Thơ là sữa của đá
Đỗ
Thị Tấc từ năm lên 3 tuổi đã theo bố mẹ (là công nhân làm đường) phiêu
bạt trên khắp các cung đường của miền núi Lai Châu. Năm 1982, chị tốt
nghiệp Trung cấp Thể dục thể thao và về công tác tại ngành TDTT tỉnh Lai
Châu. Năm 1990, chị làm phóng viên rồi đi học Đại học báo chí. Năm
1996-2001, chị là phóng viên Đài Truyền hình Lai Châu, rồi làm Phó Chủ
tịch và Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh Lai Châu từ năm 2004 đến
nay.
Là
một nhà thơ gắn bó toàn bộ cuộc đời với núi rừng nên thơ chị có những
âm hưởng hoang sơ, hồn nhiên và lấm láp, nhọc nhằn như chắt ra từ đá
sỏi. Chị đã giành được nhiều giải thưởng thơ có uy tín của báo Văn Nghệ,
Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và Hội Nhà văn
Việt Nam.
Năm
2010, gặp nhà thơ Đỗ Thị Tấc ở một quán rượu Hà Nội, tôi hơi bị
“choáng” trước vẻ “nam nhi” phong trần của chị. Áo sơmi nam, quần nam và
áo khoác ngoài phóng viên cũng y trang đàn ông. Chị hút thuốc lào,
thuốc lá và uống rượu như “bổ củi”. Tôi thấy cũng thật có lý khi mấy cây
viết trẻ miền núi (tuổi 8X) thường gọi chị là “bố Tấc” chứ không phải
là “mẹ Tấc”.
Tôi
biết chị đã có 5 con (một con đẻ và bốn con nuôi) nhưng vẫn sống cô đơn
một mình với mẹ già ở huyện Tam Đường, Lai Châu. Ngồi ngắm chị lai rai
uống rượu, hút thuốc, tôi bật cười một mình khi nhớ lại mấy câu thơ Phác thảo chân dung Đỗ Thị Tấc của nhà thơ Trần Nhương:
 |
| Nhà thơ Đỗ Thị Tấc uống rượu ở Hà Nội. |
Tên thì ngắn người thì dài/ Thuốc lào thuốc lá chị sài như anh/ Bây giờ núi đỏ rừng xanh/ Tam Đường một góc nổi danh văn gừng/ Sữa đá mới
thật lạ lùng/ Những người mẹ núi nửa mừng nửa lo/ Cuộc đời bao nỗi cam
go/ Một mình một lái một đò một song/ Đã qua mắt thắm môi hồng/ Lai Châu
là mẹ, là chồng, là ai...?
Giỏi!
Cái bác Trần Nhương khéo miệng ứng khẩu thành “thơ tếu”, chỉ với mười
câu lục bát là đã vẽ được chân dung một nhà thơ nữ tài hoa trứ danh của
vùng Tây Bắc khi nêu được cả tên 2 tập thơ khá nổi tiếng của chị là Sữa
đá (Giải thưởng văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2000) và Những người mẹ núi (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2002).
Được
biết, sau khi xây dựng gia đình ở Lai Châu và đẻ được một đứa con gái,
vì “bố Tấc” thường xuyên phải đi công tác xa nhà, người chồng tỏ ra ngán
ngẩm “bố”, nên sinh mâu thuẫn, khó ở với nhau. “Bố Tấc” hồn nhiên cười
đùa bảo chồng: “Bác biến đi chỗ khác cho em nhờ!”.
Thật
không ngờ ông chồng bỏ đi thật, biến “bố Tấc” thành kẻ cô đơn. Một ông
thầy bói bảo Tấc: “Nếu muốn nuôi đứa bé nên người, nhà chị phải có thêm
vài đứa con nuôi nữa”. Mẹ Tấc liền nghe theo, sau bốn lần đi công tác
vào vùng rừng sâu của Lai Châu, chị lần lượt đem về bốn đứa con nuôi từ
những gia đình dân tộc nghèo khó. Giờ chúng đã lớn cả rồi, đứa lấy
chồng, đứa lấy vợ và thi thoảng vẫn về thăm “bố Tấc”.
Ngồi
nhìn “bố Tấc” hút thuốc, uống rượu choang choang, ngang tàng như đàn
ông (hoặc có thể chị cố vẻ làm ra thế), tôi vẫn thấy trên gương mặt
thanh tú của nữ nhà thơ này phảng phất những nét hào hoa đang phát lộ
như để khẳng định rằng, hồi còn trẻ - người nữ này cũng khá xinh đẹp và
chắc chắn là có khối anh phải lòng muốn theo không.
Thế
cho nên, “bố Tấc” lúc tuổi đang còn thanh xuân đã làm một bài thơ tình
hay “đáo để” với những câu thơ thật gợi tình gợi cảm như sau: “Người
ta nhìn vào thắt lưng/ Trợn mắt/ Người ta nhìn hàng cúc bướm/ Lườm như
muốn ăn thịt/ Người ta nhìn vào mắt/ Bỏ đi/ Không nói ra thì không chịu
được/ Nói rằng thương/ Không phải/ Nói rằng nhớ/ Không đúng/ Nói rằng
yêu/ Làm gì.../ Nói ra rồi cũng không chịu được/ Người như trăng no muốn
vỡ/ Ra suối cởi thắt lưng/ Bung hàng cúc bướm/ Vắt lên đầu/ Lội dòng
nước sâu/ Trốn vào nước/ Trăng vỡ loăng ngoăng/ Buồn cả ngực/ Tức cả
mắt/ Buồn cả ngực/ Tức cả mắt/ Thế này thì chết mất/ Chẳng biết mai/
Người ta có sang”.
Một
bài thơ tình khá độc đáo, vì chỉ có “bố Tấc” mới dám nói lên được cái
sự thật tuyệt vời đúng: Khi người ta yêu nhau thắm thiết cũng chính là
lúc người ta muốn “ăn thịt” của nhau lắm lắm! Và hai người tình trong
bài thơ trên, chỉ vì chưa “ăn thịt” được của nhau nên đã trở nên bứt
dứt, nhớ nhung nhau đến muốn chết, giời ạ!
Sói không ăn thịt kẻ cô đơn
Ngồi
nói chuyện với Đỗ Thị Tấc trong quán rượu quê ở một góc phố cổ Hà Nội
mới thấy đời thú vị làm sao. “Ông phải có dịp lên Tây Bắc chơi với tôi,
đi vào những miền rừng nguyên sinh hẻo lánh sát biên giới Việt - Lào
hoặc leo lên đỉnh Phanxipăng hùng vĩ hoang vu thì mới thấy hết được cái
thú vị của đời sống thiên nhiên để quên đi cái văn minh nhộn nhạo đô thị
hôm nay của các bố!” - Tấc bảo tôi. Càng nói chuyện với chị, tôi càng
cảm thấy con người này thật lắm điều hay ho.
Con
người Tấc bộc trực, thẳng băng như lũ suối miền núi cao và cởi mở,
phóng khoáng như gió ngàn và điệu xòe vùng Tây Bắc trong những câu thơ
của chị: “Nhà tôi ở lưng đồi/ Bé nhỏ nốt ruồi núi/ Chiếu hẹp đủ ngồi/
Bát con đủ rượu/ Tiếp khách đủ lòng/ Đốt lửa cháy lên/ Gọi lửa bừng
lên/ Mở thêm vòng xòe/ Vòng xòe/ Như bàn tay bản ôm trăm người/ Tay
Mường ôm vạn người/ Ngàn đời không lẽ/ Tay ta/ Chỉ ôm một người”.
Trưa
hôm ấy, lơ mơ sau vài chén rượu nhạt với các bạn văn Hà Nội: Phan Thị
Thanh Nhàn, Trần Chiến và tôi, Đỗ Thị Tấc kể lại câu chuyện, trong một
lần đi công tác tới mấy đồn biên phòng ở huyện Mường Nhé, chị suýt bị
chó sói ăn thịt. Ngày ấy, chị còn là phóng viên truyền hình tỉnh Lai
Châu. Tấc một mình một camera đi cùng hai chiến sĩ biên phòng. Qua một
bản nhỏ, thấy dân bảo: “Con sói thành tinh đêm qua lại về bản, bắt đi
hai con lợn nặng hơn một tạ”.
Tấc
giật thột, câu chuyện về con chó sói “thành tinh” đã lan truyền cả mấy
tháng nay ở huyện vùng sâu này. Dân mấy bản cả trăm tay súng lùng sục,
săn bắn mãi mà vẫn trượt, đạn vung ra như châu chấu mà nó vẫn thoát. Con
sói này đã “thành tinh”, người dân tộc nói thế.
Đi
hết một đoạn rừng, bỗng Tấc đau quặn bụng. Chị đưa camera cho hai chiến
sĩ biên phòng bảo đi tiếp, để chị còn rẽ xuống thung “giải quyết nỗi
buồn”, rồi chị sẽ đuổi theo. Khi xuống được lưng chừng thung, Tấc bỗng
thấy lạnh người, hết cả đau bụng. Linh tính của người quen đi rừng mách
chị có chuyện dữ. Chị quay nhìn tứ phía, và hết cả hồn vía khi phát hiện
cách chỗ mình đứng khoảng hai chục mét, có một con chó sói to như con
bê con đang trợn trừng như muốn nuốt chửng chị.
Con
sói có bộ lông màu lửa. Đôi mắt màu tro tăm tối của nó bừng lên những
tia man rợ trước con mồi là nữ nhà thơ yếu đuối. Tấc bảo: “Lúc ấy, tôi
sợ đến nỗi… vãi hết cả ra quần nhưng không dám nhúc nhích, vì già bản đã
dặn, nếu gặp thú dữ, cứ đứng nguyên một chỗ, không động đậy và dồn sức
hét lên một tiếng thật to, nó sẽ bỏ đi. Nhưng tôi sợ quá, không đủ sức
để hét, ông có biết tôi làm cách gì trong tình huống ngàn cân treo sợi
tóc ấy không?”.
Tấc
kể, cả đời người gắn bó với rừng, chị đã học được cách nói chuyện với
muông thú của mấy già bản ở vùng rừng sâu Tây Bắc. Chưa bao giờ chị đối
thoại với chó sói, nhưng lần này chị đã thử nói chuyện với nó bằng một
giọng đặc biệt lầm rầm theo kiểu mấy câu thần chú mà chỉ có muông thú
mới nghe thấy. Con sói mấy lần ngoác mồm hướng về chị.
Tấc
thì thầm bảo sói: “Trong cuộc đời này, tao cũng cô đơn tận cùng như
mày, nhưng không lẽ mày lại ăn thịt một kẻ cô đơn như tao đang có năm
đứa con và một mẹ già phải chăm sóc. Hãy tha cho tao đi, sói!”. Không
hiểu có phải vì mấy câu thần chú của Tấc không mà con sói bỏ mồi đi.
Khi
Tấc định chạy thì người chị bỗng sụm xuống vì từ trong cánh rừng âm u
trước mặt, một tiếng tru thảm thiết rùng rợn của con sói vọng đến. “Cho
đến giờ, tôi vẫn không sao quên được tiếng tru thảm thiết ấy. Không hiểu
có phải nó tiếc cái con mồi ngon lành mà nó vừa phải bỏ qua, hay là nó
cất tiếng tru ghê rợn ấy để chào tôi, để chia sẻ với một người phụ nữ cô
đơn như tôi trong muôn vàn cạm bẫy của rừng đời!”- Đỗ Thị Tấc nói, lúc
ấy tôi thấy mắt chị hoe đỏ