
rét và trong cô đơn…
Phần
cuối
…“Toàn bộ
tài sản chị có cũng không đủ bảo hiểm cho hạnh phúc của các con chị. Bởi hạnh
phúc được tạo thành bởi biết bao nhiêu điều mà trong đó có rất nhiều điều rất
mơ hồ. Mà đôi khi, chính những điều mơ hồ ấy lại mang hạnh phúc đến hoặc cướp
đi hạnh phúc của con người…”
Khi anh Đỗ
Công Sơn trút hơi thở cuối cùng thì cũng là lúc chị Trần Thị Lan Hương trở
thành người đàn bà góa bụa. Cuộc sống có những điều thay đổi nhanh như một cái
chớp mắt. Hơn một năm sau ngày Đỗ Công Sơn mất tôi mới trở lại ngôi nhà của anh
ở phố Bà Triệu. Bây giờ nỗi đau trong chị đã với đi một chút. Nhưng chị vẫn ứa
nước mắt khi nhớ lại lời anh dặn chị trước khi mất: “Đừng chôn của cải gì theo
anh!”
Chị bảo anh
sợ một kẻ nào đó nghĩ anh giàu có sẽ chôn của cải theo mà sinh lòng tham rồi
đào bới phần mộ anh. Chị nói mãi với tôi rằng anh đã làm ra bao nhiêu thứ nhưng
khi đi chẳng mang theo thứ gì. Mặc dù chị biết rằng khi chết chẳng ai cần mang
theo của cải vật chất có trên cuộc đời này nữa và lời anh dặn cũng làm chị lo
sợ. Nhưng chị vẫn không sao từ bỏ được nỗi đau khổ rằng anh dựng lên một cơ
ngơi không tưởng tượng được lại ra đi với hai bàn tay trắng.
Trong những
ngày tháng cuối đời, anh luôn nhắc chị khi anh mất hãy mang anh về quê. Và chị
đã thực hiện ước nguyện của anh. Thửa ruộng nơi họ hàng anh đào huyệt mộ cho
anh ướt nhão. Cảnh đó ngược lại với nơi anh ở và làm việc khi còn sống. Nhưng
đó là con đường mà mỗi người sinh ra trên thế gian này phải đi. Chúng ta sinh
ra từ hư vô và trở về với hư vô. Mọi của cải, mọi sang hèn, mọi đúng sai lúc đó
chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Mọi ý nghĩa chỉ để lại cho người còn sống mà thôi. Đó
là việc suy ngẫm về người đã khuất và nỗi thương nhớ dành cho họ.
Anh ra đi để
lại cho chị một núi công việc. Ngày đó, có lúc tôi băn khoăn tự hỏi, chị sẽ
gánh vác công việc như thế nào? Tôi không biết nhiều lắm về công việc của công
ty gia đình chị. Tôi chỉ nhìn thấy bằng mắt những gì gia đình này làm được mà
thôi. Nhưng chỉ công việc tôi biết thì tôi thấy đã quá sức rồi. Một năm sau khi
anh mất, chị định đóng cửa khu Resort “khổng lồ” của gia đình chị ở Hòa Bình.
Chị không đủ sức quản lý và điều hành ư? Tôi đã hỏi chị như vậy. Nhưng lý do
không phải thế. Lý do là chị sợ xuất hiện nhiều ở khu du lịch sinh thái ấy của
gia đình chị. Hàng tuần, có rất nhiều khách du lịch đến V Resort nghỉ ngơi.
Trong những
người khách ấy hầu hết là những người khá giả và có cả những người quen. Khi
biết chị là bà chủ và chồng chị đã mất, không phải không có những người muốn
bày tỏ sự thân thiện và gần gũi với chị và cũng có cả những người tán tỉnh chị.
Chị cảm thấy sợ hãi khi người này cầm tay, người kia vỗ vai. Chị thấy những
cảnh đó không được phép tiếp tục diễn ra. Mặc dù chị biết rằng đó là những cử
chỉ thân thiện nhưng chỉ không được với mình chị mà thôi.
Nhưng lúc
đó, chị đang trực tiếp cai quản cơ ngơi ấy thì làm sao chị lại không xuất hiện
được. Chị nghĩ, chỉ có cách đóng cửa V Resort thì chị mới không phải rơi vào
những việc mà chị muốn tránh. Nhưng cuối cùng, người chị gái của chị từ Đức bay
về và giúp chị điều hành công việc của V Resort.
Từ ngày anh
mất, chị không bao giờ ngồi uống cà phê hay đi ăn với bất cứ người đàn ông nào
ở bất kỳ quán cà phê hay nhà hàng nào. Những người liên quan đến công việc thì
chị tiếp ở Công ty. Những ai là bạn bè của gia đình chị cũng tiếp ở Công ty.
Trụ sở chính của Công ty cũng là nhà chính của vợ chồng chị. Chị muốn ngồi tiếp
bạn bè của chồng ở nơi mà chồng chị vẫn thường tiếp bạn anh ở đó. Chị nói với
những người đàn ông bạn chồng hãy thứ lỗi cho chị. Chị cảm thấy không làm khác
thế được cho dù người người bạn của chồng chị thật trong sáng và chẳng có một ý
gì khác.
Công việc
của Công ty vẫn duy trì tốt đẹp từ sau ngày Đỗ Công Sơn mất. Chị nói, trước khi
mất, anh dặn đi dặn lại chị đừng làm gì cho vất vả. Anh nói với chị công việc
kinh doanh và chốn thương trường là chốn quá nhiều cạm bẫy và quá nhiều mệt
mỏi. Đàn ông như anh mà nhiều lúc thấy mệt mỏi, thấy sợ hãi và muốn rời bỏ tất
cả chứ nói gì đến một người đàn bà như chị.
Chị chẳng có
ham muốn gì. Tài sản của anh chị đủ cho chị, các con và các cháu chị sau này
sống đàng hoàng. Nhưng chị và các con không thể dừng lại ở những gì mà chồng
chị đang làm. Con trai đầu của anh chị năm nay mới 25 tuổi. Đó là một chàng
trai được học hành chu đáo, được dạy dỗ tử tế và hiểu được khát vọng của cha
mình. Nhưng với 25 năm sống trên cuộc đời này thì chốn thương trường đối với
chàng trai này quả thực là một nơi mà chàng trai chỉ mới hiểu được 1%. Vì ở đó,
không phải là kiến thức về luật pháp, về kinh doanh hay về khách hàng mà là
những thủ thuật sống để có thể tồn tại.
Có người hỏi
chị có nghĩ đến việc đi bước nữa trong cuộc đời hay không? Họ nghĩ thế không có
gì sai. Bởi chị còn trẻ. Bởi chị có quyền trong chuyện ấy. Bởi các con chị đã
lớn và cũng sẽ hiểu được hoàn cảnh của mẹ chúng. Và bởi họ cũng tin rằng nơi
suối vàng, người chồng quá cố của chị cũng muốn chị có một người bạn thương yêu
chị chân thành. Bởi đâu chỉ có công việc, đâu lúc nào con cái cũng bên chị. Rồi
chúng sẽ lấy chồng lấy vợ. Chúng sẽ có một thế giới riêng mà dù chị là mẹ chúng
chị cũng không vào được.
Nhưng chị
nói chị không thể làm được việc đó. Không bao giờ chị làm được việc đó. Không
phải chị cố chứng minh sự thủ tiết của mình, mà theo chị, trái tim chị không
còn rung vang được nữa. Và hơn thế, chị nghĩ rằng chị có thể hy sinh cho các
con chị một lần nữa. Vợ chồng chị đã cho chúng quá nhiều. Nhưng chẳng bao giờ
chị an tâm về chúng. Toàn bộ tài sản chị có cũng không đủ bảo hiểm cho hạnh
phúc của các con chị. Bởi hạnh phúc được tạo thành bởi biết bao nhiêu điều mà
trong đó có rất nhiều điều rất mơ hồ. Mà đôi khi, chính những điều mơ hồ ấy lại
mang hạnh phúc đến hoặc cướp đi hạnh phúc của con người.
Sự lo lắng
cho những đứa con của chị hoàn toàn đúng. Bởi chính tôi là một người đàn ông đã
50 tuổi nhưng chưa bao giờ mẹ tôi cảm thấy yên tâm về tôi. Hầu như cuối tuần
nào tôi cũng về quê sống với bố mẹ tôi. Mẹ thường ngồi rất khuya trò chuyện với
tôi. Và một tối mẹ tôi nói: “Nếu mẹ chết thì còn ai yêu con nữa không?” Đấy là
tấm lòng rộng lớn của những bà mẹ, không phân biệt bà mẹ đó giàu sang hay nghèo
khó.
Tôi xin lỗi
chị viết phần cuối cùng trong câu chuyện dài kỳ này. Chị rất ngại tên mình lên
báo chí. Bởi Công ty chị có cần quảng cáo đâu. Nếu muốn quảng cáo thì họ đã
quảng cáo từ lâu rồi trên bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào họ muốn.
Luật pháp cho các doanh nghiệp quảng cáo mà. Và thực tế các Công ty đã làm như
thế. Nhưng tôi thấy cần viết câu chuyện về vợ chồng chị với những gì tôi biết
để chúng ta biết và suy ngẫm về số phận của những con người và ý chí của họ. Kể
cả những số phận đau đớn và thất bại trong cuộc đời như là một bài học. Và tất
cả chỉ có thế.
Theo Nguyễn
Quang Thiều, Vietnamnet 10/2007
Nguồn do bạn Đỗ Quang Tuấn cung cấp
|