Thần phả thờ Đỗ Tướng Công được cụ Phùng Khắc Khoan phát hiện và giới thiệu:
" Mùa
hè năm Nhâm Dần, tôi về chùa Thầy nghỉ mát, nhân ngày lễ vào hè của dân làng,
tôi vào đền Thành Hoàng dâng hương, được các cụ già trong làng nhờ đọc thần
phả.
Cuốn
thần phả này được viết từ sau khi Đỗ Tướng Công mất hai năm, tức ngày mùng 8
tháng giêng năm Canh Ngọ, do hai quan đồng liêu của ngài là Lữ Sử Bình và Dương
Cát Lợi nhân về viếng mộ Tướng công đã ghi lại công lao của Ngài vào sinh ra
tử, nêu cao tấm gương trung nghĩa suốt 36 năm trời phò vua đánh giặc giữ nước,
một lòng vì nhân dân.
Tướng
công phò suốt ba đời nhà Ngô, trải bao biến cố vẫn giữ một lòng trung hiếu,
không màng danh lợi, cống hiến cả cuộc đời cho dân, cho nước. Thật là một tấm
gương trung hiếu chói lọi cho đời sau noi theo."
Bản Thần phả nguyên văn bàng chữ Hán đã được dịch ra chữ Quốc ngữ, do Hội đòng dòng họ Đỗ xã Tây Mỗ chuyển cho chúng tôi. Xin cám ơn bà con họ Đỗ Tây Mỗ và trân trọng giới thiệu với bà con họ Đỗ cả nước cùng bạn đọc tài liệu quí này.
THẦN PHẢ
THỜ ĐỖ TƯỚNG CÔNG
Lời giới thiệu
thần phả
Của cụ Phùng
Khắc Khoan
Mùa hè năm Nhâm Dần, tôi
về chùa Thầy nghỉ mát, nhân ngày lễ vào hè của dân làng, tôi vào đền Thành
Hoàng dâng hương, được các cụ già trong làng nhờ đọc thần phả.
Cuốn thần phả này được
viết từ sau khi Đỗ Tướng Công mất hai năm, tức ngày mùng 8 tháng giêng năm Canh
Ngọ, do hai quan đồng liêu của ngài là Lữ Sử Bình và Dương Cát Lợi nhân về
viếng mộ Tướng công đã ghi lại công lao của Ngài vào sinh ra tử, nêu cao tấm
gương trung nghĩa suốt 36 năm trời phò vua đánh giặc giữ nước, một lòng vì nhân
dân.
Tướng công phò suốt ba
đời nhà Ngô, trải bao biến cố vẫn giữ một lòng trung hiếu, không màng danh lợi,
cống hiến cả cuộc đời cho dân, cho nước. Thật là một tấm gương trung hiếu chói
lọi cho đời sau noi theo.
Ngày mùng 4 tháng 4 năm Nhâm Dần
Phùng Khắc Khoan
Từ họ Hồng Bàng lập quốc,
nước Văn Lang ra đời trải qua 18 đời vua Hùng giữ nước. Trên 2000 năm thanh
bình, ngoại bang lăm le đều thất bại. Nhà Thục kế thừa vua Hùng, nước Âu Lạc ra
đời. An Dương Vương kế vị, vì buông thả, mất cảnh giác mà đất nước bị Tàu đô
hộ. Các bậc danh tướng, vương tá anh hùng có công hộ quốc, trung lương nghĩa
khí khôi phục đất tổ khi hóa đi, triều đình và nhân dân nhớ đến công ơn, muôn
thưở lưu danh sự tích lâu dài nên mới xây dựng đền đài, cung điện, lăng miếu ở
nhân gian thờ cúng cùng trời đất không bao giờ mất.
Trải
qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, từ nhà Tây Hán (111 trước Công nguyên) đến nhà
Đường (905 sau Công nguyên), nước ta đã bị 12 nhà phương Bắc thay phiên nhau đô
hộ. Nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên khởi nghĩa như Trưng Vương (năm 24 - 40),
Bà Triệu, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan (722 đến 906) Khúc Thừa Dụ.
Khúc
Thừa Dụ là hào trưởng đất Hồng Châu thuộc Cao Bồ (Ninh Giang – Hải Dương ngày
nay), nhân cơ hội nhà Đường đổ nát, năm Bính Dần (906) đòi nhà Đường phải giao
chức Tiết độ sứ cho ông. Ngày 7 tháng 2 năm 906, ông xưng là Đổng Bình Vương.
Ngày 23 tháng 7 năm 907, ông ốm chết, con là Khúc Thừa Hạo lên thay. Ngày 1 tháng
9 năm 917, Khúc Thừa Hạo chết, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Năm 930, nhà Lương
thôn tính nhà Đường, nhà Tấn xâm chiếm nước ta thôn tính nhà Lương, bắt Khúc
Thừa Mỹ về Quảng Châu rồi chết ở đó.
Tướng
của Khúc Thừa Mỹ là Dương Đình Nghệ ở Ái Châu (Thanh Hóa) tiếp tục đánh lại
quan nhà Tấn là Lý Khắc Chỉnh và thứ sử Lý Tiễn, giết Trần Bảo năm Đinh Dậu
(937). Chống giặc thắng lợi, ông xưng là Tiết độ sứ, nguyên thủ Giao Châu, mở
đầu thời kỳ xây nền tự chủ.
-
Ngô Quyền là con rể Dương Đình Nghệ trấn thủ Châu Ái
-
Đinh Công Trứ làm Thứ sử Châu Hoan
-
Trần Lãm làm Đô đốc miền duyên hải
-
Kiều Công Tiễn là gia tướng Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ
Cuối
năm Đinh Dậu, gia tướng Kiều Công Tiễn ám sát nguyên thủ Dương Đình Nghệ, chiếm
địa vị nguyên thủ Giao Châu rồi mật báo nhà Nam Hán.
Tiếc
cho Dương Đình Nghệ chống giặc 8 năm (930 – 938), thắng lợi chưa được bao lâu,
thì ngaọi bang lại lăm le xâm chiếm nước ta. Ngô Quyền là con rể, lại là một
tướng có tài đức, đã đứng lên cầm lái con thuyền đất nước đầy sóng gió. Đó là
sự kế tiếp hào hùng của dân tộc: Ngô Quyền – người anh hùng thời đại.
Có
một vị tướng tài ba, một người em nuôi trung hậu đã đứng bên Ngô Quyền, cùng
gánh vác sự nghiệp dân tộc – đó là Đỗ Tướng Công, húy Cảnh Thạc, sinh ngày 14
tháng giêng năm Nhâm Thân (912). Thân phụ ngài là Đỗ Quảng Lăng, mẹ là Trần Thị
Thọ thuộc Đỗ Đỗng Giang, Ấp Động (huyện Thanh Oai bây giờ).
Đỗ
Tướng Công lúc thiếu thời là một cậu bé thông minh khỏe mạnh, năm lên tám tuổi
đã biết bày ra các trò chơi ngộ nghĩnh. Năm 12 tuổi đã biết cưỡi ngựa, bắn
cung, theo cha đi săn muông thú. Năm 16 tuổi đã có chí lớn, thấy bọn quan quân
nhà Nam Tấn ngông nghênh đánh đập dân chúng, cướp bóc lợn gà... thì máu nóng
sục sôi, mắt trợn đỏ ngầu những muốn moi gan, móc mật chúng. Một hôm giặc vào
bắt lợn của nhà, ông xông ra giằng lợn lại bị chúng đánh đập, cáu tiết ông
giằng chiếc đòn khiêng lợn đánh túi bụi, sau vì thế cô mà bị chúng quây bắt
trói lên cây và xẻo mất một bên tai. Sau việc này, lòng căm thù sôi sục, ông
quyết tìm thầy học võ.
Sau 3
năm khổ luyện, ông đã trở thành một thanh niên võ nghệ siêu quần, ông xin phép
thầy trở về Ấp Động. Khi ông về tới ấp thì một cảnh tượng đau thương đã bày ra
trước mắt: Trước đó 1 tháng, giặc đã kéo đến ấp cướp bóc đàn áp, dân ấp người
chết người chạy trốn, nhà ông bị đốt cháy, cha mẹ bị giặc giết. Ông than khóc
hồi lâu rồi thu lượm hài cốt cha mẹ đem mai táng. Xong việc, ông lững thững
xách kiếm vào rừng. Nửa đêm hôm ấy, ông nén đau thương lẻn vào trại giặc do
thám tình hình, địa thế. Ngày hôm sau, ông chuẩn bị cỏ khô, nửa đêm cõng cỏ lẻn
vào trại giặc đốt kho lương thảo, kho vũ khí, chuồng ngựa. Khi lửa cháy to thì
giặc mới biết. Giữa lúc hỗn loạn, ông vung kiếm chém giết, đầu giặc rơi như lá
rụng, thây chất ngổn ngang, ông rút lui vô sự. Thật là:
Một mình một trận xông pha
Đầu giặc
thì rụng, kho nhà lửa thiêu
Tuổi đời
mười chín thân yêu
Thù nhà nợ
nước gương nêu muôn đời
Sau
đó ông đi khắp nơi trong vùng, giao kết với những anh hùng hào kiệt như:
-
Đặng Khôi ở ấp Đường
-
Nguyễn Thanh ở ấp Nguyên
-
Nguyễn Thuật ở ấp Thiên Phúc
-
Ngô Quyền ở ấp Thọ và tiếp xúc với Ngô Mân là cha Ngô Quyền.
Ông đến Giao Châu vào yết
kiến Dương Đình Nghệ, lúc này đã có quân thế rất mạnh. Ông ở đấy ít lâu, thấy
Dương Đình Nghệ không hợp tâm ý, ông bèn nghe Ngô Quyền quay về ấp Động chiêu
mộ trai tráng trong vùng, ngày đêm rèn luyện đao cung. Khi bộ tướng đã có vài
chục, tráng đinh đã có vài trăm, ông liền đem quân về đóng ở ấp Quèn là nơi
hiểm yếu, tiến hành xây thành đắp lũy. Ngày mùng 6 tháng 6 năm Quý Tị (933),
ông tế cờ khởi nghĩa. Được tin này, quân Tấn kéo đến vây đánh, nhưng vì thành
quách bốn bề là đầm nước mênh mông, lau sậy cây cối um tùm, phải thuyền độc mộc
mới ra vào được, lại thêm quân cung nỏ núp trong bụi rậm bắn ra nên quân giặc
bị chết lẫn bị thương rất nhiều, chúng phải rút về.
Máu uất hận trong lòng nung nấu, đến đêm 30 thăng 5 nămg Giáp
Ngọ (934) ông quyết một trận sống mái với kẻ thù để báo thù nhà trả nợ nước.
Ông tuyển 100 quân tinh nhuệ, mỗi người mang một bó cỏ khổ và binh khí, nửa đêm
lẻn vào doanh trại giặc phá cổng lũy cho đội kỵ binh xông vào. Lửa cháy ngút
trời, quân ta từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, quân giặc hỗn loạn, giày xéo
lên nhau, đứa chết thiêu, đứa chết chém. Tên chủ tướng là Ngưu Truật bị bắt
sống. Ông chặt đầu Ngưu Truật làm lễ tế oan hồn cha mẹ. Nhân dân trong vùng vui
mừng phấn chấn mang trâu bò, rượu đến khao quân.
Tháng 6 năm Ất Mùi (935), ông nhận được thư của Ngô Quyền mời
họp quân đánh Bạch Hạc. Trận này quân ta cũng đại thắng, chém chết tên chủ
tướng Lương Ngột tại trận tiền, thu được nhiều lương thảo binh khí, lừa ngựa.
Hai người bàn luận rất ý hợp tâm đầu, ông có ý phục Ngô Quyền là người tài cao
đức rộng, muốn đem quân theo giúp để xây dựng cơ nghiệp nhưng chưa tiện nói ra.
Từ đó từ trấn Sơn Tây đến Quốc Oai không còn một bóng tên quan xâm lược. Nhân
dân suy tôn ông là: Mãnh tướng siêu quần Độc Nhĩ Đại Vương.
Tháng 10 năm Bính Thân (936), ông cất quan đi đánh đồn Đỗ Đồng.
Trận này ông chia quân làm 3 đạo tác chiến:
-
Đạo thứ nhất là bộ binh do phó tướng Phan Truật chỉ huy
-
Đạo thứ hai là đội kỵ binh do tả tướng quân Đặng Khôi chỉ huy tiến theo
đường rừng núi vòng xuống rồi đánh thốc ngược lên
-
Đạo thứ ba là thủy quân do Hữu tướng quân chỉ huy xuôi thuyền theo sông
con đánh xuống.
Lúc
đầu giặc tưởng chỉ có đạo quân bộ nên chúng dốc toàn lực ra uy hiếp quân ta,
không ngờ đạo kỵ binh từ Đông Nam đánh lên, thủy quân từ Tây Bắc đánh xuống,
quân giặc bị đánh rối loạn hàng ngũ, đội kỵ binh xông vào chém giết, thây chết
ngổn ngang. Tên chủ tướng Trương Hoạch đang giao chiến với Đặng Khôi bị ông bắn
trúng 1 mũi tên ngã ngựa. Đặng Khôi bồi thêm một giáo kết liễu đời tên xâm
lược. Chỉ trong nửa buổi chiều mà trại giặc đã tan tành, quân ta đại thắng, thu
nhiều chiến lợi phẩm. Ông xuất kho khao thưởng ba quân, nhân dân phấn khởi mở
hội ăn mừng 3 ngày. Từ đó suốt một dải từ Trấn Sơn đến Trấn Đông Bộ không còn
bóng một tên xâm lược, nhân dân một lòng quy phục dưới cờ.
Ngay từ buổi đầu, vốn đã phục Ngô Quyền là
người tài cao đức rộng nên ngày 15 tháng giêng năm Đinh Dậu (937), ông đem quân
về với Ngô Quyền, tôn Ngô Quyền là Đại huynh. Từ đó hai người thân nhau như hai
anh em ruột, mọi việc lớn nhỏ đều thông qua nhau rồi mới quyết. Lên triều thì
giữ đạo bề tôi rõ ràng, bàn quốc sự; về nhà thì ăn cùng mâm ngủ cùng giường,
huynh đệ thân tình. Cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm thành công, Dương
Đình Nghệ làm Tiết độ sứ, đóng ở đất Giao Châu – thành Đại La.
Cuối năm Đinh Dậu, Kiều Công Tiễn ám sát
nguyên thủ Giao Châu rồi sang Quảng Châu cầu cứu làm nội ứng cho Nam Hán xâm
lược nước ta. Vưa Nam Hán là Lưu Cung vui mừng khôn xiết. Ngô Mân là cha Ngô
Quyền biết tin gọi con đem quân về đánh Kiều Công Tiễn. Ngô Quyền cử ông làm
tiên phong vây thành Đại La, chém chết Kiều Công Tiễn, thu ấn kiếm Tiết độ sứ
về. Hai con của Kiều Công Tiễn là tướng ở Phong Châu và Hồi Hồ, là Kiều Công
Hãn và Kiều Công Thuận được Ngô Quyền biên thư động viên, nói “ai có tội thì trị tội, là con không có tội
thì phải hết lòng vì quốc gia hữu sự”.
Tháng 2 năm Mậu Tuất, chúa Nam Hán là Lưu
Cung sai Thái tử Hoằng Thao mang 10 vạn quân sang xâm lược nước ta và tự mình
mang 5 vạn quân đi sau tiếp ứng. Ngô Quyền sai Đỗ tướng công ra trấn giữ cửa
Bạch Đằng. Ông bàn với Ngô Quyền dùng cọc nhọn đóng ở lòng sông, lấy cỏ khô
chất đầy 50 thuyền lớn, vẩy thêm dầu mỡ đặt ở phía thượng lưu cách bãi cọc
chừng vài dặm. Lợi dụng nước thủy triều lên, ông cho quân ra khiêu chiến, đánh
được vài hiệp bèn giả vờ thua, bơi thuyền chạy ngược dòng. Khi thuyền giặc đã
vào hết bãi cọc, quân ta đánh quật lại. Nước thủy triều rút, quân ta đánh thọc
vào rồi giãn quân ra hai bên, nhảy lên bờ cùng quân cung nỏ bắn xuống. Năm mươi
thuyền giương buồm nhổ neo, đốt lửa lao vào thuyền giặc. Quân giặc rối loạn,
chết cháy, chết đuối, chết vì tên bắn, thây giặc đặc khúc sông. Ông bắt sống Đô
đốc Hoằng Thao. Sau trận này, Ngô Quyền xưng vương, phong ông làm Thái úy đứng
đầu các quan võ (năm 939). Từ đó chúa Nam Hán Lưu Cung, chúa Nam Tấn Tào Huyền
Tích đều sợ vỡ mật, không dám bén mảng xâm lược nước ta.
Mở đầu thời kỳ tự chủ độc lập, trong thời
gian nước nhà hòa bình, ông giúp Ngô vương sửa sang triều chính, đặt quan châu
ở các châu ấp, mở các lớp huấn luyện cung thương đao kiếm để đào tạo võ quan,
đặt đồn trấn thủ các nơi hiểm yếu đề phòng giặc giã, mở trường dạy dân học chữ,
cuốc đầm cày cấy phá đồi làm ruộng, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị, đóng
đô ở Cổ Loa, kinh đô Âu Lạc.
Năm Giáp Thìn 944, Ngô Vương lâm bệnh, cho
gọi Thái tử Xương Ngập, hoàng tử Xương Văn, quốc cữu Dương Tam Kha, thái y Nhi
Thông, Tiền đạo tướng quân Phạm Bạch Hổ, Hữu tướng quân Dương Cát Lợi, Tả tướng
quân Đỗ Cảnh Thạc, cận vệ Ngô Nhật Khánh... đến bên giường. Ngô Vương nói: “Trẫm bệnh tình đã đến lúc không thể chữa
trị được nữa. Sống chết là luật vô thường tạo hóa không ai tránh khỏi. Đất nước
trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, dân ta rên xiết dưới ách thống trị tham
tàn của quân xâm lược. Dương tướng công nuôi chí lớn cứu dân, cứu nước, chẳng
may người sớm quy tiên. Trầm tuy tài hèn sức kém cũng cùng các khanh đem tâm
huyết vào sinh ra tử giết kẻ nội thù, chống quân ngoại xâm, giữ vững nền độc
lập tự chủ cho đất tổ. Thể theo ý muốn của các khanh và toàn dân, Trẫm lên ngôi
Cửu Ngũ, không ngờ trời chẳng chiều lòng người, nửa đường Trẫm phải vĩnh biệt
các khanh.
Nay
Trẫm đem con côi phó thác các khanh, nhất là Dương Quốc cữu. Các khanh hãy đem
tất cả nhiệt tình phù tá Trẫm bấy lâu nay ra giúp con Trẫm làm tròn sứ mạng
quân vương, để sơn hà xã tắc này muôn đời bền vững. Riêng Quốc cữu, Trẫm biết
thái tử không phải là người có tài trí để chăm lo việc nước, tuổi cháu còn ít,
kinh nghiệm đường đời chưa có, nhiệm vụ đối với sơn hà xã tắc thì quá lớn lao,
cháu có làm tròn được thiên chức mà toàn dân mong đợi cũng là nhở ở sức phù trợ
của Quốc cữu...”
Ngay đêm đó, Quốc cữu Tam Kha cấm mọi người
vào cung, rồi cùng bọn hoạn quan Văn Súy, ngự lâm quân Dương Hùng Cường, tham
chính Ngụy Như Hòa họp kín, bàn chuyện cướp ngôi vua.
Tam Kha gặp chị ruột ( vợ Ngô Quyền) bàn
việc đưa Thái tử Ngô Xương Ngập lên ngôi, mặt khác mật sai Văn Súy cùng Hùng
Cường ám sát hoàng tử và Thái tử. Cung tần Thúy Nga biết mưu đó, chịu ơn Ngô
Vương nên mật báo cho Đỗ Thoan và Phạm Bạch Hổ, hai người bảo vệ Thái tử và
hoàng tử chạy trốn. Ngụy Như Hòa gặp Triệu Quốc Hùng, Lê Văn Mạnh, Dương Cát
Lợi, Đỗ Cảnh Thạc và Phạm Bạch Hổ thăm dò việc Hoàng hậu cho Dương Tam Kha lên
ngôi.
Văn Súy và Hùng Cường không ám sát được
Thái tử và hoàng tử, Tam Kha bèn sai Quốc Hùng và Cảnh Thạc đi tìm Thái tử và
hoàng tử về để lên ngôi. Ngô Nhật Khánh và Đỗ Cảnh Thạc tìm cách cho Phạm Bạch
Hổ đưa Thái tử và hoàng tử mỗi người một nơi chờ thời cơ.
Ngay hôm sau Dương Tam Kha họp triều đình
tự lên ngôi xưng là Bình Vương. Lúc đó quan Đại phu là Phạm Man mắng Tam Kha
liền bị chém ngay, cả nhà bị tru di. Chỉ có con trai Phạm Man là Phạm Cự Lượng
chạy trốn được, gặp Nguyễn Phục là con trai Nguyễn Cự, được Nguyễn Cự giúp chạy
thoát.
Lại nói về Đỗ tướng công, một hôm ông họp
chư tướng rồi giả vờ đem quân dẹp loạn thôn Đường, ấp Nguyễn rồi quây lại vây
thành Cổ Loa, trong thành ủng hộ. Ông bắt Tam Kha lột mũ áo, thu ấn kiếm rồi
sai hai tướng đi đón Thái tử Ngô Xương Ngập, hoàng tử Ngô Xương Văn về triều,
cùng các quan và tướng lĩnh trong triều tôn Thái tử làm Thiên Sách Vương. Trong
thời gian này, nước nhà thịnh trị, suốt từ Bắc đến Nam không một bóng quân xâm
lược, nhân dân yên ổn làm ăn. Đỗ tướng công tâu với Thiên Sách Vương phong tước
cho các công thần để vừa cai trị nhân dân, vừa giữ gìn giặc giã. Tháng giêng
năm Nhâm Tí, vua xuống chiếu gia phong:
-
Kiều Công Hãn làm Thứ sử Phong Châu, trấn thủ
Tây Bắc
-
Ngô Nhật Khánh làm Thứ sử Giao Thủy, trấn thủ
Đông Bắc
-
Nguyễn Khoan làm Thái thú Yên Lạc, trấn giữ
Trung Bắc
-
Lý Khuê làm Ngự sử Thuận Thành, trấn giữ cận
Đông
-
Nguyễn Thủ Thiệp làm Thái thú Nhật Nam,
trấn thủ cận đô
-
Lã Đường làm Thái thú Văn Giang, trấn thủ Đông Nam
-
Kiều Công Thuận làm Thái thú Trương Xá, trấn
thủ Tây Nam
-
Nguyễn Siêu làm Thái thú Phù Liệt, trấn thủ Tây
đô
-
Ngô Xương Xí làm ngự sử Ích Châu, trấn thủ miền
nam
-
Phạm Bạch Hổ làm Thái thú Đằng Châu, trấn thủ
Đông Nam
-
Trần Lãm làm Đô đốc thủy quân, trấn thủ duyên
hải
-
Nguyễn Truật, Nguyễn Thạch, Đặng Khôi làm Chỉ
huy sứ thống lĩnh quân bộ.
-
Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi, Phan Truật làm
Thái úy ngự lâm quân tại triều, giúp vua điều hành việc nước. Các quan văn võ
triều thần được phong thêm một bậc.
Tháng 10 năm Giáp Dần (954), Thiên Sách Vương băng hà,
Đỗ Cảnh Thạc cùng các quan trong triều tôn hoàng tử Ngô Xương Văn lên ngôi, làm
Nam Tần Vương. Dưới triều Nam Tần Vương, thiên hạ thái bình thịnh trị, độc lập
tự chủ hoàn toàn.
Tháng 10 Quý
Hợi (963), thám mã về báo Thủy quân đô đốc mưu phản, vua xuống chiếu vời Trần
Lãm về triều. Lãm cáo ốm và dâng biểu nói là binh quyền đã giao cho nghĩa tử
Đinh Bộ Lĩnh.
Tháng 2 Giáp Tí (964), vua lại xuống chiếu vời Đinh Bộ
Lĩnh về triều. Đinh Bộ Lĩnh không về, nói là giặc lăm le ngoài bể, sợ xẩy ra
bất trắc không dám về và gửi con trai là Đinh Liễn về làm con tin.
Tháng 12 Ất Sửu (965), Nam Tần Vương băng hà, nhà Ngô
không có người nối dõi, triều thần không cử được người làm vua. Đinh Bộ Lĩnh
biết tin kéo quân về đóng ở Hoa Lư, nói là bảo vệ quốc tang, thực sự tỏ ý chống
lại triều đình. Triều đình cất quân định dẹp nhưng bị thua. Đinh Bộ Lĩnh lấy cớ
kéo đến vây thành Cổ Loa. Triều đình liền treo Đinh Liễn lên cây, bảo Đinh Bộ
Lĩnh nếu không rút quân thì giết Đinh Liễn. Đinh Bộ Lĩnh liền giương cung và
nói lớn: Ta là người anh hùng có chí, chứ
đâu phải một nữ lưu thương hại đứa con nít mà bỏ việc lớn. Nói đoạn, Đinh
Bộ Lĩnh bắn đứt dây, Đinh Liễn rơi xuống, đồng thời dẫn quân đánh ập vào thành.
Quân trong thành bị đánh bất ngờ chạy hỗn loạn bỏ trốn hoặc xin hàng, những
người kháng cự thắng ít thua nhiều. Tình hình nguy cấp, Đỗ tướng công liền rút
quân về Bảo Đà chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Lúc này quân sĩ của ông đã già yếu, lại
quen hưởng lạc thái bình còn quân của Đinh Bộ Lĩnh thì toàn trai tráng khỏe
mạnh, nên khi giao trận khó khăn. Ngày 18 tháng 7 năm Bính Dần (966), ông giao
trại Bảo Đà cho Phan Truật và Đặng Khôi trấn giữ, còn mình cũng bộ tướng quay
về tu bổ thành Quèn.
Đêm mùng 3 tháng 7, Đinh Bộ Lĩnh dẫn 2 tướng là Trịnh
Tú và Lưu Cơ thống lĩnh 10 tướng và 500 quân lẻn đi đánh úp thành Quèn. Đỗ
tướng công biết được mưu ấy, liền đem quân mai phục ở Quán Xanh. Khi quân Trịnh
Tú và Lưu Cơ đến đấy, quân của ông xông ra đánh úp. Quân Trịnh Tú, Lưu Cơ thua
chạy tán loạn.
Ngày 30 tháng 7 năm Bính Dần (966), Đinh Bộ Lĩnh sai 2
tướng Nguyễn Bậc và Đinh Điền đem theo 20 viên bộ tướng và 600 quân kéo thẳng
đến gò Đồng Thịt hạ trại. Biết được tin ấy, ngay trưa hôm đó, Đỗ tướng công cho
quân ăn no, sau đó mỗi người nắm một nắm cơm lẻn ra mai phục trong các bụi rậm
ở xung quanh, hẹn đầu giờ Dậu thì ăn cơm, cuối giờ Dậu sang giờ Tuất thì bốn
mặt nhất tề xông lên đánh vào trại. Quân Nguyễn Bậc, Đinh Điền phần đi xa mỏi
mệt, phần ăn uống no say uể oải, bị đội kỵ binh thúc ngựa đánh mạnh, hàng ngũ
liền rối loạn giày xéo lên nhau. Bị thua liền 2 trận, Đinh Bộ Lĩnh tức giận,
định cất đại quân tiêu diệt thành Quèn. Các mưu sĩ bàn rằng: Đỗ Cảnh Thạc là
người trí dũng, chỉ dùng đao kiếm thì không thắng, phải biết dùng mưu kết hợp
mới thắng được. Đinh Bộ Lĩnh nghe lời, sáng hôm sau cho quân phao tin là chuẩn
bị đánh đồn Bảo Đà, rồi cho quân đến cách đồn Bảo Đà 3 dặm hạ trại. Tướng giữ
đồn Bảo Đà liền phi về báo thành Quèn. Đỗ tướng công liền giao cho các tướng
giữ thành Quèn, còn ông cùng kỵ binh tiến ra Bảo Đà. Ngay hôm ấy, Đinh Bộ Lĩnh
cùng 4 viên kiện tướng là Phạm Hạp, Phi Hùng, Lê Hoàn, Trương Lập, thống lĩnh
8000 quân, chia làm 4 mặt đánh úp thành Quèn. Tướng giữ thành không chống nổi
phải rút chạy, Đinh Bộ Lĩnh xua quân vào thiêu đốt, đập phá tan hoang.
Ngày 14 tháng 2 năm Đinh Mão (967), Đỗ tướng công lại
đem quân thu phục thành Quèn, cùng Đinh Bộ Lĩnh giao phong ngót 1 năm trời.
Ngày 8 tháng giếng năm Mậu Thìn (968), Đỗ tướng công
cùng Đinh Bộ Lĩnh giao phong ở khu vực núi Hoàng Xá. Ông bị quân của Đinh Bộ
Lĩnh núp trên núi bắn trúng một mũi tên tẩm độc. Ông chạy đến chân núi Sài thì
chết, thọ 56 tuổi. Ngựa xích thố của ông chạy trở lại núi Ỏn hí vang như sấm
rồi chết tại đó.
Khi Đỗ tướng công thất thủ chạy về núi Sài, bà bán
nước thấy ngài còn ngồi trên ngựa, ngửa mặt lên trời mà nói lớn: “Ta sống là anh hùng cái thế cứu dân, cứu
nước. Ta chết làm tam xã vi thần hộ tướng hộ dân an lạc thái bình”. Ngài
ngã ngựa, quân của ngài chạy theo đã nghe tiếng ngựa hí ở núi Ỏn, vì rừng rậm
không ai tìm thấy xác ngài. Sáng hôm sau, bà cụ ra nơi ngài hóa đã thấy mối đùn
thành gò lớn, từ đó bà cụ hàng ngày hương khói cho ngài. Một đêm cụ nằm mộng
thấy Ngài oai phong lẫm liệt bảo rằng: “Ta
sẽ là Thành Hoàng Tam Xã, nhân dân Tam Xã sẽ nhang đèn cho bà cùng với ta”. Ít
lâu sau bà cụ ra đi như giấc ngủ. Lúc ấy nhân dân biết được việc ấy mới làm một
gian nhà bằng cỏ gianh trên mộ để cúng bái. Lúc này chưa ai biết tên húy của
Ngài nên chỉ khấn:”Đẳng thần Tướng Quốc
vị Vương Tam Xã”. Hai năm sau, 2 quan đồng liêu của Ngài là Dương Cát Lợi
và Lữ Sử Bình đi tìm và thăm mộ ngài, nhân dân mới biết tên húy của Ngài. Từ đó
hàng năm cứ đến mùng 8 tháng giêng, nhân dân lại tổ chức cúng tế Ngài. Trước
khi chính tế thì tế hàng ngang cho bà bán nước - tế hàng ngang chỉ mặc áo dài đen, khăn gõ...tế
trầu cau hương nước, quả thực.
Lại nói việc xây dựng đền Tam Xã: Khi Đinh Bộ Lĩnh lên
ngôi hoàng đế , lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng, Hoàng hậu là Dương Vân Nga (vợ thứ).
Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân là người có đức, có tài. Trước đây, từ
thời Ngô Vương, Dương Vân Nga và Lê Hoàn còn ít tuổi đã có thầm ý với nhau. Sau
khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích ám hại, ấu chúa còn non nớt, bên ngoài giặc lăm
le. Mẹ chồng Thái hậu là người có đức, nghĩ đến sơn hà xã tắc, hai mẹ con bàn
nhau tìm người tài đức ra gánh vác việc nước. Thái hậu thường bàn quốc sự với
Thập đạo. Một đêm suy nghĩ tới vận mệnh quốc gia, Thập đạo đang ngủ thấy tướng
quân Cảnh Thạc uy nghi đứng bên mà nói rằng “Trung
quân phải lấy sơn hà làm trọng, không thể để ngoại bang giày xéo mồ mả ông
cha”. Thập đạo giật mình tỉnh dậy, rồi nói chuyện với Thái hậu. Thái hậu
bèn giao cho Thập đạo tìm nơi Ngài an nghỉ để lễ tạ. Được nhân dân mách bảo,
Thập đạo đã về miếu thờ Ngài thắp hương cầu khấn.
Ngay đêm đó, Thái hậu được ngài báo mộng “Ngàn năm Bắc thuộc, dân ta rên xiết dưới
ách tham tàn của giặc, nay dân ta cần có người tài cao, đức rộng để giữ vững
sơn hà xã tắc. Thái hậu hãy gọi Thập đạo nói rõ mộng ấy”. Thái hậu bèn nói
lại với mẹ chồng. Được phép mẹ chồng, Thái hậu họp triều. Một số quan tướng họp
triều có ý mến phục Đỗ tướng công nay đã quy tiên mà vẫn lo cho đất nước, lại
mong triều đình và Thái hậu sớm tìm được người gánh vác giang sơn nên trong
cuộc họp triều khẩn cấp đã chấp hành ý thân mẫu tiên đế, Thái hậu trao áo cẩm
bào cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Trước khi lên ngôi, Lê Hoàn đã gửi vàng
bạc cho dân 3 xã Đa Phúc, Sài Khê, Thụy Khê
xây dựng đền Tam Xã để thờ ngài. Sau khi Lê Hoàn lên ngôi, xưng là Lê
Đại Hành, đã sắc phong cho ngài là Thượng Đẳng thần vương. Các triều đại sau
đều có sắc phong cho Ngài.
Nhân dân trong vùng cảm ơn công đức của Ngài suốt 36
năm trời đánh đông dẹp bắc, chống giặc ngoại xâm, phù tá suốt 3 triều nhà Ngô,
bên trong giúp nhà vua sửa sang triều chính, bên ngoài đặt đồn, cử tướng chống
giặc ngoại xâm, đồng thời dạy dân cày cấy, buôn bán làm ăn, mở ra một thời kỳ
độc lập, tự chủ, thịnh vượng, chấm dứt ách đô hộ một ngàn năm của phương Bắc.
Vì vậy, nhân dân trong vùng đều lập đền thờ để nhớ công đức của Ngài.
Vì tình nghĩa đồng liêu, tôi về đây viếng mộ Ngài,
nhân tiện viết vài trang sử của ngài để lưu lại cho đời sau.
Đại thắng Minh Hoàng đế
Đệ tam niên tuế thứ Canh Ngọ
(970)
Dương
Cát Lợi Lữ
Sử Bình
Đoàn họ Đỗ Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam và Ban quản lý di tích trong lần khảo sát ở Đền Tam Xã ở xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội cuối năm 2011
Các câu đối và thơ đề trong đền:
Câu
đối của Lữ Sử Bình:
Phạt Bắc chinh Đông, uy vũ trấn nhị triều Hán chúa
Giáo
dân hộ quốc, đức quang lưu tam thế Ngô vương
Câu
đối của Trạng nguyên Phan Thế Hoan:
Vô
luận hiểm nguy, trung quân tráng khí phong lôi khởi
Bất
tri tung hải, ái quốc huân danh nhật nguyệt quang
Câu
đối của Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan:
Thung mộc trùng trùng, vạn cổ uy danh lưu quốc sử
Hỏa
thuyền nhiễm nhiễm, nhất nhung đại định tráng nhân tâm
Câu
đối của Nguyễn Trãi:
Quốc
thù tẩy tận thiên niên sỉ
Kim
quỹ trung tăng vạn tuế công
Giải
thanh vạn lý khê xuân nguyệt
Kỳ
cước thiên nham thảo mộc phương
Câu
đối của Cao Bá Quát:
Nghĩa
kỳ nhất khởi phong lôi động
Uất
kiếm tam ma Hán tặc tiêu
Quốc
Oai tự nhiệm truyền thánh đức
Bạch
hạc trường chinh xuất hổ thao
Câu
đối của Bà huyện Thanh Quan:
Thiên thị cao cao vân long nguyệt
Phật
đài lâm lẫm hỏa sinh phong
Một số các câu đối mà các danh nhân về
viếng mộ Ngài đã để lại cho nhân dân sùng bái.
Hiện nay còn văn bia:
Thừa tướng Lư gia
Bài vị Lã Cường
Thiên hiền văn chỉ: Phan Thế Hoan, Phan
Hồng Nho, Phan Bỉnh Quân, Phan Cẩm còn lưu trữ tại đình Đa Phúc.
|