|
HÀNH TRÌNH
ĐI TÌM LIỆT SĨ ĐỖ ĐỨC SẢO
Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo sinh năm 1934 tại Động Lâm – Hạ Hòa – Phú Thọ. Năm
học cấp 1, anh học ở ngôi trường làng. Đến năm cấp 2, anh học tại Yên Bình, Yên
Bái là vùng tự do (ATK) cùng với 3 người bạn cùng làng. Mùa hè năm 1953, anh
cùng 3 người bạn sang Tuyên Quang xin học trường Y. Trên đường từ Tuyên Quang
qua Yên Bình về nhà, đến ngã 3 Đông Lý, trời tối 4 anh em vào nhà trọ ăn cơm
rồi nghỉ đêm ở đó. Sáng dậy 3 người kia không biết anh đi đâu, từ lúc nào?
Từ
đó, gia đình anh phải chịu một nỗi đau oan nghiệt, dân làng đồn thổi là anh bỏ
chốn đi theo làm việc cho Pháp, người cha của anh đã bỏ nhiều năm đi tìm anh
nhưng vẫn biệt vô âm tín…Sau này các em của anh đi công tác cũng phải chịu rất
nhiều thiệt thòi vì dấu hỏi trong lý lịch của anh…
Ông
Đỗ Đức Dậu (em trai Liệt sĩ) sau chặng đường gian nan hàng chục năm tìm kiếm đã
tìm thấy phần mộ anh trai mình tại Nghĩa trang Liệt sĩ xã Thanh Lâm, Lục Nam,
Bắc Giang. Ngày 02/02/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 123/QĐ –
TTg công nhận danh sách những người có công với cách mạng trong đó có Liệt sĩ
Đỗ Đức Sảo.
Tôi viết bài này dựa
theo “Truyện tự kể” của ông Đỗ Đức Dậu thuật lại hành trình tìm kiếm anh trai
mình.
Sau khi anh “mất tích”,
cụ Đỗ Đức Ưng (bố Liệt sĩ) đã nắm cơm, bị gạo đi bộ khắp nơi, theo các nguồn
tin đồn để tìm anh. Cụ đã đi khắp các địa phương: Yên Bình, Yên Bái, Thái
Nguyên, Tuyên Quang, Hải Dương, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An trong suốt thời
gian cụ còn khỏe.
Năm 1987, ông Đỗ Đức
Dậu (em trai Liệt sĩ) vào Nam
công tác. Trong thời gian này ông Dậu đã đăng báo để tìm anh, kể cả một số báo
nước ngoài như: Mỹ, Thái Lan, Pháp, Anh… nhưng vẫn bặt vô âm tín.
Năm 1995, trước khi qua
đời, cụ Bùi Thị Mùi - mẹ Liệt sĩ (lúc đó 90 tuổi) đã dặn dò ông Dậu: “Không bao
lâu nữa mẹ qua đời về với ông bà, con nhớ đi tìm anh Sảo, nếu có còn con cháu
con đưa về nuôi nghe rõ không con”.
Tấm lòng người mẹ là như vậy đó! Suốt một cuộc
đời mong ngóng tin con nhưng khi đã sắp về với cõi vĩnh hằng cụ vẫn không biết
con trai mình hiện ở phương nào?
Năm 2009, ông Dậu đã ở
tuổi 69. Sau rất nhiều nỗ lực tìm kiếm anh trai mình trên khắp mọi miền đất
nước, ông Dậu vẫn không hoàn thành được lời dặn của mẹ cha trước khi khất núi.
Tháng 4 năm 2009, theo lời mách bảo, ông Dậu cùng
người em cậu tìm về nhà cô Vũ Thị Mùi ở thôn Vạc xã Thái Học, huyện Bình Giang,
tỉnh Hải Dương (Mobie cô thư kí là 0947606172). Ông Dậu đã nhờ cô Mùi gọi vong
mẹ mình lên để nói chuyện. Vong (mẹ ông Dậu) hiện lên còn biết được hết tên các
con của ông Dậu, đặc biệt còn biết cháu Tuấn (con trưởng ông Dậu) mới sinh cháu
trai cách đó mấy tháng.
Vong nói với ông Dậu rằng:
- Đi cùng với mẹ về điện thờ này có 2 anh trai
của con;
- Con không có tội, con phải tiếp tục tìm anh con
theo đường âm, anh con đã hy sinh vì dân vì nước lúc gia đình nhà mình lên
thành phần;
- Anh Sảo con chết ngày 22/9 ta lúc 21 tuổi; còn
anh Chử chết 15/3 ta lúc 8 tuổi.
Sau khi tiếp xúc với vong người mẹ hiện về, ông
Dậu vô cùng bối rối, không biết tìm đường âm bằng cách nào? Mình là đảng viên sao
lại đi tìm anh theo con đường âm? Anh hy sinh năm nào? Ở đâu? Những dư luận,
những tin đồn xấu về anh trai mình, những ảnh hưởng, thiệt thòi của anh em
trong quá trình công tác cứ hiện về, thôi thúc…
Và ông Dậu đã quyết định phải đi tìm anh mình
bằng con đường âm mà vong người mẹ đã mách bảo.
Để khỏi ảnh hưởng đến chi bộ, cán bộ của phường,
ông Dậu đã quyết định xin nghỉ ban điều hành tổ dân phố và làm đơn xin miễn
sinh hoạt Đảng. Được tập thể chấp thuận, ông Dậu (đang định cư tại TP Hồ Chí
Minh) trở về quê để tìm anh theo đường âm.
Ngày 2/3/2010 ông Dậu cùng một vài anh em lên
điện cô Liễu ở xã Minh Quân, Trấn Yên, Yên Bái xin gặp vong anh Đỗ Đức Sảo. Lạ
thay, vong hiện về nói ngay:
- Anh chưa vào Nam
sao chú cứ tìm anh trong Nam
làm sao gặp được nhau.
Ông Dậu hỏi lại vong:
- Em muốn đến thăm nơi anh an nghỉ, anh chỉ cho
em với!
Vong lại nói với ông
Dậu:
- Anh đi đêm, đi xuôi suối, qua sông lại đi ngược
đánh trận Cầu Lồ bị thương rồi hy sinh, anh không nhớ địa chỉ ở xã, huyện nào.
Sau đó vong nói tiếp với
ông Dậu:
- Muốn lên chỗ anh, chú về xã Hanh Cù, huyện
Thanh Ba, Phú Thọ tìm đến nhà Liệt sĩ Trần Văn Cứ - đồng đội cùng ở với anh, có
con trai là Trần Bình – Trung tá công an về hưu đã lên thăm bố 4,5 lần. Chú về
đó nhờ chỉ đường mà lên tìm anh.
Ông Dậu về thắp hương trình báo Tổ Tiên và cùng
một người cháu tìm đến xã Hanh Cù, huyện Thanh Ba. Kỳ lạ thay, ông Dậu đã được
anh cán bộ phụ trách TBXH xã Hanh Cù dẫn đến đúng nhà Liệt sĩ Trần Văn Cứ. Tại
nhà, ông Dậu đã gặp cụ bà Lương Thị Thoa – vợ Liệt sĩ, con trai Liệt sĩ là Trần
Bình và con dâu là Trần Thị Ty.
Ông Dậu vô cùng mừng rỡ vì theo lời mách bảo của
vong đã tìm được đúng người trần là gia đình Liệt sĩ Cứ - đồng đội của anh
mình. Ông Dậu xin phép thắp 3 nén hương lên bàn thờ Liệt sĩ và xin được nói
chuyện với gia đình. Ông Trần Bình hồ hởi kể lại chuyện đã đi thăm bố tại Nghĩa
trang Liệt sĩ xã Thanh Lâm, Lục Nam,
Bắc Giang tới 5 lần. Liệt sĩ Cứ bị thương trong chiến dịch Xuân hè 1954 và mất
ngày 17/7/1954 (âm lịch). Ông Bình đã chỉ giúp ông Dậu địa chỉ của ông Lê Bình
– Ban thường trực CCB E36 – F308 tại phòng 105 nhà 93(E) Láng Hạ.
Ngày 7/3/2010, ông Dậu
tìm về gặp ông Lê Bình ở địa chỉ nêu trên. Ông Dậu đã kể hết câu chuyện cho ông
Bình nghe. Ông Bình xem danh sách đơn vị lập năm 2003 nhưng không có tên Liệt
sĩ Sảo. Ông Dậu xin phép trở về TP Hồ Chí Minh đồng thời nhờ ông Bình ở Hà Nội
tìm hỏi Ban liên lạc CCB của đơn vị xem có ai nhớ và biết thông tin về Liệt sĩ
không?
Tháng 8 năm 2010, ông
Dậu từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội gặp ông Lê Bình. Lúc đó ông Bình đã tìm được
ông Trần Chủ, ông Hoàng Đạt – thiếu tá, nay ở Cầu Giấy – Hà Nội là những người
đồng đội cùng chiến đấu với Liệt sĩ. Ông Đạt nhớ lại người đồng đội trẻ tuổi ở
cùng tiểu đội tên là Sảo. Ông Đạt còn nhớ một kỷ niệm rất rõ là trước khi sảy
ra trận đánh, ông nằm cùng Liệt sĩ trên đồi dứa, hai người còn dùng đá đập dứa
để ăn. Trận đánh ấy, một số anh em đã hy sinh, anh Sảo bị thương và đưa về
tuyến sau.
Ông Dậu và ông Lê Bình
đã chắp nối các thông tin có được và đi đến thống nhất phương án tìm Liệt sĩ
như sau:
Thứ nhất: Liệt sĩ Trần Văn Cứ bị thương đưa về tuyến sau cách Cầu
Lồ 20km, sau khi mất mới được đưa vào nghĩa trang xã Thanh Lâm, Lục Nam, Bắc
Giang. Vậy khả năng rất lớn Liệt sĩ Sảo cũng sẽ nằm tại nghĩa trang này;
Thứ hai: Đăng ký với nhà ngoại cảm để tìm phần mộ Liệt sĩ.
Ngày 20/8/2010, ông Dậu và ông Lê Bình đến đăng
ký với nhà ngoại cảm Nguyễn Thị Nguyện – Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con
người, trú tại số nhà 12, ngách 49, ngõ 6, đường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà
Nội. Nhờ uy tín của ông Lê Bình, chị Nguyện đã nhận lời hẹn đến ngày 29/10 âm
lịch (01/11/2010).
Ông Dậu về chờ sau 2 tháng mới gặp được chị
Nguyện. Theo nghi thức, ông Dậu đặt lễ lên bàn thờ Bác Hồ khấn tâm nguyện đi
tìm anh trai là Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo. Khoảng 8h30, ông Dậu gặp được nhà ngoại
cảm, thấy chị ăn mặc giản dị như viên chức nhà nước. Sau lời chào xã giao cùng
ông Lê Bình, chị Nguyện nói ngay:
- Anh trai bác tuổi từ 20 đến 21, mặt vuông chữ
điền, đẹp trai, ít nói hay cười, đi cùng với 2 đồng đội về đây theo nguyện vọng
của bác;
- Hiện nay anh bác ở
nghĩa trang xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, bác đi theo vong hướng
dẫn lên ga Kép rồi quay xuôi về Lục Nam độ 6-7 km rẽ phải qua đường sắt hỏi
thăm vào nghĩa trang xã Thanh Lâm;
- Hôm nào bác đi thì điện trước cho tôi một ngày
theo số điện thoại 04.3576.3282. Bác chuẩn bị 3 lễ tùy tâm thành: 1 là lễ thần linh, 2 là lễ đồng đội, 3 là lễ vong nhà bác. Bác nhớ chiều vong, chiều đồng
đội thật khéo và thắp hương các mộ xung quanh.
Ngày 05/11/2010 (âm
lịch), ông Dậu và một số anh em lên nghĩa trang Thanh Lâm, Bắc Giang. Ông Dậu
đã chuẩn bị đủ 3 lễ như lời dặn của chị Nguyện đồng thời mang theo từ nhà 4
chiếc đũa và một quả trứng vịt sống. Dẫn ông Dậu và mọi người ra nghĩa trang có
ông Chủ tịch UBND xã và anh cán bộ phụ trách TBXH xã Thanh Lâm. Ông Dậu đặt 2
lễ cúng thần linh và đồng đội tại kỳ đài của nghĩa trang rồi liên hệ với chị
Nguyện. Chị Nguyện hướng dẫn qua điện thoại:
- Bác đang ở kỳ đài Tổ
quốc ghi công. Bác xuống ô thứ nhất phía trái kỳ đài đến ngôi mộ số 5 hàng thứ
4 đặt lễ cúng vong và đặt quả trứng vịt sống lên đầu đũa rồi liên hệ tiếp.
Ông Dậu làm đúng như
lời chị Nguyện hướng dẫn. Khi hương cháy được 1/2 nén, ông Dậu cắm cây đũa ăn
cơm đầu to xuống, đầu bé lên và đặt quả trứng lên trên đầu đũa. Quả trứng như
có một sức hút vô hình đã dính chặt vào đầu đũa (xem ảnh).
Chị Nguyện hướng dẫn
tiếp:
- Trên nghĩa trang hiện
có 8 người, yêu cầu mọi người ngồi xuống để chờ con vật đến.
Ông Dậu và mọi người
làm theo, ngồi cách xa ngôi mộ số 5 hàng số 4 khoảng 4 m. Khoảng 5 phút sau, có
một con chó đen khoảng 20 kg từ cổng nghĩa trang chạy vào đúng ngôi mộ số 5 thì
ngồi xuống, ngoảnh đầu nhìn mọi người (xem ảnh).
Ông Dậu báo lại sự việc
trên và được chị Nguyện hướng dẫn tiếp:
- Dưới chân mộ số 5 phía bên trái viên gạch lát
số 2 có 2 vết màu trắng.
Em cậu ông Dậu xem xác nhận đúng là có như vậy. Chị Nguyện nói tiếp:
- Có đàn kiến đang bò từ ngôi số 4 sang ngôi số 5
hàng thứ 4.
Anh tài xế xem và nói: có khoảng mấy chục con
kiến đang bò từ ngôi số 4 sang ngôi số 5 nhưng cỏ mọc tốt quá không chụp ảnh
được. Chị Nguyện nói tiếp:
- Bên tay phải 3 ngôi liền kề không có tên cụ thể
mà chỉ có tên đơn vị phải không?
Ông Chủ tịch xã xem nói đúng. Chị Nguyện lại nói:
- Bác ghi lại để báo cáo cho Trung tâm.
Công việc của nhà ngoại
cảm hướng dẫn ông Dậu diễn ra chỉ khoảng 15 phút đến đúng 11 giờ trưa. Sau khi
ông Dậu hóa vàng cho thần linh, đồng đội và anh trai mình thì quả trứng vẫn
đứng trên đầu đũa tại ngôi mộ số 5.
Như vậy các thông tin
đã được khớp nối rất chính xác giữa “người âm” và người trần thông qua nhà
ngoại cảm. Ông Dậu thay mặt gia đình và ông Lê Bình thay mặt ban liên lạc CCB
E36 - F308 đồng thuận nhận định:
Thứ nhất:
Anh Đỗ Đức Sảo là chiến sĩ QĐND thuộc đơn vị E36 – F308 đã trực tiếp chiến đấu
tại mặt trận Cầu Lồ từ 13/7/1954 đến 17/7/1954 (âm lịch);
Thứ hai: Trong lúc chiến đấu bị thương được đưa về trạm Quân y tiền
phương cách mặt trận 20 km sau đó mới chết và được nhân dân xã Thanh Lâm chôn
cất và quy tụ vào Nghĩa trang Liệt sĩ xã Thanh Lâm, Lục Nam, Bắc Giang.
Thứ ba: Tạm thời coi ngôi mộ số 5, hàng số 4, ô số 1 từ kỳ đài nhìn
xuống bên trái là mộ của Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo.
Sau đó ông Dậu về quê
làm lễ cáo Tổ Tiên và tiếp tục hành trình để tìm lại danh tính cho anh trai
mình.
Ngày 8/11/2010 (âm lịch) ông Dậu đến nhà ông Lê
Bình bàn việc lập hồ sơ cho Liệt sĩ và thống nhất cùng đi Thanh Lâm, Lục Nam,
Bắc Giang để tìm hiểu thời gian điều trị tại trạm Quân Y tiền phương. Hai ông
đã gặp ông Thường - Chủ tịch UBND xã để xin gắn bia cho Liệt sĩ. Sau đó được
gặp cụ Phó Chủ tịch xã thời kỳ 1954 – 1958. Cụ năm nay đã 85 tuổi, cụ kể lại
rằng lúc đó cụ là cố nông nên không biết chữ; anh em thương binh chết được chôn
tập trung vào vườn sắn, đến năm 1960 đưa lên quy tập vào nghĩa trang, khoảng
năm 1995 thì xây ốp gạch đỏ như hiện nay. Còn danh sách Liệt sĩ đã bị cháy hết
do năm 1958 nhà bị hỏa hoạn không kịp cứu chữa.
Trong suốt thời gian từ đó tới tháng 2/2012, ông
Dậu đã vào Nam
ra Bắc nhiều lần để tiến hành các thủ tục đề nghị công nhận Liệt sĩ cho anh
trai mình.
Được sự giúp đỡ tận tình của bạn bè, người thân,
các cơ quan liên quan, đặc biệt là sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí nguyên
là lãnh đạo, chiến sĩ thuộc Trung đoàn 36 – Sư đoàn 308, tới ngày 02/02/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết
định số 123/QĐ – TTg công nhận danh sách những người có công với cách mạng
trong đó có Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo.
Như vậy,
ông Dậu đã thực hiện việc “mò kim đáy bể” trong hàng chục năm trời, từ việc
liên hệ với dương trần đến cõi tâm linh. Cuối cùng nỗi buồn vô hạn sau 58 năm
mất anh đã biến thành niềm tự hào, niềm yêu thương kiêu hãnh của quê hương, gia
đình và dòng tộc bởi anh - Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo đã được trả lại đúng tên tuổi,
công lao của mình trong sự nghiệp bảo vệ đất nước vĩ đại của dân tộc.
Ngày 19/3/2012
(27 tháng 2 năm Nhâm Thìn), tại quê hương Động Lâm Đảng Uỷ, UBND, UBMTTQ, Hội
CCB, các ban ngành, đoàn thể xã Động Lâm cùng toàn thể anh em, bà con lối xóm
đã long trọng tổ chức Lễ phục tang và Lễ
truy điệu Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo. Tại buỗi lễ này tôi (tác giả bài viết) đã
chứng kiến sự có mặt của rất đông các cơ quan, ban ngành đoàn thể đến viếng,
trong đó có: Thiếu tướng Trần Giang – nguyên thủ trưởng cũ của Liệt sĩ; ông Lê
Bình – Thường trực CCB E36 – F308; Thiếu tá Hoàng Đạt – bạn cùng tiểu đội với
Liệt sĩ. Ông Hoàng Đạt đã nấc nghẹn, đưa tay gạt nước mắt khi kể về Liệt sĩ như
sau: “…Anh Sảo trẻ hơn tôi 5 tuổi. Trước khi vào trận đánh anh còn dạy bọn tôi
dùng đá đập dứa để ăn. Ở cùng tiểu đội nên bọn tôi vẫn đùa anh là “Sảo quyệt”
vì anh nhanh nhẹn lắm. Tôi có biết anh bị thương đưa về tuyến sau, đến nay nới
được biết anh đã hy sinh ở trận đánh cuối cùng đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước
ta. Anh Sảo đã không còn nữa…”. Hôm đó, thay mặt dòng tộc, tôi đã đọc bài phát
biểu trong Lễ truy điệu Liệt sĩ. Tôi chưa hề biết mặt anh nhưng rất tiếc thương
và cũng thật tự hào khi dòng tộc mình có một người con đã hiến trọn tuổi thanh
xuân cho đất nước.
Tôi thật xúc động khi đọc lại bài văn cúng mà ông
Dậu đã khóc anh trai mình trong Lễ phục tang:
“… Anh ơi!
Thịt xương dù ở xứ người
Hồn linh vẫn ở quanh nơi xứ nhà.
Con cháu phụng nghênh thần chủ đã rước linh vị
anh về với Tổ Tiên, về với ông bà, với cả mẹ cha để cả nhà đoàn tụ, con cháu
sớm hôm phụng thờ.
Nay trần thế làm lễ cáo thiên, yết kiến Tổ Tiên,
phách định hồn yên; cả nhà chị em, cháu chắt lễ bạc tâm thành trình lên gia
tộc.
Vật vốn thờ trời
Người sinh nhờ tổ
Anh ơi! Sót thay tình huynh đệ 58 năm vong linh
anh vẫn ở nơi đất khách quê người.
Nhờ ánh sáng mặt trời
Nhờ hồng phúc nhà ta tích lũy nhiều đời
Tìm thấy anh là Liệt sĩ hơn người
Tổ quốc ghi công anh
Cả nhà buồn nhưng không tủi
Khổ nhưng không đau
Vì gương anh sáng rực cho đời
Hôm nay
Cho cả nhà được khóc anh
Nước mắt của tình người
Cúng giỗ anh, ghi nhớ của vòng đời
Cả nhà quỳ trước án xin cúi đầu
Đội vành khăn trắng
Trở tang anh
Ô hô anh hỡi anh ơi !!!
Vong linh anh vẫn ở bên mọi người
Nguyện cầu như ý…”
Để kết thúc bài viết này, tôi xin được trích lại
những dòng suy tư của ông Dậu sau hành trình tìm kiếm anh trai mình như sau:
1. Đã có dương trần tất phải tồn tại âm trần.
Người chết rồi còn để lại linh hồn, ít nhất là 9 đời gọi là “cửu huyền thất tổ”
vẫn đi về với nhau, gần gũi thân thiện giúp đỡ nhau, biết hết mọi chuyện của
người trần. Do vậy, người trần phải luôn quan tâm trông coi, giữ gìn mồ mả, duy
trì cúng giỗ, thực hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” mà tiền nhân đã dạy bảo.
2. Người trần tìm hiểu
về giới âm còn quá ít, không muốn nói là ngu dốt vì bên cạnh ta vẫn có người
liên hệ với vong. Người nào bài trừ vong linh là người đó không nhìn nhận vào sự
thật đang tồn tại, không nhớ lời dạy của người trước: “Sống vì mồ vì mả, không
sống vì cả bát cơm”.
3. Mộ phần có lẽ là địa
chỉ cư ngự của vong để nhờ thần linh thông báo trước cho người trần, giúp cho
nhà ngoại cảm liên hệ với vong linh nên mộ thật (có cốt), mộ gió (chiêu hồn)
đều là nơi liên hệ giữa âm (người chết) với dương trần (người sống). Người có
tâm đức đừng quên phần mộ và cúng giỗ người chết. Dù có cách trở giữa hai cõi
âm dương nhưng vong linh (người chết) vẫn biết và liên hệ với người còn sống.
Việt Trì, ngày 26 tháng 9 năm 2012.
Đỗ Quang Tuân
_______________
BÀI PHÁT
BIỂU CỦA HỘI ĐỒNG GIA TỘC HỌ ĐỖ ĐỘNG LÂM TẠI LỄ
TRUY ĐIỆU LIỆT SĨ ĐỖ ĐỨC SẢO
Kính thưa
Hương hồn Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo!
Kính thưa
các vị đại biểu, khách quý!
Kính thưa
đại gia đình tang hiếu cùng các cụ, các ông, bà, các anh chị em, bà con quê
hương, lối xóm!
Hôm nay, ngày 19/3/2012
(tức ngày 27 tháng 2 năm Nhâm Thìn), tại quê hương Động Lâm - nơi đã sinh ra
Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo, Đảng Uỷ, UBND, UBMTTQ, Hội CCB, các ban ngành, đoàn thể xã
Động Lâm cùng toàn thể anh em, nội ngoại trong gia tộc, bà con lối xóm long
trọng tổ chức Lễ truy điệu Liệt sĩ Đỗ
Đức Sảo – Người con ưu tú của dòng họ Đỗ Động Lâm đã ngã xuống trong cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp xâm lược vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc
của nhân dân.
Thay mặt Hội đồng gia tộc họ Đỗ Động Lâm, chúng
tôi xin kính cẩn nghiêng mình trước anh linh Liệt sĩ và xin được dâng nén tâm
hương - lễ mọn lòng thành, cầu mong cho linh hồn anh ở cõi vĩnh hằng được siêu
sinh tịnh độ và mỉm cười nơi chín suối.
Sinh ra trong một gia đình thuần nông, Liệt sĩ Đỗ
Đức Sảo cũng như bao người con của quê hương Động Lâm đã sớm phải vất vả mưu
sinh với cuộc sống chốn quê nghèo. Chiến tranh đến! Tai hoạ và đau thương mà
những kẻ ngoại bang gieo rắc đã không loại trừ bất kỳ ai. Trong hoàn cảnh ấy,
vào năm 1953, anh đã lặng lẽ ra đi, nhập vào đoàn quân kháng chiến, để lại cho
gia đình, anh em, bạn bè lối xóm một câu hỏi lớn không lời giải đáp; một nỗi
nghi hoặc trong lý lịch; một khoảng trống hư vô, mờ ảo.
Cũng từ đó gia đình anh luôn phải sống trong nỗi
buồn đau, day dứt, thiếu vắng bóng anh. Nỗi buồn cha mất con, em mất anh, cháu
mất bác cứ da diết trôi, vò xé con tim của những người thân. Gần 60 năm qua đi
– một khoảng thời gian không lớn so với tuổi của vạn vật nhưng với một đời
người - đó là một khoảng trống quá lớn. Khoảng trống ấy đã làm khô đi nước mắt
của những người thân; cha mẹ anh đã lần lượt ra đi và cũng từ trong khoảng
trống ấy đã sinh ra những lớp cháu, con không một lần được biết mặt cậu, mặt
bác, mặt ông...
Cha anh, Cụ Đỗ Đức Ưng đã bỏ gần cả cuộc đời để
tìm kiếm anh trong mòn mỏi, nhưng cho đến nhắm mắt xuôi tay, tin tức về anh vẫn
biệt vô âm tín. Mẹ anh trước khi qua đời còn trăng trối với người em trai của
anh rằng: “bằng mọi giá con phải tìm cho được anh con về nhé!”.
Người em trai của Liệt sĩ là Ông Đỗ Đức Dậu sau
chặng đường gian nan hàng chục năm tìm kiếm anh trai mình đã viết nên một câu
chuyện huyền thoại giữa đời thường. Câu chuyện ấy không thể kể hết trong khuôn
khổ buỗi lễ hôm nay. Chỉ biết rằng: Trời xanh đã không phụ lòng người, và có lẽ
cha mẹ anh và các bậc Tiên hiền Liệt tổ đã độ trì cứu giúp để cho vật đổi sao
dời, càn khôn xoay chuyển. Tình nghĩa anh em, máu mủ ruột rà đã nối liền hai
cõi âm dương để hôm nay Linh hồn Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo sau gần 60 năm xa cách đã
được trở về đất mẹ.
Hôm nay! Quê hương, dòng tộc, làng xóm, đón anh
về trong niềm xúc động và tiếc thương vô hạn. Anh đã ngã xuống cùng những đồng
đội của mình tại mảnh đất Lục Nam,
Bắc Giang giữa tuổi thanh xuân để mang lại cho đất Việt một màu xanh bất tận.
Nỗi buồn sau gần 60 năm của anh em, con cháu hôm nay đã hoá thành niềm yêu
thương, kiêu hãnh bởi chính anh – Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo, hậu duệ đời thứ 9 của Đỗ
tộc đã góp phần tô thắm thêm trang sử vàng của dân tộc và truyền thống của quê
hương, dòng họ.
Dòng tộc Đỗ Động Lâm trân trọng và tự hào tấm
gương hy sinh của Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo:
Ra đi lúc tuổi xuân xanh
Mắt cha mòn dõi bóng anh quê nghèo
Mẹ gầy bên bếp lửa reo
Cô dì chú bác trông theo mỏi mòn...
Đoán chăng liệu mất, liệu còn?
Bao điều ân oán, vuông tròn ai hay?
Lý gian nào hiểu tình ngay?
Gió mưa nào dễ chuyển lay tình người?
Tuổi xuân dâng hiến cho đời
Để hồn thác gửi bên đồi thông xanh
Đời
đời ghi nhớ công anh
Máu
xương đổ để tô xanh núi rừng
Nước
non muôn dặm nghìn trùng
Sáng
tên anh mãi như vừng ánh dương
Đất
mẹ trăm nhớ ngàn thương
Đón
anh về với cố hương thuở nào
Yêu
thương lệ mắt tuôn trào
Anh
về hồn thác gửi vào hư không
Dâng
lên anh vạn đoá hồng
Để
tình thắm nhuộm non sông huy hoàng.
Dòng tộc Đỗ Động Lâm xin trân thành cảm ơn các đồng
chí lãnh đạo, chiến sĩ và các đồng chí nguyên là lãnh đạo, chiến sĩ trung đoàn
36, Sư đoàn Quân tiên phong 308 đã dành những tình cảm đặc biệt cho gia đình,
dòng tộc chúng tôi trong việc đi tìm phần mộ Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo. Xin chân thành
cảm ơn các vị đại biểu, khách quý đã có mặt trong trong buổi lễ hôm nay.
Trong giờ phút linh thiêng này, trước anh linh
Liệt sĩ anh em dòng tộc Đỗ Động Lâm xin hứa sẽ luôn đoàn kết, yêu thương giúp
đỡ lẫn nhau, xây dựng dòng tộc, quê hương, đất nước mạnh giàu. Nơi chín suối
kính chúc anh yên giấc ngàn thu. Kính mong anh hãy phù hộ độ trì cho các anh em
con cháu trong gia tộc luôn mạnh khoẻ, bình an, hạnh phúc, giữ tròn chữ hiếu,
lấy đức lấy tâm để lưu truyền hậu thế.
Một lần nữa xin được
kính cẩn nghiêng mình trước anh linh Liệt sĩ Đỗ Đức Sảo, xin phép một phút
tưởng niệm, phút tưởng niệm bắt đầu.
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG LỄ
TRUY ĐIỆU LIỆT SĨ
Ông Đỗ Đức Dậu nhận
bằng Tổ quốc ghi công Liệt sĩ
Ông Hoàng Đạt – người
cùng tiểu đội đang kể chuyện về Liệt sĩ
Từ phải qua trái:
Thiếu tướng Trần Giang, ông Hoàng Đạt, ông Lê Bình
Rước linh vị Liệt sĩ
Lễ viếng của Hội đồng
gia tộc
|