|
Bản gốc của GS Hoàng Tụy
Một phần đã đăng trên báo mạng hn24h.com.vn (ngày 12/08/2012)
Từng người thông minh chưa đủ
Hoàng Tụy
Thứ hạng trí tuệ của người Việt Nam đạt 79/141 quốc gia. Đây thực sự
là một vị trí thấp. Bảng thứ hạng này đã khiến nhiều người đặt ra
câu hỏi: sức sáng tạo của người Việt Nam có thấp hay không và do
nguyên nhân nào lại bị xếp hạng thấp như vậy.
PV đã có buổi trao đổi với GS Hoàng Tụy – nhà toán học nổi tiếng về
vấn đề này.
Thưa giáo sư, vừa qua tổ chức sở hữu trí tuệ toàn cầu – WIPO
đã đưa ra bảng thứ hạng trí tuệ toàn cầu năm 2012. Trong đó đáng báo
động là Việt Nam xếp ở thứ hạng rất thấp: 79/141 quốc gia
(xem Tia Sáng,
số 15-05.8.2012) . Giáo sư có đánh giá như thế nào về điều này?
- Bảng xếp hạng nói đó là xếp hạng theo “chỉ số đổi mới/sáng tạo
toàn cầu” ta gọi tắt là bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu. Việt Nam
đứng ở thứ hạng khá thấp trong bảng đó: báo động đỏ là đúng, không
oan. Thực ra chẳng cần phải nghiên cứu kỹ, ai cũng thấy rõ điều này
ít nhất từ 20 năm nay rồi. Mọi người làm khoa học kỹ thuật, làm giáo
dục, ở Việt Nam đều ý thức rõ sự lạc hậu, sự yếu kém của chúng ta so
với thế giới. Trừ một số it người vì những lý do dễ hiểu cứ cố tình
nhắm mắt trước thực trạng đó, còn ai có chút lương tâm với đất nước
đều cảm thấy đau xót, tủi hổ. Những số liệu cụ thể càng khiến chúng
ta lo lắng hơn, vì thời nay một đất nước thua kém trí tuệ mà cứ dửng
dưng vô tư thì coi như đang … “chết lâm sàng”, như có người đã dùng
từ rất xác đáng.
Từ trước đến nay, chúng ta luôn tự hào về sự sáng tạo của
người dân Việt Nam, nhưng trong bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu, Việt
Nam lại đứng rất thấp. Phải chăng trí tuệ của con người Việt Nam
thực sự thấp?
- Không, xét từng con người có lẽ dân Việt không kém gì ai về trí
thông minh, chúng ta có thể tin như vậy. Tuy nhiên điều đó hoàn toàn
không mâu thuẫn với việc chúng ta đứng thấp trong bảng xếp hạng trí
tuệ toàn cầu. Mấu chốt vấn đề là trong bất cứ cộng đồng nào, tài trí
thông minh riêng lẻ của từng thành viên chưa làm nên sức mạnh trí
tuệ của cộng đồng, mà phải có tổ chức, cơ chế phù hợp, tạo ra một
môi trường khuyến khích, thúc đẩy tính tích cực năng động và phát
huy tài trí thông minh của từng cá nhân, từng bộ phận, liên kết tất
cả họ lại qua sự tương tác, hợp tác, tạo ra synergy (cộng năng) cần
thiết, nhân lên nhiều lần và liên tục khả năng, tài trí từng cá
nhân, từng bộ phận. Cái cơ chế đó có thể gọi nó là trí tuệ của hệ
thống, là phầm mềm vận hành hệ thống. Tất cả thông minh tài trí của
cộng đồng tập trung ở đấy, nhờ đấy mà ra, mà nhân lên. Cũng giống
như cái phần mềm của chiếc máy tính mà tồi thì máy tính vô tích sự,
dù các chip, các phần cứng của nó đều tốt.
Nhưng sự thật thì đất nước chúng ta luôn tự hào vì có những
con người tài giỏi được cả thế giới công nhận như Giáo sư Ngô Bảo
Châu và nhiều nhà khoa học danh tiếng khác. Và chúng ta cũng có
không it những thành tựu khoa học có giá trị. Bên cạnh đó có không
ít những em học sinh – sinh viên đoạt giải trong các kỳ thi quốc tế.
Vậy tại sao trí tuệ của chúng ta lại bị đánh giá kém như vậy, thưa
giáo sư?
- Đúng là chúng ta có nhiều người tài giỏi. Nhưng phải nói số đó vẫn
còn ít, quá ít so với tiềm năng thật sự của chúng ta, và hơn nữa
phần lớn còn ở nước ngoài hoặc hoạt động riêng lẻ. Lịch sử đất nước
ta luôn gắn liền với chống giặc ngoại xâm. Chúng ta phải thường
xuyên đấu tranh giành và giữ độc lập, thời gian xây dựng đất nước
luôn bị ngắt quãng, khiến chúng ta không có nhiều điều kiện để đầu
tư phát triển con người, phát triển đất nước. Ngay hiện nay, vừa
được hòa bình chưa bao lâu đã phải lo đối phó với mưu đồ xâm lăng
thâm độc của láng giềng phương Bắc.
Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất phải thừa nhận là chúng ta kém do
cơ chế, như đã nói trên. Mà nói đến cơ chế quản lý tức là nói đến
thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trước đây chúng ta theo
chế độ bao cấp, cái gì cũng do trên quyết định, người dân chỉ việc
nghe theo, làm theo, cái cơ chế đó có thể thich hợp với thời chiến,
nhất là khi có những nhà lãnh đạo kiệt xuất, một lòng một dạ vì Tổ
quốc, vì nhân dân. Nhưng qua thời bình cái cơ chế bao cấp đã biến
tướng thành lực cản tai hại, kiềm chế, hủy hoại, tiêu diệt nhiều
sáng kiến tich cực. Điều không may là cái cơ chế kiểu ấy có sức sống
dai dẳng, tuy về kinh tế đã bị lên án từ lâu nhưng tàn tich của nó
vẫn tiếp tục ngự trị trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã
hội. Báo động đỏ ở đây thực chất là báo động về thể chế. Nếu thể chế
không phù hợp mà cứ cố duy trì thì sự ức chế trí tuệ đối với xã hội
vô cùng tai hại. Giáo dục, khoa học không thể phát triển lành mạnh
bình thường, ắt phải tụt hậu ngày càng xa. Tài trí thông minh tàn
lụi, con người tha hóa, xã hội ngày một suy đồi. Người giỏi bỏ nước
ra đi, ai muốn phát triển tài năng đều tìm cách ra nước ngoài. May
ra còn một số ít có tâm có tài thì làm việc cô độc và không mấy
người được thật sự trọng dụng. Đó là nguy kịch thật sự chứ không
phải chỉ là báo động. Nói cho đúng, chúng ta từng có những nhà lãnh
đạo biết nhìn xa trông rộng, thấy trước ngủy kịch, đã nêu cao phát
triển giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Tiếc thay, cái chủ
trương ngàn lần sáng suốt ấy chưa bao giờ được thực hiện nghiêm
chỉnh trong mười lăm năm qua.
Trong nhiều năm qua chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu về kinh
tế, văn hóa, giáo dục. Điều này chứng tỏ chúng ta cũng đã có những
cải cách rồi đúng không ạ?
- Đánh giá thành tựu của chúng ta cần dè dặt và nên so sánh thực tế
với tiềm năng, so sánh ta với các nước khác, hơn nữa phải xem cái
giá phải trả cho các thành tựu ấy có thật xứng hay không . Còn về
cải cách thì đúng là chúng ta có làm nhưng còn nửa vời, chưa kiên
quyết, không nhất quán, nên kết quả còn rất hạn chế. Bây giờ đã là
thế kỷ 21 thì quản lý xã hội không thể như xưa. Lãnh đạo cần lấy dân
làm gốc, lo cho dân, đặt lợi ích đất nước lên trên hết, lắng nghe
dân, để dân tin, dân ủng hộ, thì đất nước mới có thể phát triển
nhanh và bền vững, và đối phó thắng lợi với mọi mưu đồ phá hoại từ
bên ngoài.
Như giáo sư đã nói ở trên, nhà nước và người dân luôn cần có
sự gắn kết, tương tác với nhau. Vậy thì muốn trí tuệ Việt phát
triển, người dân cũng là yếu tố quyết định, đúng không ạ?
- Hai cái này luôn song hành với nhau. Nhưng trong từng giai đoạn
chúng ta phải xác định được đâu là khâu then chốt cần chỉnh đốn. Tôi
còn nhớ câu chuyện ngày trước có lần cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng về
thăm một địa phương, nghe ông bí thư nơi đó báo cáo vì dân quá lạc
hậu nên việc gì cũng khó, Thủ Tướng nói ngay: đồng chí chê dân lạc
hậu, vậy đồng chí lãnh đạo ai ? Ông bí thư sau đó mới hiểu ra rằng
phải xem lại sự lãnh đạo trước khi đổ lỗi cho dân.
Nhiều người cho rằng một trong những nguyên nhân khiến chúng
ta bị đánh giá kém như vậy là do chúng ta chưa thực sự hội nhập toàn
cầu. Giáo sư có ý kiến gì về nhận định này?
- Đúng nhưng không hoàn toàn. Bởi toàn cầu hóa là xu thế tất yếu của
thời đại, muốn hay không nước nào cũng phải hội nhập mới có thể tiến
lên văn minh cùng thế giới. Nhưng hội nhập thành công hay không, đó
lại là do thể chế, cơ chế. Nếu cơ chế thông minh, sự hội nhập là một
xu thế tự nhiên tich cực thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Nhưng
hội nhập có nghĩa là phải đương đầu với sự cạnh tranh, đương đầu với
nhiều thách thức. Mà thách thức lớn nhất suy cho cùng cũng là thách
thức về trí tuệ. Chúng ta từng có nhiều bài học đau xót về chuyện
này.
Theo giáo sư, chúng ta nên làm như thế nào để trí tuệ người
Việt Nam rạng rỡ hơn và được bạn bè quốc tế công nhận?
- Như trên đã nói, phải cải cách thể chế, cơ chế quản lý. Cải cách
chính trị đi đôi với cải cách kinh tế, cải cách giáo dục. Cần dân
chù hóa chế độ, bài trừ tham nhũng, làm trong sạch bộ máy hành
chính. Chỉ trên cơ sở đó thì trí tuệ quốc gia mới có điều kiện phát
triển thuận lợi. Theo tôi hiểu, đó là ý nguyện của mọi công dân và
cũng là lời kết không nói ra của tác giả bài viết đăng trên Tia
Sáng. Cứ nhìn các nước trước đây không lâu chẳng hơn gì ta mà nay đã
tiến cách xa ta, xếp hạng trên ta rất nhiều trong bảng xếp hạng trí
tuệ này, đủ cho chúng ta suy ngẫm cần làm gì.
Xin cảm ơn Giáo sư!
GS Hoàng Tụy gửi cho
viet-studies ngày 13-8-12
Xem ra di họa còn dài…
Nghề y là một nghề khắc nghiệt, vì những sai lầm của nó nhiều khi
là vô phương cứu vãn, không thể sửa chữa được. Chương trình đào tạo y
khoa, nếu so với các trường đại học khác, có thể gấp hai đến ba lần, nếu
chỉ tính theo thời lượng và khối lượng kiến thức phải hấp thu: sáng
thực tập bệnh viện, chiều lên giảng đường nghe giảng, tối phải thức
trắng đêm trực bệnh viện. Đó là chưa kể, kiến thức y khoa tiến bộ như vũ
bão, tính trung bình sẽ tăng gấp đôi cứ mỗi 50 năm. Một thầy thuốc
thiếu mẫn tiệp và dư lười nhác sẽ mau chóng lạc hậu, thậm chí trở thành
nguy hiểm, nếu không chịu rèn luyện thói quen cập nhật kiến thức chuyên
ngành của mình trong một rừng những khuyến cáo, cập nhật về chẩn đoán,
điều trị.
Hiểu như vậy, không ai ngạc nhiên nếu thấy cuộc sàng lọc để có một
ghế sinh viên trường thuốc là vô cùng cam go và khắc nghiệt. Cuộc sàng
lọc này chỉ dành chỗ cho những học sinh ưu tú nhất, xuất sắc nhất về trí
lực và thể lực để có thể kham nổi một chương trình học cực kỳ nặng nề.
Nhiều sinh viên y khoa đã phải đánh mất những thú vui rất thường tình
của tuổi trẻ để ép mình kham khổ như nhà tu trong những năm tháng dùi
mài ở trường y.
Cũng dễ hiểu không kém, khi người ta thấy đa phần những sinh viên y
khoa ưu tú, đều có lai lịch na ná giống nhau. Hoặc xuất thân từ những
địa phương có truyền thống học hành. Hoặc lớn lên trong một gia đình
khoa bảng, trí thức. Quan trọng hơn hết, họ phải là những người xuất sắc
nhất, là người có chỉ số thông minh không tồi, đoạt được số điểm cao
nhất trong kỳ thi vượt vũ môn vào trường y, cũng khó khăn vào hạng nhất
này.
Những cái nhất đó là việc thường tình ở thời Đại Học Y khoa Sài gòn cũ, hay ở rất nhiều quốc gia khác.
Trừ xứ mình!
Vâng, trừ xứ mình với những chính sách tuyển sinh không giống ai, thậm chí quái gở!
Rất nhiều người vẫn chưa quên chính sách tuyển sinh theo lý lịch ở
những năm đầu sau 1975. Theo đó, một cậu học sinh có lý lịch tốt, nhóm
1- sẽ dễ dàng đoạt được một suất vào trường y với điểm 9 cho ba môn thi.
Ngược lại, một em cháu nào đó kém may mắn, có cha anh là “sĩ quan
ngụy”, đành ôm hận về sửa xe đạp vỉa hè cho dù điểm thi là 23-24 điểm.
Chính sách tuyển sinh ngày ấy đã góp phần “mang Việt Nam ra toàn thế
giới”, bằng cách gián tiếp đẩy khá nhiều thanh niên Việt Nam ưu tú nhưng
thất thời lên thuyền vượt biên, chỉ với một mục tiêu đơn giản: tìm một
ghế trên giảng đường đại học, thay cho những cánh cửa đã đóng chặt trên
chính quê hương mình. Nhiều người trong họ bỏ xác trên biển, nhưng cũng
nhiều người thành danh, làm rạng rỡ quê hương trên xứ người.
Vì kiến thức y khoa không phải là hoa trái tự rụng vào đầu, vì học y
hoàn toàn không dễ như lấy đồ trong túi, không ai ngạc nhiên khi thấy
các sĩ tử 3-môn-9-điểm hoàn thành chương trình bác sĩ vô cùng chật vật.
Lưu ban, thi lại, đậu vớt… cũng chẳng hề gì. Vì ở xứ mình, vào được là
ra được! Trường nào cũng thế, cứ gì trường y?
Nhưng sự ưu tiên không dừng lại ở đó. Sau khi ra trường, với lý lịch
dày dặn và những quan hệ sẵn có, những “hạt giống” này dễ dàng kiếm được
một chỗ làm tốt trong những bệnh viện lớn. Các học bổng đào tạo sau Đại
học cũng dành rất nhiều ưu ái cho họ. Ngoảnh đi ngoảnh lại, ta thấy họ
đã là giáo sư, tiến sĩ, chủ nhiệm bộ môn, đầu ngành… với rất nhiều học
vị mà dân trong nghề khi nghe đến chỉ biết lắc đầu cười nhẹ.
Chuyện xưa kể lại, tưởng đã không còn, lại giật mình kinh hãi khi đọc báo
thấy vẫn y nguyên. Người ta gọi đó là “chính sách đào tạo theo hợp
đồng”. Theo đó, người ta dành 50% (300 trên 600 thí sinh) để đào tạo bác
sĩ y khoa cho một số tỉnh XYZ nào đó.
Dĩ nhiên, những thí sinh này sẽ được một số điểm ưu tiên, đến nỗi
phải đánh rớt những học sinh ưu tú đạt 26 điểm nhưng vẫn không đậu vì
ngoài diện ưu ái nói trên.
Dĩ nhiên, không có sự ưu tiên nào là miễn phí!
Dĩ nhiên, con cái dân đen không phải là đối tượng ưu tiên!
Dĩ nhiên, không phải nhờ ưu tiên mà người ta có thể trở thành một bác
sĩ tử tế! Mặc dù có thể trở thành những “chuyên gia đầu ngành” như việc
đã xảy ra với các ưu tiên lý lịch nhóm 1 năm nào.
Cái họa áo trắng bắt nguồn từ chủ nghĩa lý lịch năm xưa, chưa biết
khi nào mới giải quyết hết. Nay thầy được ưu tiên lý lịch, trò được ưu
tiên địa phương-hợp đồng. Quả là một “cặp đôi hoàn hảo” mà sản phẩm đầu
ra như thế nào, không nói thì ai ai cũng biết!
Xem ra di họa còn dài…
Lại phải thêm một câu cũ rích vào cuối bài: Không phải tất cả! Vẫn có
một thiểu số, tuy là GS- TS, nhưng xứng đáng được đồng nghiệp và bệnh
nhân kính trọng về sự uyên bác, thông thái và đức độ của họ.
|