Thứ tư, 22/04/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
THẦN PHẢ THỜ ĐỖ TƯỚNG CÔNG E-mail
05/02/2012
       Thần phả thờ Đỗ Tướng Công được cụ Phùng Khắc Khoan phát hiện và giới thiệu:

          " Mùa hè năm Nhâm Dần, tôi về chùa Thầy nghỉ mát, nhân ngày lễ vào hè của dân làng, tôi vào đền Thành Hoàng dâng hương, được các cụ già trong làng nhờ đọc thần phả.

          Cuốn thần phả này được viết từ sau khi Đỗ Tướng Công mất hai năm, tức ngày mùng 8 tháng giêng năm Canh Ngọ, do hai quan đồng liêu của ngài là Lữ Sử Bình và Dương Cát Lợi nhân về viếng mộ Tướng công đã ghi lại công lao của Ngài vào sinh ra tử, nêu cao tấm gương trung nghĩa suốt 36 năm trời phò vua đánh giặc giữ nước, một lòng vì nhân dân.

          Tướng công phò suốt ba đời nhà Ngô, trải bao biến cố vẫn giữ một lòng trung hiếu, không màng danh lợi, cống hiến cả cuộc đời cho dân, cho nước. Thật là một tấm gương trung hiếu chói lọi cho đời sau noi theo."

          Bản Thần phả  nguyên văn bàng chữ Hán đã được dịch ra chữ Quốc ngữ, do Hội đòng dòng họ Đỗ xã Tây Mỗ chuyển cho chúng tôi. Xin cám ơn bà con họ Đỗ Tây Mỗ và trân trọng giới thiệu với bà con họ Đỗ cả nước cùng bạn đọc tài liệu quí này.

 

THẦN PHẢ

THỜ ĐỖ TƯỚNG CÔNG


Lời giới thiệu thần phả

Của cụ Phùng Khắc Khoan

          Mùa hè năm Nhâm Dần, tôi về chùa Thầy nghỉ mát, nhân ngày lễ vào hè của dân làng, tôi vào đền Thành Hoàng dâng hương, được các cụ già trong làng nhờ đọc thần phả.

          Cuốn thần phả này được viết từ sau khi Đỗ Tướng Công mất hai năm, tức ngày mùng 8 tháng giêng năm Canh Ngọ, do hai quan đồng liêu của ngài là Lữ Sử Bình và Dương Cát Lợi nhân về viếng mộ Tướng công đã ghi lại công lao của Ngài vào sinh ra tử, nêu cao tấm gương trung nghĩa suốt 36 năm trời phò vua đánh giặc giữ nước, một lòng vì nhân dân.

          Tướng công phò suốt ba đời nhà Ngô, trải bao biến cố vẫn giữ một lòng trung hiếu, không màng danh lợi, cống hiến cả cuộc đời cho dân, cho nước. Thật là một tấm gương trung hiếu chói lọi cho đời sau noi theo.

 

                          Ngày mùng 4 tháng 4 năm Nhâm Dần

                                       Phùng Khắc Khoan

 


            Từ họ Hồng Bàng lập quốc, nước Văn Lang ra đời trải qua 18 đời vua Hùng giữ nước. Trên 2000 năm thanh bình, ngoại bang lăm le đều thất bại. Nhà Thục kế thừa vua Hùng, nước Âu Lạc ra đời. An Dương Vương kế vị, vì buông thả, mất cảnh giác mà đất nước bị Tàu đô hộ. Các bậc danh tướng, vương tá anh hùng có công hộ quốc, trung lương nghĩa khí khôi phục đất tổ khi hóa đi, triều đình và nhân dân nhớ đến công ơn, muôn thưở lưu danh sự tích lâu dài nên mới xây dựng đền đài, cung điện, lăng miếu ở nhân gian thờ cúng cùng trời đất không bao giờ mất.

          Trải qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, từ nhà Tây Hán (111 trước Công nguyên) đến nhà Đường (905 sau Công nguyên), nước ta đã bị 12 nhà phương Bắc thay phiên nhau đô hộ. Nhân dân ta đã liên tiếp vùng lên khởi nghĩa như Trưng Vương (năm 24 - 40), Bà Triệu, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Mai Thúc Loan (722 đến 906) Khúc Thừa Dụ.

          Khúc Thừa Dụ là hào trưởng đất Hồng Châu thuộc Cao Bồ (Ninh Giang – Hải Dương ngày nay), nhân cơ hội nhà Đường đổ nát, năm Bính Dần (906) đòi nhà Đường phải giao chức Tiết độ sứ cho ông. Ngày 7 tháng 2 năm 906, ông xưng là Đổng Bình Vương. Ngày 23 tháng 7 năm 907, ông ốm chết, con là Khúc Thừa Hạo lên thay. Ngày 1 tháng 9 năm 917, Khúc Thừa Hạo chết, con là Khúc Thừa Mỹ lên thay. Năm 930, nhà Lương thôn tính nhà Đường, nhà Tấn xâm chiếm nước ta thôn tính nhà Lương, bắt Khúc Thừa Mỹ về Quảng Châu rồi chết ở đó.

          Tướng của Khúc Thừa Mỹ là Dương Đình Nghệ ở Ái Châu (Thanh Hóa) tiếp tục đánh lại quan nhà Tấn là Lý Khắc Chỉnh và thứ sử Lý Tiễn, giết Trần Bảo năm Đinh Dậu (937). Chống giặc thắng lợi, ông xưng là Tiết độ sứ, nguyên thủ Giao Châu, mở đầu thời kỳ xây nền tự chủ.

-         Ngô Quyền là con rể Dương Đình Nghệ trấn thủ Châu Ái

-         Đinh Công Trứ làm Thứ sử Châu Hoan

-         Trần Lãm làm Đô đốc miền duyên hải

-         Kiều Công Tiễn là gia tướng Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ

          Cuối năm Đinh Dậu, gia tướng Kiều Công Tiễn ám sát nguyên thủ Dương Đình Nghệ, chiếm địa vị nguyên thủ Giao Châu rồi mật báo nhà Nam Hán.

          Tiếc cho Dương Đình Nghệ chống giặc 8 năm (930 – 938), thắng lợi chưa được bao lâu, thì ngaọi bang lại lăm le xâm chiếm nước ta. Ngô Quyền là con rể, lại là một tướng có tài đức, đã đứng lên cầm lái con thuyền đất nước đầy sóng gió. Đó là sự kế tiếp hào hùng của dân tộc: Ngô Quyền – người anh hùng thời đại.

          Có một vị tướng tài ba, một người em nuôi trung hậu đã đứng bên Ngô Quyền, cùng gánh vác sự nghiệp dân tộc – đó là Đỗ Tướng Công, húy Cảnh Thạc, sinh ngày 14 tháng giêng năm Nhâm Thân (912). Thân phụ ngài là Đỗ Quảng Lăng, mẹ là Trần Thị Thọ thuộc Đỗ Đỗng Giang, Ấp Động (huyện Thanh Oai bây giờ).

          Đỗ Tướng Công lúc thiếu thời là một cậu bé thông minh khỏe mạnh, năm lên tám tuổi đã biết bày ra các trò chơi ngộ nghĩnh. Năm 12 tuổi đã biết cưỡi ngựa, bắn cung, theo cha đi săn muông thú. Năm 16 tuổi đã có chí lớn, thấy bọn quan quân nhà Nam Tấn ngông nghênh đánh đập dân chúng, cướp bóc lợn gà... thì máu nóng sục sôi, mắt trợn đỏ ngầu những muốn moi gan, móc mật chúng. Một hôm giặc vào bắt lợn của nhà, ông xông ra giằng lợn lại bị chúng đánh đập, cáu tiết ông giằng chiếc đòn khiêng lợn đánh túi bụi, sau vì thế cô mà bị chúng quây bắt trói lên cây và xẻo mất một bên tai. Sau việc này, lòng căm thù sôi sục, ông quyết tìm thầy học võ.

          Sau 3 năm khổ luyện, ông đã trở thành một thanh niên võ nghệ siêu quần, ông xin phép thầy trở về Ấp Động. Khi ông về tới ấp thì một cảnh tượng đau thương đã bày ra trước mắt: Trước đó 1 tháng, giặc đã kéo đến ấp cướp bóc đàn áp, dân ấp người chết người chạy trốn, nhà ông bị đốt cháy, cha mẹ bị giặc giết. Ông than khóc hồi lâu rồi thu lượm hài cốt cha mẹ đem mai táng. Xong việc, ông lững thững xách kiếm vào rừng. Nửa đêm hôm ấy, ông nén đau thương lẻn vào trại giặc do thám tình hình, địa thế. Ngày hôm sau, ông chuẩn bị cỏ khô, nửa đêm cõng cỏ lẻn vào trại giặc đốt kho lương thảo, kho vũ khí, chuồng ngựa. Khi lửa cháy to thì giặc mới biết. Giữa lúc hỗn loạn, ông vung kiếm chém giết, đầu giặc rơi như lá rụng, thây chất ngổn ngang, ông rút lui vô sự. Thật là:

                     Một mình một trận xông pha

                     Đầu giặc thì rụng, kho nhà lửa thiêu

                     Tuổi đời mười chín thân yêu

                    Thù nhà nợ nước gương nêu muôn đời

          Sau đó ông đi khắp nơi trong vùng, giao kết với những anh hùng hào kiệt như:

-         Đặng Khôi ở ấp Đường

-         Nguyễn Thanh ở ấp Nguyên

-         Nguyễn Thuật ở ấp Thiên Phúc

-         Ngô Quyền ở ấp Thọ và tiếp xúc với Ngô Mân là cha Ngô Quyền.

Ông đến Giao Châu vào yết kiến Dương Đình Nghệ, lúc này đã có quân thế rất mạnh. Ông ở đấy ít lâu, thấy Dương Đình Nghệ không hợp tâm ý, ông bèn nghe Ngô Quyền quay về ấp Động chiêu mộ trai tráng trong vùng, ngày đêm rèn luyện đao cung. Khi bộ tướng đã có vài chục, tráng đinh đã có vài trăm, ông liền đem quân về đóng ở ấp Quèn là nơi hiểm yếu, tiến hành xây thành đắp lũy. Ngày mùng 6 tháng 6 năm Quý Tị (933), ông tế cờ khởi nghĩa. Được tin này, quân Tấn kéo đến vây đánh, nhưng vì thành quách bốn bề là đầm nước mênh mông, lau sậy cây cối um tùm, phải thuyền độc mộc mới ra vào được, lại thêm quân cung nỏ núp trong bụi rậm bắn ra nên quân giặc bị chết lẫn bị thương rất nhiều, chúng phải rút về.

     Máu uất hận trong lòng nung nấu, đến đêm 30 thăng 5 nămg Giáp Ngọ (934) ông quyết một trận sống mái với kẻ thù để báo thù nhà trả nợ nước. Ông tuyển 100 quân tinh nhuệ, mỗi người mang một bó cỏ khổ và binh khí, nửa đêm lẻn vào doanh trại giặc phá cổng lũy cho đội kỵ binh xông vào. Lửa cháy ngút trời, quân ta từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, quân giặc hỗn loạn, giày xéo lên nhau, đứa chết thiêu, đứa chết chém. Tên chủ tướng là Ngưu Truật bị bắt sống. Ông chặt đầu Ngưu Truật làm lễ tế oan hồn cha mẹ. Nhân dân trong vùng vui mừng phấn chấn mang trâu bò, rượu đến khao quân.

     Tháng 6 năm Ất Mùi (935), ông nhận được thư của Ngô Quyền mời họp quân đánh Bạch Hạc. Trận này quân ta cũng đại thắng, chém chết tên chủ tướng Lương Ngột tại trận tiền, thu được nhiều lương thảo binh khí, lừa ngựa. Hai người bàn luận rất ý hợp tâm đầu, ông có ý phục Ngô Quyền là người tài cao đức rộng, muốn đem quân theo giúp để xây dựng cơ nghiệp nhưng chưa tiện nói ra. Từ đó từ trấn Sơn Tây đến Quốc Oai không còn một bóng tên quan xâm lược. Nhân dân suy tôn ông là: Mãnh tướng siêu quần Độc Nhĩ Đại Vương.

     Tháng 10 năm Bính Thân (936), ông cất quan đi đánh đồn Đỗ Đồng. Trận này ông chia quân làm 3 đạo tác chiến:

-         Đạo thứ nhất là bộ binh do phó tướng Phan Truật chỉ huy

-         Đạo thứ hai là đội kỵ binh do tả tướng quân Đặng Khôi chỉ huy tiến theo đường rừng núi vòng xuống rồi đánh thốc ngược lên

-         Đạo thứ ba là thủy quân do Hữu tướng quân chỉ huy xuôi thuyền theo sông con đánh xuống.

Lúc đầu giặc tưởng chỉ có đạo quân bộ nên chúng dốc toàn lực ra uy hiếp quân ta, không ngờ đạo kỵ binh từ Đông Nam đánh lên, thủy quân từ Tây Bắc đánh xuống, quân giặc bị đánh rối loạn hàng ngũ, đội kỵ binh xông vào chém giết, thây chết ngổn ngang. Tên chủ tướng Trương Hoạch đang giao chiến với Đặng Khôi bị ông bắn trúng 1 mũi tên ngã ngựa. Đặng Khôi bồi thêm một giáo kết liễu đời tên xâm lược. Chỉ trong nửa buổi chiều mà trại giặc đã tan tành, quân ta đại thắng, thu nhiều chiến lợi phẩm. Ông xuất kho khao thưởng ba quân, nhân dân phấn khởi mở hội ăn mừng 3 ngày. Từ đó suốt một dải từ Trấn Sơn đến Trấn Đông Bộ không còn bóng một tên xâm lược, nhân dân một lòng quy phục dưới cờ.

     Ngay từ buổi đầu, vốn đã phục Ngô Quyền là người tài cao đức rộng nên ngày 15 tháng giêng năm Đinh Dậu (937), ông đem quân về với Ngô Quyền, tôn Ngô Quyền là Đại huynh. Từ đó hai người thân nhau như hai anh em ruột, mọi việc lớn nhỏ đều thông qua nhau rồi mới quyết. Lên triều thì giữ đạo bề tôi rõ ràng, bàn quốc sự; về nhà thì ăn cùng mâm ngủ cùng giường, huynh đệ thân tình. Cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm thành công, Dương Đình Nghệ làm Tiết độ sứ, đóng ở đất Giao Châu – thành Đại La.

     Cuối năm Đinh Dậu, Kiều Công Tiễn ám sát nguyên thủ Giao Châu rồi sang Quảng Châu cầu cứu làm nội ứng cho Nam Hán xâm lược nước ta. Vưa Nam Hán là Lưu Cung vui mừng khôn xiết. Ngô Mân là cha Ngô Quyền biết tin gọi con đem quân về đánh Kiều Công Tiễn. Ngô Quyền cử ông làm tiên phong vây thành Đại La, chém chết Kiều Công Tiễn, thu ấn kiếm Tiết độ sứ về. Hai con của Kiều Công Tiễn là tướng ở Phong Châu và Hồi Hồ, là Kiều Công Hãn và Kiều Công Thuận được Ngô Quyền biên thư động viên, nói “ai có tội thì trị tội, là con không có tội thì phải hết lòng vì quốc gia hữu sự”.

     Tháng 2 năm Mậu Tuất, chúa Nam Hán là Lưu Cung sai Thái tử Hoằng Thao mang 10 vạn quân sang xâm lược nước ta và tự mình mang 5 vạn quân đi sau tiếp ứng. Ngô Quyền sai Đỗ tướng công ra trấn giữ cửa Bạch Đằng. Ông bàn với Ngô Quyền dùng cọc nhọn đóng ở lòng sông, lấy cỏ khô chất đầy 50 thuyền lớn, vẩy thêm dầu mỡ đặt ở phía thượng lưu cách bãi cọc chừng vài dặm. Lợi dụng nước thủy triều lên, ông cho quân ra khiêu chiến, đánh được vài hiệp bèn giả vờ thua, bơi thuyền chạy ngược dòng. Khi thuyền giặc đã vào hết bãi cọc, quân ta đánh quật lại. Nước thủy triều rút, quân ta đánh thọc vào rồi giãn quân ra hai bên, nhảy lên bờ cùng quân cung nỏ bắn xuống. Năm mươi thuyền giương buồm nhổ neo, đốt lửa lao vào thuyền giặc. Quân giặc rối loạn, chết cháy, chết đuối, chết vì tên bắn, thây giặc đặc khúc sông. Ông bắt sống Đô đốc Hoằng Thao. Sau trận này, Ngô Quyền xưng vương, phong ông làm Thái úy đứng đầu các quan võ (năm 939). Từ đó chúa Nam Hán Lưu Cung, chúa Nam Tấn Tào Huyền Tích đều sợ vỡ mật, không dám bén mảng xâm lược nước ta.

     Mở đầu thời kỳ tự chủ độc lập, trong thời gian nước nhà hòa bình, ông giúp Ngô vương sửa sang triều chính, đặt quan châu ở các châu ấp, mở các lớp huấn luyện cung thương đao kiếm để đào tạo võ quan, đặt đồn trấn thủ các nơi hiểm yếu đề phòng giặc giã, mở trường dạy dân học chữ, cuốc đầm cày cấy phá đồi làm ruộng, mở ra một thời kỳ thái bình thịnh trị, đóng đô ở Cổ Loa, kinh đô Âu Lạc.

     Năm Giáp Thìn 944, Ngô Vương lâm bệnh, cho gọi Thái tử Xương Ngập, hoàng tử Xương Văn, quốc cữu Dương Tam Kha, thái y Nhi Thông, Tiền đạo tướng quân Phạm Bạch Hổ, Hữu tướng quân Dương Cát Lợi, Tả tướng quân Đỗ Cảnh Thạc, cận vệ Ngô Nhật Khánh... đến bên giường. Ngô Vương nói: “Trẫm bệnh tình đã đến lúc không thể chữa trị được nữa. Sống chết là luật vô thường tạo hóa không ai tránh khỏi. Đất nước trải qua hơn một ngàn năm Bắc thuộc, dân ta rên xiết dưới ách thống trị tham tàn của quân xâm lược. Dương tướng công nuôi chí lớn cứu dân, cứu nước, chẳng may người sớm quy tiên. Trầm tuy tài hèn sức kém cũng cùng các khanh đem tâm huyết vào sinh ra tử giết kẻ nội thù, chống quân ngoại xâm, giữ vững nền độc lập tự chủ cho đất tổ. Thể theo ý muốn của các khanh và toàn dân, Trẫm lên ngôi Cửu Ngũ, không ngờ trời chẳng chiều lòng người, nửa đường Trẫm phải vĩnh biệt các khanh.

     Nay Trẫm đem con côi phó thác các khanh, nhất là Dương Quốc cữu. Các khanh hãy đem tất cả nhiệt tình phù tá Trẫm bấy lâu nay ra giúp con Trẫm làm tròn sứ mạng quân vương, để sơn hà xã tắc này muôn đời bền vững. Riêng Quốc cữu, Trẫm biết thái tử không phải là người có tài trí để chăm lo việc nước, tuổi cháu còn ít, kinh nghiệm đường đời chưa có, nhiệm vụ đối với sơn hà xã tắc thì quá lớn lao, cháu có làm tròn được thiên chức mà toàn dân mong đợi cũng là nhở ở sức phù trợ của Quốc cữu...”

     Ngay đêm đó, Quốc cữu Tam Kha cấm mọi người vào cung, rồi cùng bọn hoạn quan Văn Súy, ngự lâm quân Dương Hùng Cường, tham chính Ngụy Như Hòa họp kín, bàn chuyện cướp ngôi vua.

     Tam Kha gặp chị ruột ( vợ Ngô Quyền) bàn việc đưa Thái tử Ngô Xương Ngập lên ngôi, mặt khác mật sai Văn Súy cùng Hùng Cường ám sát hoàng tử và Thái tử. Cung tần Thúy Nga biết mưu đó, chịu ơn Ngô Vương nên mật báo cho Đỗ Thoan và Phạm Bạch Hổ, hai người bảo vệ Thái tử và hoàng tử chạy trốn. Ngụy Như Hòa gặp Triệu Quốc Hùng, Lê Văn Mạnh, Dương Cát Lợi, Đỗ Cảnh Thạc và Phạm Bạch Hổ thăm dò việc Hoàng hậu cho Dương Tam Kha lên ngôi.

     Văn Súy và Hùng Cường không ám sát được Thái tử và hoàng tử, Tam Kha bèn sai Quốc Hùng và Cảnh Thạc đi tìm Thái tử và hoàng tử về để lên ngôi. Ngô Nhật Khánh và Đỗ Cảnh Thạc tìm cách cho Phạm Bạch Hổ đưa Thái tử và hoàng tử mỗi người một nơi chờ thời cơ.

     Ngay hôm sau Dương Tam Kha họp triều đình tự lên ngôi xưng là Bình Vương. Lúc đó quan Đại phu là Phạm Man mắng Tam Kha liền bị chém ngay, cả nhà bị tru di. Chỉ có con trai Phạm Man là Phạm Cự Lượng chạy trốn được, gặp Nguyễn Phục là con trai Nguyễn Cự, được Nguyễn Cự giúp chạy thoát.

     Lại nói về Đỗ tướng công, một hôm ông họp chư tướng rồi giả vờ đem quân dẹp loạn thôn Đường, ấp Nguyễn rồi quây lại vây thành Cổ Loa, trong thành ủng hộ. Ông bắt Tam Kha lột mũ áo, thu ấn kiếm rồi sai hai tướng đi đón Thái tử Ngô Xương Ngập, hoàng tử Ngô Xương Văn về triều, cùng các quan và tướng lĩnh trong triều tôn Thái tử làm Thiên Sách Vương. Trong thời gian này, nước nhà thịnh trị, suốt từ Bắc đến Nam không một bóng quân xâm lược, nhân dân yên ổn làm ăn. Đỗ tướng công tâu với Thiên Sách Vương phong tước cho các công thần để vừa cai trị nhân dân, vừa giữ gìn giặc giã. Tháng giêng năm Nhâm Tí, vua xuống chiếu gia phong:

-         Kiều Công Hãn làm Thứ sử Phong Châu, trấn thủ Tây Bắc

-         Ngô Nhật Khánh làm Thứ sử Giao Thủy, trấn thủ Đông Bắc

-         Nguyễn Khoan làm Thái thú Yên Lạc, trấn giữ Trung Bắc

-         Lý Khuê làm Ngự sử Thuận Thành, trấn giữ cận Đông

-         Nguyễn Thủ Thiệp làm Thái thú Nhật Nam, trấn thủ cận đô

-         Lã Đường làm Thái thú Văn Giang, trấn thủ Đông Nam

-         Kiều Công Thuận làm Thái thú Trương Xá, trấn thủ Tây Nam

-         Nguyễn Siêu làm Thái thú Phù Liệt, trấn thủ Tây đô

-         Ngô Xương Xí làm ngự sử Ích Châu, trấn thủ miền nam

-         Phạm Bạch Hổ làm Thái thú Đằng Châu, trấn thủ Đông Nam

-         Trần Lãm làm Đô đốc thủy quân, trấn thủ duyên hải

-         Nguyễn Truật, Nguyễn Thạch, Đặng Khôi làm Chỉ huy sứ thống lĩnh quân bộ.

-         Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát Lợi, Phan Truật làm Thái úy ngự lâm quân tại triều, giúp vua điều hành việc nước. Các quan văn võ triều thần được phong thêm một bậc.

Tháng 10 năm Giáp Dần (954), Thiên Sách Vương băng hà, Đỗ Cảnh Thạc cùng các quan trong triều tôn hoàng tử Ngô Xương Văn lên ngôi, làm Nam Tần Vương. Dưới triều Nam Tần Vương, thiên hạ thái bình thịnh trị, độc lập tự chủ hoàn toàn.

     Tháng 10 Quý Hợi (963), thám mã về báo Thủy quân đô đốc mưu phản, vua xuống chiếu vời Trần Lãm về triều. Lãm cáo ốm và dâng biểu nói là binh quyền đã giao cho nghĩa tử Đinh Bộ Lĩnh.

Tháng 2 Giáp Tí (964), vua lại xuống chiếu vời Đinh Bộ Lĩnh về triều. Đinh Bộ Lĩnh không về, nói là giặc lăm le ngoài bể, sợ xẩy ra bất trắc không dám về và gửi con trai là Đinh Liễn về làm con tin.

Tháng 12 Ất Sửu (965), Nam Tần Vương băng hà, nhà Ngô không có người nối dõi, triều thần không cử được người làm vua. Đinh Bộ Lĩnh biết tin kéo quân về đóng ở Hoa Lư, nói là bảo vệ quốc tang, thực sự tỏ ý chống lại triều đình. Triều đình cất quân định dẹp nhưng bị thua. Đinh Bộ Lĩnh lấy cớ kéo đến vây thành Cổ Loa. Triều đình liền treo Đinh Liễn lên cây, bảo Đinh Bộ Lĩnh nếu không rút quân thì giết Đinh Liễn. Đinh Bộ Lĩnh liền giương cung và nói lớn: Ta là người anh hùng có chí, chứ đâu phải một nữ lưu thương hại đứa con nít mà bỏ việc lớn. Nói đoạn, Đinh Bộ Lĩnh bắn đứt dây, Đinh Liễn rơi xuống, đồng thời dẫn quân đánh ập vào thành. Quân trong thành bị đánh bất ngờ chạy hỗn loạn bỏ trốn hoặc xin hàng, những người kháng cự thắng ít thua nhiều. Tình hình nguy cấp, Đỗ tướng công liền rút quân về Bảo Đà chống lại Đinh Bộ Lĩnh. Lúc này quân sĩ của ông đã già yếu, lại quen hưởng lạc thái bình còn quân của Đinh Bộ Lĩnh thì toàn trai tráng khỏe mạnh, nên khi giao trận khó khăn. Ngày 18 tháng 7 năm Bính Dần (966), ông giao trại Bảo Đà cho Phan Truật và Đặng Khôi trấn giữ, còn mình cũng bộ tướng quay về tu bổ thành Quèn.

Đêm mùng 3 tháng 7, Đinh Bộ Lĩnh dẫn 2 tướng là Trịnh Tú và Lưu Cơ thống lĩnh 10 tướng và 500 quân lẻn đi đánh úp thành Quèn. Đỗ tướng công biết được mưu ấy, liền đem quân mai phục ở Quán Xanh. Khi quân Trịnh Tú và Lưu Cơ đến đấy, quân của ông xông ra đánh úp. Quân Trịnh Tú, Lưu Cơ thua chạy tán loạn.

Ngày 30 tháng 7 năm Bính Dần (966), Đinh Bộ Lĩnh sai 2 tướng Nguyễn Bậc và Đinh Điền đem theo 20 viên bộ tướng và 600 quân kéo thẳng đến gò Đồng Thịt hạ trại. Biết được tin ấy, ngay trưa hôm đó, Đỗ tướng công cho quân ăn no, sau đó mỗi người nắm một nắm cơm lẻn ra mai phục trong các bụi rậm ở xung quanh, hẹn đầu giờ Dậu thì ăn cơm, cuối giờ Dậu sang giờ Tuất thì bốn mặt nhất tề xông lên đánh vào trại. Quân Nguyễn Bậc, Đinh Điền phần đi xa mỏi mệt, phần ăn uống no say uể oải, bị đội kỵ binh thúc ngựa đánh mạnh, hàng ngũ liền rối loạn giày xéo lên nhau. Bị thua liền 2 trận, Đinh Bộ Lĩnh tức giận, định cất đại quân tiêu diệt thành Quèn. Các mưu sĩ bàn rằng: Đỗ Cảnh Thạc là người trí dũng, chỉ dùng đao kiếm thì không thắng, phải biết dùng mưu kết hợp mới thắng được. Đinh Bộ Lĩnh nghe lời, sáng hôm sau cho quân phao tin là chuẩn bị đánh đồn Bảo Đà, rồi cho quân đến cách đồn Bảo Đà 3 dặm hạ trại. Tướng giữ đồn Bảo Đà liền phi về báo thành Quèn. Đỗ tướng công liền giao cho các tướng giữ thành Quèn, còn ông cùng kỵ binh tiến ra Bảo Đà. Ngay hôm ấy, Đinh Bộ Lĩnh cùng 4 viên kiện tướng là Phạm Hạp, Phi Hùng, Lê Hoàn, Trương Lập, thống lĩnh 8000 quân, chia làm 4 mặt đánh úp thành Quèn. Tướng giữ thành không chống nổi phải rút chạy, Đinh Bộ Lĩnh xua quân vào thiêu đốt, đập phá tan hoang.

Ngày 14 tháng 2 năm Đinh Mão (967), Đỗ tướng công lại đem quân thu phục thành Quèn, cùng Đinh Bộ Lĩnh giao phong ngót 1 năm trời.

Ngày 8 tháng giếng năm Mậu Thìn (968), Đỗ tướng công cùng Đinh Bộ Lĩnh giao phong ở khu vực núi Hoàng Xá. Ông bị quân của Đinh Bộ Lĩnh núp trên núi bắn trúng một mũi tên tẩm độc. Ông chạy đến chân núi Sài thì chết, thọ 56 tuổi. Ngựa xích thố của ông chạy trở lại núi Ỏn hí vang như sấm rồi chết tại đó.

Khi Đỗ tướng công thất thủ chạy về núi Sài, bà bán nước thấy ngài còn ngồi trên ngựa, ngửa mặt lên trời mà nói lớn: “Ta sống là anh hùng cái thế cứu dân, cứu nước. Ta chết làm tam xã vi thần hộ tướng hộ dân an lạc thái bình”. Ngài ngã ngựa, quân của ngài chạy theo đã nghe tiếng ngựa hí ở núi Ỏn, vì rừng rậm không ai tìm thấy xác ngài. Sáng hôm sau, bà cụ ra nơi ngài hóa đã thấy mối đùn thành gò lớn, từ đó bà cụ hàng ngày hương khói cho ngài. Một đêm cụ nằm mộng thấy Ngài oai phong lẫm liệt bảo rằng: “Ta sẽ là Thành Hoàng Tam Xã, nhân dân Tam Xã sẽ nhang đèn cho bà cùng với ta”. Ít lâu sau bà cụ ra đi như giấc ngủ. Lúc ấy nhân dân biết được việc ấy mới làm một gian nhà bằng cỏ gianh trên mộ để cúng bái. Lúc này chưa ai biết tên húy của Ngài nên chỉ khấn:”Đẳng thần Tướng Quốc vị Vương Tam Xã”. Hai năm sau, 2 quan đồng liêu của Ngài là Dương Cát Lợi và Lữ Sử Bình đi tìm và thăm mộ ngài, nhân dân mới biết tên húy của Ngài. Từ đó hàng năm cứ đến mùng 8 tháng giêng, nhân dân lại tổ chức cúng tế Ngài. Trước khi chính tế thì tế hàng ngang cho bà bán nước -  tế hàng ngang chỉ mặc áo dài đen, khăn gõ...tế trầu cau hương nước, quả thực.

Lại nói việc xây dựng đền Tam Xã: Khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế , lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng, Hoàng hậu là Dương Vân Nga (vợ thứ). Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân là người có đức, có tài. Trước đây, từ thời Ngô Vương, Dương Vân Nga và Lê Hoàn còn ít tuổi đã có thầm ý với nhau. Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích ám hại, ấu chúa còn non nớt, bên ngoài giặc lăm le. Mẹ chồng Thái hậu là người có đức, nghĩ đến sơn hà xã tắc, hai mẹ con bàn nhau tìm người tài đức ra gánh vác việc nước. Thái hậu thường bàn quốc sự với Thập đạo. Một đêm suy nghĩ tới vận mệnh quốc gia, Thập đạo đang ngủ thấy tướng quân Cảnh Thạc uy nghi đứng bên mà nói rằng “Trung quân phải lấy sơn hà làm trọng, không thể để ngoại bang giày xéo mồ mả ông cha”. Thập đạo giật mình tỉnh dậy, rồi nói chuyện với Thái hậu. Thái hậu bèn giao cho Thập đạo tìm nơi Ngài an nghỉ để lễ tạ. Được nhân dân mách bảo, Thập đạo đã về miếu thờ Ngài thắp hương cầu khấn.

Ngay đêm đó, Thái hậu được ngài báo mộng “Ngàn năm Bắc thuộc, dân ta rên xiết dưới ách tham tàn của giặc, nay dân ta cần có người tài cao, đức rộng để giữ vững sơn hà xã tắc. Thái hậu hãy gọi Thập đạo nói rõ mộng ấy”. Thái hậu bèn nói lại với mẹ chồng. Được phép mẹ chồng, Thái hậu họp triều. Một số quan tướng họp triều có ý mến phục Đỗ tướng công nay đã quy tiên mà vẫn lo cho đất nước, lại mong triều đình và Thái hậu sớm tìm được người gánh vác giang sơn nên trong cuộc họp triều khẩn cấp đã chấp hành ý thân mẫu tiên đế, Thái hậu trao áo cẩm bào cho Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Trước khi lên ngôi, Lê Hoàn đã gửi vàng bạc cho dân 3 xã Đa Phúc, Sài Khê, Thụy Khê  xây dựng đền Tam Xã để thờ ngài. Sau khi Lê Hoàn lên ngôi, xưng là Lê Đại Hành, đã sắc phong cho ngài là Thượng Đẳng thần vương. Các triều đại sau đều có sắc phong cho Ngài.

Nhân dân trong vùng cảm ơn công đức của Ngài suốt 36 năm trời đánh đông dẹp bắc, chống giặc ngoại xâm, phù tá suốt 3 triều nhà Ngô, bên trong giúp nhà vua sửa sang triều chính, bên ngoài đặt đồn, cử tướng chống giặc ngoại xâm, đồng thời dạy dân cày cấy, buôn bán làm ăn, mở ra một thời kỳ độc lập, tự chủ, thịnh vượng, chấm dứt ách đô hộ một ngàn năm của phương Bắc. Vì vậy, nhân dân trong vùng đều lập đền thờ để nhớ công đức của Ngài.

Vì tình nghĩa đồng liêu, tôi về đây viếng mộ Ngài, nhân tiện viết vài trang sử của ngài để lưu lại cho đời sau.

 

Đại thắng Minh Hoàng đế

              Đệ tam niên tuế thứ Canh Ngọ (970)

 

Dương Cát Lợi                          Lữ Sử Bình

 

 

Đoàn họ Đỗ Việt Nam, Viện Sử học Việt Nam và Ban quản lý di tích trong lần khảo sát ở Đền Tam Xã ở xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội cuối năm 2011 

 

Các câu đối và thơ đề trong đền:

Câu đối của Lữ Sử Bình:

          Phạt Bắc chinh Đông, uy vũ trấn nhị triều Hán chúa

          Giáo dân hộ quốc, đức quang lưu tam thế Ngô vương

 

Câu đối của Trạng nguyên Phan Thế Hoan:

          Vô luận hiểm nguy, trung quân tráng khí phong lôi khởi

          Bất tri tung hải, ái quốc huân danh nhật nguyệt quang

 

Câu đối của Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan:

          Thung mộc trùng trùng, vạn cổ uy danh lưu quốc sử

          Hỏa thuyền nhiễm nhiễm, nhất nhung đại định tráng nhân tâm

 

Câu đối của Nguyễn Trãi:

          Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ

          Kim quỹ trung tăng vạn tuế công

 

          Giải thanh vạn lý khê xuân nguyệt

          Kỳ cước thiên nham thảo mộc phương

 

Câu đối của Cao Bá Quát:

          Nghĩa kỳ nhất khởi phong lôi động

          Uất kiếm tam ma Hán tặc tiêu

 

          Quốc Oai tự nhiệm truyền thánh đức

          Bạch hạc trường chinh xuất hổ thao

 

Câu đối của Bà huyện Thanh Quan:

          Thiên thị cao cao vân long nguyệt

          Phật đài lâm lẫm hỏa sinh phong

 

     Một số các câu đối mà các danh nhân về viếng mộ Ngài đã để lại cho nhân dân sùng bái.

 Hiện nay còn văn bia:

     Thừa tướng Lư gia

     Bài vị Lã Cường

     Thiên hiền văn chỉ: Phan Thế Hoan, Phan Hồng Nho, Phan Bỉnh Quân, Phan Cẩm còn lưu trữ tại đình Đa Phúc.

 

 

 

 

 


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn