Tôi
được mời sang thăm Bảo tàng năm 2001 và hân hạnh được ông Jean-Paul
Barbier-Mueller, một nhà nhân học đồng thời là chủ nhân Bảo tàng trực
tiếp giới thiệu sưu tập thạp đồng quý giá của ông. Xin mở ngoặc để giới
thiệu, chính ông cũng là người đã sưu tầm chiếc trống Đông Sơn vào
loại lớn nhất (đường kính mặt 158 cm) tại Indonesia và khi Bảo tàng
Nhân học ở Quai Branly (Paris) thành lập, ông đã tặng nó cho Bảo tàng
này, và hiện nó được trưng bầy ở vị trí trang trọng nhất mở đầu cho
phần trưng bày về Đông Nam Á.
Chiếc thạp tôi muốn
nói tới mang ký hiệu BMM-2505-29, cao 42cm, nặng 11,500 kg (không kể
phần nắp đã mất), thuộc loại thạp có vành gờ miệng đậy nắp đồng. Thạp
có đôi quai hình chữ U ngược trang trí bện thừng và hoa văn nổi hình
chữ S rất tinh tế. Ở giữa mỗi quai hình chữ U ngược là một quai vành
khuyên bốn ngấn. Cụm quai này tạo bởi khuôn rời nên đã làm hỏng phần
băng hoa văn phức hợp gồm hai băng chấm rải, hai băng răng cưa bọc lấy
đồ án chính là băng hình chữ S nằm biến thể thành dạng ô trám.
Thạp đồng Đông Sơn mang ký hiệu BMM-2505-29
Chính giữa thân thạp
là băng gồm 4 hình thuyền chiến với kiểu tạo hoa văn in chìm rất giống
thạp Hợp Minh (Yên Bái) và mộ Việt Vương (Văn Đế Triệu Muội) ở Quảng
Châu. Đây là những thuyền chiến chở chiến binh mang rìu chiến kiểu gót
hài, có lầu với người đứng bắn cung nỏ ở trên và đồ đồng lớn bên dưới,
có trống trụ ở giữa thuyền, nơi thường trói một tù binh quay mặt ngược
với chiến binh. Điều đáng nói nhất là sự thể hiện rất rõ nét hình tượng
tù binh bị trói gập cánh khuỷu và chiến binh Đông Sơn tay cầm đầu lâu
cũng như đầu lâu treo trước mũi thuyền – cái mà một số nhà nghiên cứu
đã từng lầm tưởng là mái chèo mũi thuyền trên một số trống đồng. Gần
sát đáy là băng phức hợp được tạo bởi năm băng gồm hai chấm rải, hai
vòng tròn tiếp tuyến có chấm giữa bọc lấy băng rộng trơn không có
hình.
Giá trị nhất của chiếc
thạp còn là một dòng gồm 22 chữ Hán chạy song song ở phần trống gần
sát gờ miệng. Chính đây là cơ sở để chúng tôi nêu giả thuyết về chủ
nhân chiếc thạp có thể là Triệu Đà, người sáng lập triều đình Nam Việt
vào cuối thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Những dòng chữ này đã được tôi
dịch và giới thiệu trên tạp chí Khảo cổ học (số 5-2007), khi đó chữ
thứ hai trong số 22 chữ này vẫn còn để trống. Gần đây, trong khi tiếp
tục theo đuổi giải nghĩa chữ này, tôi đã nhận thấy tự dạng chữ này khá
gần với chữ „Xoang“, và hai chữ đầu chỉ địa danh của 22 chữ trên miệng
thạp có thể đọc là „Long Xoang“.
Toàn bộ 22 chữ trên thạp BMM2505-29 có thể phục hồi như sau:
龍 xoang 重 六 (衡) 名 曰 果 第 未 五 十 二 容 一 廿 一 斗 七 升 半 升
(Phiên âm Hán Việt :
Long Xoang trọng lục hoành danh viết quả đề vị ngũ thập nhị dung nhất
trấp nhất đấu thất thăng bán thăng. Dịch nghĩa : Thạp Long Xuyên, nặng
sáu hoành, tên gọi là “Quả”, là đồ vật thứ 52, chứa được 21 đấu bảy
thăng rưỡi)
Chi tiết một số minh văn khắc trên vành miệng thạp “Long Xoang”
Dưới đây, tôi trình bày một số cơ sở làm chỗ dựa cho việc dự đoán mối quan hệ giữa chiếc thạp này với Triệu Đà.
Thứ nhất là sự gần gũi
giữa chiếc thạp này với chiếc thạp trong mộ Việt vương Văn đế Triệu
Muội ở Quảng Châu. Triệu Muội là con của Thái tử Thủy (Trọng Thủy), tức
là cháu ruột của Triệu Đà, lên ngôi khi Triệu Đà mất năm 138 tr.Cn.
Triệu Muội mất vào năm 122 tr.Cn. Vì lý do nào đó, hai tai quai hình
chữ U lộn ngược của thạp Triệu Muội bị cắt cụt một nửa đều nhau. Về
kích thước, trang trí và cấu trúc có thể thấy hai thạp này như hai anh
em sinh đôi (chiều cao chỉ chênh nhau 1 cm). Sự giống nhau ở cả những
chi tiết cấu trúc các vành hoa văn và nhất là ở nội dung và kiểu thể
hiện băng thuyền người ở giữa thân thạp. So sánh chi tiết hai thạp đã
cho phép nghĩ rằng chúng được làm ra từ hai khuôn đúc khác nhau nhưng
cùng một lúc trong cùng một xưởng bởi cùng một người thợ cả.
Thứ hai, chữ Long
Xoang trên thạp BMM-2505-29 có thể là cách ghi âm bằng chữ Hán tên
huyện Long Xuyên, nơi Triệu Đà làm huyện lệnh trước khi thay Nhâm Ngao
làm Hiệu Uý quản Nam Hải rồi lập nước Nam Việt. Nhiều khả năng chiếc
thạp này (cũng như thạp Triệu Muội) được đúc trong những năm khi Triệu
Đà mới cùng quân Tần xuống cai quản vùng huyện Long Xuyên của quận Nam
Hải (trong khoảng từ năm 214 trước Công nguyên, khi nhà Tần bình xong
Dương Việt đến năm 209 trước Công nguyên, khi Triệu Đà rời Long Xuyên
về Phiên Ngung thay Nhâm Ngao). Khoảng thời gian này Triệu Đà là người
Hoa Hạ vừa mới xuống vùng Bách Việt nên mới có dòng chữ :“Danh Viết
Quả“ ( 名 曰 果 ). – Tên (thạp) gọi là Quả nhằm ghi tiếng địa phương dùng
để gọi chiếc thạp.Chiếc thạp trong mộ Triệu Muội có thể là do Triệu Đà
ban tặng.
Đơn vị đo lường thạch,
thăng, đấu ... trên thạp BMM 2505-29 hoàn toàn giống đơn vị đo lường
Nam Việt thể hiện trên minh văn đồ đồng khai quật trong các mộ đương
thời.
Chủ nhân chiếc thạp
BMM 2505-29 phải là người rất giàu có. Chiếc thạp này có dòng ghi số
hiệu :“Đệ vị ngũ thập nhị“( 第 未 五 十 二 ), tức là đồ vật đứng thứ 52.
Cách ghi này tương tự cách thống kê đồ vật tuỳ táng trong mộ một huyện
lệnh người Hán khác đương thời ở Quý Huyện – La Bạc Loan và mộ Nam Việt
Văn Đế Triệu Muội.
Triệu Đà và quan lại
người Hán ở nước Nam Việt chịu rất nhiều ảnh hưởng của văn hoá Việt.
Bản thân ông lấy vợ người Việt (hiện có đền thờ phu nhân người Việt của
Triệu Vũ Đế ở Đồng Xâm, Kiến Xương, Thái Bình). Các con, cháu, chắt
của ông cũng đa phần lấy vợ người Việt. Trống đồng, thạp đồng là những
báu vật Đông Sơn được chôn theo trong mộ vua quan nước Nam Việt.
Hoa văn thuyền chiến trang trí trên thạp “Long Xoang”
Có một vấn đề thú vị
đặt ra là nơi phát hiện chiếc thạp này. Theo thông tin từ những người
sưu tầm, thạp này đào được ở vùng Thanh Hóa. Không có lý gì mộ táng
Triệu Đà lại ở Thanh Hóa. Theo sử cũ thì khi chết Triệu Đà được chôn ở
Phiên Ngung (Quảng Châu hiện nay). Nhờ sự chỉ dẫn của những người sưu
tầm, tháng 11 năm 2010, tôi đã đến tận nơi đã khai quật được chiếc thạp
này, đó là vùng Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây đã
từng phát hiện được khá nhiều thạp đồng, trong đó có chiếc thạp lớn,
trang trí đẹp, tương tự như chiếc thạp của Triệu Đà, hiện đang bày tại
Bảo tàng Thanh Hóa. Xuân Lập nổi tiếng là vùng đất lưu giữ rất nhiều đồ
đồng Đông Sơn quý giá. Theo chúng tôi, đây là một căn cứ của các thủ
lĩnh Âu Lạc trên đường rút khỏi lưu vực sông Hồng do sức ép của quân
Nam Việt.
Nhưng tại sao thạp
Triệu Đà lại lọt vào tay các thủ lĩnh Âu Lạc. Quan hệ giữa Triệu Đà và
nước Âu Lạc đã được sử gia Tư Mã Thiên, người được sinh ra gần như
cùng thời với đoạn cuối của nước Nam Việt, ghi chép trong cuốn Sử Ký
nổi tiếng của ông. Trong đó, đoạn nói về việc Triệu Đà thu phục Âu Lạc
có câu : Triệu Đà dùng của cải áp phục Tây Âu Lạc. Như vậy, rất có thể
để mở rộng đế chế Nam Việt nhằm đối phó với Lữ Hậu nhà Tây Hán, Triệu
Đà đã phải đem một số tài sản, của cải để thu phục các thủ lĩnh Âu Lạc.
Chiếc thạp “Long Xoang” nói trên có thể là một trong số đồ vật quý giá
đã được Triệu Đà sử dụng cho mục đích đó. Sự kiện này phải diễn ra
trước năm 179 trước Công nguyên là thời điểm được coi như Triệu Đà đã
sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. Sau này, khi phải rút khỏi thành Cổ Loa,
chiếc thạp này đã theo chân các thủ lĩnh Âu Lạc chạy về phía Nam và
nằm lại ở đất Xuân Lập.
Lan Việt