|
VIỆC THỰC THI
CHỦ QUYỀN Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA - TRƯỜNG SA CỦA TRIỀU NGUYỄN VÀO THẾ KỶ
PGS.TS ĐỖ BANG
Các
vua triều Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ XIX rất có ý thức về chủ quyền biển đảo
và đã có nhiều biện pháp hữu hiệu như việc lập đội Hoàng Sa, đo đạc thuỷ trình,
vẽ bản đồ biển đảo, cắm bia chủ quyền, lập miếu thờ, trồng cây và lập trạm thu
thuế trên đảo.
Việc
thực thi chủ quyền được triều đình Huế giao cho đội thuỷ quân và đội giám thành
của triều đình phối hợp với lính địa phương hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định cùng
ngư dân thực hiện và báo cáo tình hình về triều đình. Nhiều văn bản quan trọng,
đích thân nhà vua xem xét và phê duyệt.
Châu
bản triều Nguyễn, các bộ sách chính sử như Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống
chí… các bản đồ của triều Nguyễn đã ghi lại đầy đủ làm minh chứng và được xác
minh bằng các nguồn tư liệu sưu tầm tại Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế trong thời
gian gần đây.
Đây
là một di sản lịch sử có ý nghĩa thực tiễn và có giá trị lâu dài đối với chủ
quyền Việt Nam.
1. Vua Gia
Long lập đội Hoàng Sa để thực thi chủ quyền và khai thác kinh tế ở Biển Đông
Các bộ sách địa
chí và chính sử của Quốc sử quán triều Nguyễn đều ghi Hoàng Sa thuộc chủ quyền
của nước Việt Nam
ngay từ đầu triều Gia Long.
Kế tục công cuộc khai thác và thực thi chủ quyền ở quần đảo
Hoàng Sa dưới thời các chúa Nguyễn và Tây Sơn, năm 1803,
một năm sau khi lên ngôi, vua Gia Long
đã cử Cai đội Võ Văn Phú chỉ huy đội Hoàng Sa tiếp tục thực thi chủ
quyền ở vùng biển đảo. Mộc bản triều Nguyễn đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ
Quốc gia IV (Đà Lạt, Lâm Đồng), trong đó có bản khắc sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 22, trang 2, năm Gia
Long thứ 2 (1803) chép: “Tháng 7, lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển
Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”.
|
|
|
Bản dập Mộc bản nói về vua Gia
Long sai Cai cơ Võ Văn Phú cho mộ dân bổ sung vào đội Hoàng Sa
|
Tư liệu này thống nhất với tư liệu của tộc Võ do TS. Nguyễn
Đăng Vũ sưu tầm vào năm 2011 ở đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: Cai thủ
cửa biển Sa Kỳ kiêm Cai cơ Thủ ngự quản đội Hoàng Sa là Võ Văn Phú, mà trong
các bộ chính sử có ghi là Phú Nhuận hầu được triều đình Huế cử làm Cai đội
Hoàng Sa vào năm Gia Long thứ 2 (1803).
Phú Nhuận Hầu Võ Văn Phú, là con của ông Võ Văn Khiết làm Cai đội Hoàng
Sa từ thời Tây Sơn nay làm cai đình An Vĩnh (1803).
Như vậy, ngay những năm đầu sau khi triều Nguyễn thống nhất
đất nước, triều đình Huế đã cho thành lập đội Hoàng Sa, một đơn vị chuyên dụng
có nhiệm vụ khai thác kinh tế và thực thi chủ quyền ở Biển Đông. Việt Nam là
nước duy nhất trong khu vực có một tổ chức nhà nước mang thương hiệu “Hoàng Sa”
để thực hiện nhiệm vụ kinh tế và quân sự tại quần đảo này.
Việc lập đội Hoàng
Sa và các hoạt động của đội này về sau được chính sử của Triều Nguyễn nhiều lần
ghi lại. Sách Đại Nam thực lục chép
về sự kiện năm 1815: “ Sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra
đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển” .
Sự kiện quan trọng này được Jean Baptiste Chaigneau
(1769-1825)- một nhân chứng ngoại quốc đang có mặt ở Huế đã phản ánh trung thực
trong tập hồi ký Le mémoire sur la
Cochinchine: “ Nước Cochinchine mà
vua bấy giờ xưng đế hiệu gồm xứ Đàng Trong (Cochinchine), xứ Đông Kinh
(Tonkin), một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có cư dân không xa bờ bể và quần
đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, đá ngầm và
mỏm đá không có dân cư. Chỉ đến năm 1816, mà Hoàng đế bấy giờ mới lấy chủ quyền
trên quần đảo ấy”.
Một công bố bằng tiếng Anh ở Bengal, Giám mục Jean Louis
Tabert lại xác nhận về chủ quyền độc tôn này của Hoàng đế Gia Long: “ Năm 1816, ông đã tới long trọng cắm cờ chính
thức giữ chủ quyền các hòn đảo đá này mà hình như không một ai tranh giành với
ông”.
Năm 1833, Giám mục Jean Louis Tabert trong cuốn Univers et description de tout les peuples
de leur religions, moeurs et coutoumes cũng khẳng định sự kiện cắm mốc chủ
quyền của vua Gia Long ở quần đảo Hoàng Sa: “ Chúng tôi không rõ họ có thiết lập một cơ sở nào tại đó không; nhưng có
điều chúng tôi biết chắc là Hoàng đế Gia Long đã chủ tâm thêm cái đoá hoa kỳ lạ
đó vào vương miện của ông. Vì vậy mà ông xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt
biển để tiếp thu quần đảo Hoàng Sa, và chính vào năm 1816, Ngài đã long trọng
treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”.
Như vậy, ngay dưới triều Gia Long, nhà vua rất quan tâm đến
xác lập chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa như là một thực tế hiển nhiên về quản lý
lãnh thổ truyền thống được quốc tế thừa nhận.
Vào đầu thời Nguyễn trong Lịch triều hiến chương loại chí , tập Dư địa chí viết về phủ Tư Nghĩa (tức
Quảng Ngãi), Phan Huy Chú (1782-1840) đã dành phần lớn nội dung để viết về
Hoàng Sa cùng những sản vật được khai thác và chế biến từ nguồn lợi thiên nhiên
ở đây: “Xã An Vĩnh, huyện Bình Dương ở
gần biển. Ngoài biển phía đông bắc có đảo [Hoàng Sa] nhiều núi linh tinh, đến hơn
130 ngọn núi. Đi từ chỗ núi [chính] ra biển [sang các đảo khác] ước chừng hơn
một ngày hoặc vài trống canh. Trên núi có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát
vàng, dài ước 30 dặm, bằng phẳng rộng rãi. Trong bãi có dòng nước trong suốt
đến đáy. Sườn đảo có vô số yến sào, các thứ chim có hàng ngàn vạn con, thấy
người vẫn đỗ quanh, không bay tránh. Bên bãi cát có vật lạ rất nhiều, có thứ ốc
có vằn gọi là ốc tai voi to như chiếc chiếu, trong bụng có hạt châu to bằng
ngón tay cái, nhưng sắc nó đục, không bằng ngọc châu ở trong con trai; vỏ nó
đẽo đi làm bia được, lại có thể nung làm vôi để xây tường. Có thứ ốc gọi là ốc
xà cừ, có thể khảm vào các đồ vật; có thứ gọi là ốc hương. Thịt các con trai,
con hến đều có thể làm mắm hoặc nấu ăn được. Có thứ đồi mồi rất lớn, gọi là hải
ba, mai nó mỏng, có thể ghép làm đồ vật, trứng nó như đầu ngón tay cái. Lại có
thứ gọi là sâm, tục gọi là đột đột, nó bơi lội bên trong bãi cát, bắt về, xát
vôi qua, rồi bỏ ruột đi, phơi khô. Khi nào ăn lấy nước cua đồng mà ngâm, nấu
với tôm và thịt lợn, ngon lắm. Các thuyền buôn đi gặp gió thường nấp vào đảo
này” .
Dưới thời Tự Đức, Quốc sử quán triều
Nguyễn biên soạn sách Đại Nam nhất thống
chí, quyển 8, tỉnh Quảng Ngãi cũng
ghi chép khá tường tận về cảnh vật, hải sản ở Hoàng Sa: “Hoàng Sa ở phía đông cù lao Ré. Thuyền xuất phát từ cửa Sa Kỳ, thuận
gió thì từ ba đến bốn ngày đêm có thể đến nơi. Có đến hơn 130 đảo. Trong đảo có
bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm, bằng phẳng, rộng rãi,
tục gọi là “Vạn lý trường sa”; nước rất trong, trên bãi có giếng nước ngọt,
chim biển tụ tập không biết cơ man nào. Sản nhiều ốc hoa, hải sâm, đồi mồi,
vích, cùng những hàng hoá của thuyền người Thanh bị bão, trôi dạt vào đấy.
Đầu
triều Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mạng
thường sai người đi thuyền công đến đó thăm dò đường biển, thấy một nơi có cồn
cát trắng chu vi 1.070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng; phía
tây nam cồn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ thời nào, có bia khắc bốn chữ “Vạn
lý ba bình” (muôn dặm sóng yên).
Năm
Minh Mạng thứ 16 (1835), sai thuyền công chở gạch đá đến xây đền, dựng bia đá ở
bên trái đền để ghi dấu và trĩa hạt giống các thứ cây ba mặt trái, phải và phía
sau. Binh phu đắp nền miếu đào được lá đồng và gang sắt có đến hơn 2.000 cân” .
Vào đầu thế kỷ XX, khi viết tập sách Đại Nam địa dư chí ước biên (1908), Tổng tài Quốc sử quán là Cao
Xuân Dục cũng xác nhận về việc khai thác và quản lý Hoàng Sa của triều Nguyễn:
“ Đảo Hoàng Sa ở Bình Sơn. Từ bờ biển ra
khơi, thuận gió thì 3, 4 ngày đêm có thể đến được. Trên đảo núi non trải khắp,
có tới 130 ngọn. Ở giữa có bãi cát vàng, không biết mấy ngàn dặm, tục gọi là
Vạn Lý Trường Sa. Trên bãi có giếng, nước giếng có vị ngọt”.
2.
Minh Mạng là nhà vua rất có ý thức và trách nhiệm về chủ quyền biển đảo trong
đó có Hoàng Sa- Trường Sa
Ngoài việc cho thuê
thuyền dân để hướng dẫn hải hành, hoạt động vãng thám, đo đạc thuỷ trình triều
đình giao cho thuỷ quân đảm nhận, năm 1834, vua Minh Mạng: “ sai Giám thành đội trưởng Trương Phúc Sĩ
cùng thuỷ quân hơn 20 người đi thuyền ra đến đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi
vẽ bản đồ”.
Năm 1836, vua Minh Mạng sai Suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh
thuyền qua Quảng Ngãi đến thẳng Hoàng Sa để đo đạc, khám xét, cắm tiêu làm dấu,
vẽ bản đồ để trình lên vua xem.
Trong một số trường hợp, triều đình giao phối hợp với ngư
dân chuyên nghiệp đi biển ở hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định cùng thực hiện,
được thể hiện trong bản tâu của Bộ Công năm 1836: “ Xin từ nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái biền
binh thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng
hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định thuê 4 chiếc
thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa”.
Tài liệu Châu bản triều Nguyễn, là văn bản quan trọng bậc nhất của triều
đình Huế được các vua triều Nguyễn xem xét, phê duyệt, là cơ sở để nhà vua ban
hành các Chiếu, Chỉ, Dụ... nhằm cụ thể hoá các chủ trương của triều Nguyễn. Ở
Cục Lưu trữ Trung ương I (Hà Nội), hiện nay còn lưu giữ 11 văn bản từ năm 1830
đến 1847 của hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị ghi chép về các sự kiện có liên
quan đến Hoàng Sa- Trường Sa. Đáng chú ý hơn cả là hai bản tâu của Thủ ngự cảng
Đà Nẵng ngày 27 tháng 6 năm Minh Mạng 11 (tức 15-8-1830) do thuyền trưởng
Đô-ô-chi-ly của tàu buôn Pháp Ê-đoa cung cấp thông tin rằng: Ngày 20 tháng 6
năm Minh Mạng 11 (8-8-1830), thuyền buôn của triều đình do Lê Quang Quỳnh và
các thuỷ thủ đoàn rời cảng Đà Nẵng đi Lữ Tống (Lucon, Manila- Philippine) đến
canh hai ngày 21 tháng 6, đụng phải đá ngầm ở phía tây Hoàng Sa, thuyền bị ngập
nước. Thủ ngự cảng Đà Nẵng phái thuyền mang theo nước uống đi cứu hộ, giờ Ngọ
đã gặp, đã đưa họ về lại cảng .
Để khai thác và thực thi chủ quyền ở
quần đảo Hoàng Sa, triều Nguyễn rất chú trọng đến hoạt động vãng thám, đo đạc
thuỷ trình và vẽ bản đồ với yêu cầu rất cụ thể cho các đội làm nhiệm vụ ở Hoàng
Sa như sau: “ Không cứ là đảo nào, hòn
nào, bãi cát nào, khi thuyền đến thì cũng xem xét xứ ấy chiều dài, chiều ngang,
chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi
ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo
đạc, vẽ thành bản đồ. Lại, xét ngày khởi hành từ cửa biển nào ra khơi, nhằm
phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính được bao nhiêu dặm.
Lại, từ xứ ấy trông vào bờ bến đối thẳng vào bờ là tỉnh hạt nào, cách bờ chừng
bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình” . Chủ trương này
của triều đình Huế giao cho vệ Giám thành, Khâm Thiên giám ở Kinh đô Huế và
thuỷ quân triển khai hàng năm.
Công việc hải hành để khai thác và thực thi chủ quyền tại
quần đảo Hoàng Sa thường diễn vào 6 tháng đầu năm Âm lịch trước khi mùa mưa bão
đến đối với các tỉnh miền Trung. Hoạt động này còn tuỳ thuộc vào thời tiết
nhưng phải đảm bảo kế hoạch hàng năm và sự an toàn tính mạng của thuyền nhân mà
triều đình đã giao phó. Trường hợp năm 1838 là một thí dụ, trong bản tâu của Bộ
Công vào ngày 2 tháng 4 nhuận năm Minh Mạng thứ 19 (1838) cho biết: “ Chúng tôi đã gửi giấy cho tỉnh Quảng Ngãi và
Bình Định khiến lo sửa soạn và đã chọn phái nhân viên ở Bộ (Công), Thị vệ, Khâm
Thiên giám, Thành binh, Thuỷ binh theo binh thuyền vào trong ấy. Hiện nay phái
đoàn đã tề tựu tấp nập. Nhưng tỉnh thần ấy gửí giấy nói về ngày 10 đến ngày 26
tháng 4, gió Đông thổi liên hồi thuyền chưa ra biển được. Đợi ngày nào gió Nam
thuận tiện, thuyền phái đoàn sẽ khởi hành, sẽ đệ báo sau”.
Nhưng hơn ba tháng sau, quan tỉnh Quảng Ngãi báo cáo lên
triều đình là đoàn thuyền “ Bổn chinh thuyền” đã hoàn thành nhiệm vụ Hoàng Sa
và đã trở về an toàn: “ Xin chiếu lệ miễn
thuế năm nay cho hai chiếc “ Bổn chinh thuyền” đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo
đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã
trở về ”.
Mộc bản triều
Nguyễn để in sách Đại Nam thực lục
chính biên đệ nhị kỷ, quyển 194, trang 7 và 8, năm Minh Mạng 20 (1839)
chép: “Tháng 7, Viên ngoại lang Công bộ
Đỗ Mậu Thưởng vâng lệnh phái đi công cán Hoàng Sa về, đem bản đồ dâng lên, vua
cho là trải qua nhiều nơi, xem đo tường tất so với phái viên mọi lần thì hơi
hơn. Đỗ Mậu Thưởng và các người đi cùng đều được gia thưởng áo quần và tiền”.
Qua tư liệu này
cho chúng ta thấy tính chất quan trọng trong việc khảo sát địa hình, tài
nguyên, khí hậu, thuỷ văn, vẽ bản đồ và bảo vệ chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa
– Trường Sa đối với triều đình Huế qua việc nhà vua huy động lực lượng đông đảo
quan quân của triều đình bao gồm quan chức của Bộ Công (phụ trách về xây dựng),
Khâm Thiên giám (phụ trách về khí tượng), quân đội của triều đình có Thị vệ,
Giám thành, Thành binh (bảo vệ hoàng gia, kinh đô), Thuỷ quân (bảo vệ biển đảo)
và dân binh, dân phu ở các địa phương hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định mà phần
lớn là dân đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.Riêng dân binh, dân phu theo đinh suất
là 70 người lấy trai tráng trong các họ Võ, Phạm, Nguyễn của làng An Vĩnh, họ
Mai ở làng An Hải đi trên 5 chiếc thuyền ra làm nhiệm vụ ở quần đảo Hoàng Sa-
Trường Sa .
Sau mỗi chuyến khảo sát Hoàng Sa các quan chức được giao nhiệm vụ phải báo cáo
lên triều đình và được nhà vua trực tiếp xem xét, phê duyệt.
Công việc vãng
thám, đo đạc thuỷ trình, khai thác ở quần đảo Hoàng Sa được thực hiện đều đặn
hàng năm cho đến cuối thời vua Thiệu Trị. Trong
một bản tâu của Bộ Công ngày 28 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1848) đã ghi lại:
“ hàng năm, vào mùa xuân theo lệ phái
binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi
lối lại ” . Bốn chữ “hải cương nước nhà” của Bộ Công là một khẳng định không thể chối cãi về chủ
quyền nhà Nguyễn với quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa..
Đó là những cố gắng vào cuối thời vua Thiệu Trị, dù bận rộn với
việc đối phó trước sự chống phá, uy hiếp của các pháo hạm phương Tây ở cảng Đà
Nẵng đã làm bê trễ sự liên tục trong việc thực thi các nhiệm vụ ở Hoàng Sa.
3. Biện pháp thực thi chủ quyền
Để khẳng định chủ
quyền ở quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa, triều Nguyễn đã cho cắm cột mốc, dựng bia
chủ quyền, lập miếu thờ và trồng cây tại quần đảo này. Đây là bằng chứng pháp
lý của một nước có chủ quyền và đã thực thi chủ quyền trên các vùng lãnh thổ
của mình là một chủ trương đúng đắn của triều đình Huế được triển khai từ năm
1833. Sách Đại Nam thực lục cho biết:
“ Năm Quý Tỵ, Minh Mạng thứ 14 (1833) mùa
thu tháng tám vua dụ Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi có một dải Hoàng
Sa, xa trông trời nước một màu, không phân biệt nông hay sâu. Gần đây, thuyền
buôn thường [mắc cạn] bị hại. Nay nên dự bị thuyền này, đến sang năm sẽ có
người đến đó dựng miếu, lập bia và trồng cây cối. Ngày sau cây to lớn xanh tốt,
người dễ nhận biết, tránh khỏi được mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời ”
.
Vào năm Ất Mùi (1835), nhà vua cho dựng miếu thờ, xây bình
phong và lập bia chủ quyền, Hoàng Sa trở thành lãnh thổ thiêng liêng của Tổ
quốc. Chính sử triều Nguyễn đã xác nhận sự kiện quan trọng này như sau: “ Bãi Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi có một
chỗ nổi cồn cát trắng cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam có
miếu cổ, có bia khắc bốn chữ “Vạn lý ba bình” (muôn dặm sóng yên), chu vi 1070
trượng, tên cũ là núi Phật Tự, bờ đông tây nam đều là đá san hô thoai thoải uốn
quanh mặt nước. Phía bắc giáp với một hòn toàn đá san hô, sừng sửng nổi lên,
chu vi 430 trượng, cao 1 trượng 3 thước ngang với cồn cát (gọi là Bàn Than
Thạch). Năm ngoái vua toan dựng dựng miếu, lập bia ở chỗ ấy bỗng vì sao không
làm được. Đến đây mới sai Cai đội thuỷ quân là Phạm Văn Nguyên đem lính thợ
giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu
đến đấy dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá, phía
trước xây cái bình phong. Mười lăm ngày làm xong rồi về”.
Qua hai tư liệu dẫn trên của chính sử triều Nguyễn cho thấy
quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa hoàn toàn thuộc về chủ quyền Việt Nam nằm trong
hải phận của tỉnh Quảng Ngãi.
Tài liệu Việt sử
cương giám khảo lược của Nguyễn Thông (soạn năm 1877) cho biết ngôi miếu cổ
ấy lợp ngói và chung quanh ngôi miếu được quân đội nhà Nguyễn đem các các hạt
giống từ đất liền ra vãi: “ Có một cái
miếu cổ, lợp ngói, biển ngạch khắc mấy chữ Vạn lý ba bình [muôn dặm sóng êm].
Không biết dựng từ thời nào. Các quân nhân đến đây thường đưa những quả Phương
Nam mà vãi ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để làm dấu mà nhận. Từ khi
quân đội Hoàng Sa bãi, gần đây không ai hỏi đến miếu ấy nữa” .
Qua tài liệu trên cho chúng ta thấy sự tái xác nhận chủ
quyền tại quần đảo Hoàng Sa dưới triều vua Minh Mạng, còn thực ra trên đảo đã
có giếng nước uống, cây cối tốt tươi, có toà miếu cổ, có bia khắc bốn chữ Vạn lý ba bình, cầu mong “biển yên sóng
lặng”. Điều đó nói lên tầm quan trọng về chủ quyền của người Việt lâu đời ở
đây. Hoàng Sa- Trường Sa không phải là nơi vô danh không có dấu chân người mà
đã có tên đất, tên người, tên núi, có giếng nước dùng sinh hoạt cho các cộng
đồng dân cư của thời trước đó tạo lập nên.
Ngoài bia đá được dựng lên cùng miếu thờ để khẳng định chủ
quyền theo thông lệ của nhà nước, triều đình Huế còn cho cắm 10 cột mốc bằng gỗ
để xác định chủ quyền. Việc hệ trọng này
triều đình giao cho Suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật mang ra cắm ở Hoàng Sa vào
năm 1836 có kích thước quy định như sau: “ Chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó
dựng làm dấu ghi, mỗi bài gỗ dài 5 thước (khoảng 2 mét), rộng 5 tấc (0,2 mét),
dày 1 tấc; mặt bài khắc dòng chữ: Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, Thuỷ quân
Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc
đến đây lưu dấu để nhớ ” .
Đó là một khẳng định chủ quyền rất thông minh và mang ý
nghĩa thiêng liêng dưới triều Minh Mạng.
Triều Nguyễn rất chú trọng đến việc khai thác, xây dựng,
thực thi chủ quyền tại Hoàng Sa nên nhà vua giao cho Bộ Công phối hợp với vệ
Giám thành, thuỷ quân và chính quyền địa phương hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình
Định để huy động dân binh tham gia với cộng đồng trách nhiệm rất cao. Chế độ
lương bổng, cấp phát, thưởng phạt đối với quan chức, binh lính và dân binh thực
hiện nhiệm vụ tại Hoàng Sa cũng rất nghiêm túc. Trong Châu bản triều Nguyễn thể hiện khá nhất quán về tính chất quan
trọng của Hoàng Sa-Trường Sa và những người được triều đình giao thực hiện
nhiệm vụ tại quần đảo này.
Ngày 18 tháng 7 năm Minh mạng 16 (1835), nhà vua ban Dụ: “ Chuyến đi Hoàng Sa lần này công vụ hoàn
tất. Riêng Cai đội Phạm Văn Nguyên trên đường công hồi đã trì hoãn, có Chỉ giao
cho Bộ Công trị tội. Nay phạt 80 trượng cho phục chức Cai đội. Các tên Giám
thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Hoằng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa chưa
chu tất, phạt mỗi tên 80 trượng. Các tên hướng dẫn hải trình Võ Văn Hùng, Phạm
Văn Sanh thưởng mỗi tên một tiểu “ phi long ngân tiền”; binh thợ, dân phu hai
tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi theo thưởng mỗi tên một quan tiền”. Việc thưởng phạt này liên quan đến sự kiện
triều đình Huế cho dựng miếu, lập bia tại Hoàng Sa năm Ất Mùi (1835).
Trong tờ Dụ ngày 13 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837),
nhà vua cũng có ý nhắc nhở về trách nhiệm của những quan chức tham gia nhiệm vụ
tại Hoàng Sa:
“ Trừ bọn Phạm Văn
Biện gồm 4 tên can tội đã có chỉ phạt trượng. Còn dân binh đi theo lặn lội biển
cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương, dân phu mỗi tên hai quan
tiền” .
Đối với các quan nhận lệnh đi Hoàng Sa nhưng vì do thiên
tai, dù không hoàn thành nhiệm vụ nhưng cũng được triều đình ban thưởng. Đó là
trường hợp Phạm Văn Biện năm 1839, do năm này bị bão sóng đánh chìm thuyền bè,
dù về Kinh trình diện có muộn nhưng tất cả đều được thưởng theo thứ bậc khác
nhau .
Trái lại là trường hợp Nguyễn Hoán, vào năm 1845, Ngũ đẳng
thị vệ Nguyễn Hoán được triều đình phái đi đến Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi,
tự tiện quấy rối các làng... Hoán phải chịu tội lưu đến ba bậc.
Dưới triều Nguyễn, sau khi vua Gia Long hoàn thành công
cuộc thống nhất đất nước vào năm 1802, năm sau đã tái xác lập chủ quyền lãnh
thổ ở quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa. Đến thời vua Minh Mạng, sau khi thống nhất
về hành chính trong cả nước (1832), nhà vua chú trọng đến Hoàng Sa- Trường Sa
về phương diện thống nhất về thảo mộc và tâm linh, tạo nên hồn thiêng sông núi,
gắn kết giữa hải đảo với đất liền, giữa kinh đô với xã tắc trên mọi miền của Tổ
quốc.Từ đây, tên tuổi của người lính Hoàng Sa Phạm Nữu Nhật và nhiều danh tính
và chức vụ khác làm nhiệm vụ Hoàng Sa gắn liền với quần đảo này và lưu danh
muôn đời trong sử sách.
4.
Kết hợp kinh tế với quốc phòng và bảo vệ ngư dân
Cùng với nhiệm vụ vãng thám, đo đạc, vẽ bản đồ, cắm mốc,
dựng miếu, trồng cây... đội Hoàng Sa còn làm nhiệm vụ kinh tế là thu lượm hàng
hoá của các tàu thuyền bị đắm, đánh bắt hải sản, muông thú... Trong một bản báo
cáo của Đỗ Mậu Thưởng vào năm 1838, được Bộ Công tâu lên vua Minh Mạng cho biết
“ Chuyến đi này có tìm thấy một khẩu súng
bằng gang sơn đỏ, có đem về các thứ xích san hô, mai con ba ba và bắt sống các
thứ chim”.
Một bài báo công bố muộn hơn (1849)
ở Anh của GutzLaff cho biết triều đình Huế đã lập sở thu thuế cùng số thuyền
được trưng dụng và quân đội ứng trực ở Hoàng Sa: “ Chính phủ An Nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế đã
đặt ra, bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu
thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải trả và để bảo trợ người đánh cá bản
quốc” .
Việc đóng quân để bảo vệ ngư dân và
lập cơ sở thu thuế đối với người nước ngoài tại Hoàng Sa là một khẳng định về
chủ quyền không thể tranh cãi của triều Nguyễn đối với quần đảo này.
Qua các tư liệu trên cho chúng ta
biết, Hoàng Sa là của Việt Nam nằm trên đường hàng hải quốc tế, cũng là nơi
được triều đình Huế quan tâm đầu tư khai thác, xây dựng và bảo vệ nhằm khẳng
định chủ quyền của nhà nước Việt Nam thời quân chủ.
Phòng thủ vùng biển đảo các tỉnh
miền Trung được triều Nguyễn đặc biệt quan tâm và chuẩn bị rất chu đáo từ lúc
vua Gia Long mới lên ngôi. Triều đình Huế đã cho xây dựng các công sự dọc theo
bờ biển, các cảng biển như Đà Nẵng, Thuận An, Thị Nại... xác lập chủ quyền và
khai thác vùng biển đảo xa khơi như Hoàng Sa - Trường Sa. Hoạt động phòng thủ
tích cực thông qua các công trình quân sự và quân đội được tăng cường, triều Nguyễn
đã khẳng định được chủ quyền không những trên đất liền mà trên các vùng biển
đảo trong hơn 50 năm đầu của thế kỷ XIX.
Dưới triều Tự Đức, do phải bận tâm
đối phó với sự xâm lược của thực dân Pháp nhưng không phải vì thế mà triều đình
Huế không thực hiện các nhiệm vụ về Hoàng Sa- Trường Sa. Tuy không thấy chính sử triều Nguyễn ghi tiếp về các
chuyến hải hành của quân đội và dân binh được triều đình sai phái đi công cán
Hoàng Sa, nhưng tài liệu địa phương từ bản gia phả họ Phạm ở Lý Sơn (Quảng
Ngãi) cho biết Cai đội Hoàng Sa là Phạm Quang Ảnh (1815-1865), có chuyến đi
cuối cùng vào năm 1865 và đã hy sinh trên biển cùng 8 người lính Hoàng Sa khác. Trong bộ sách Đại
Nam nhất thống chí tỉnh Quảng Ngãi, Quốc sử quán triều Nguyễn thời Tự Đức
đã dành nhiều trang sách để ghi chép về Hoàng Sa. Mới đây, ThS.
Trần Văn Quyến phát hiện sách giáo khoa dưới triều Tự Đức mang tên Khải đồng thuyết
ước có bản đồ Hoàng Sa. Đây không những là minh chứng thuyết
phục về sự kế tục khẳng định chủ quyền Việt Nam về quần đảo này của triều
Nguyễn mà còn nhằm giáo dục cho học sinh ý thức về chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ, biển đảo nước ta trong tình hình đất nước lâm vào giai đoạn khó khăn nhất.
|
|
|
Bản đồ Bản
quốc địa đồ vẽ quần đảo Hoàng Sa trong sách Khải đồng thuyết ước (vùng được khoanh đỏ- tư liệu của
ThS.Trần Văn Quyến)
|
Về nhà Thanh từ sau chiến tranh Nha
phiến, nhất là từ nửa sau thế kỷ XIX do
nội loạn và ngoại xâm nên lâm vào tình trạng suy kém trầm trọng đã không chú ý
đến vùng biển đảo ở phía đông nước ta. Do vậy, cho đến cuối thế kỷ XIX nhà
Thanh vẫn không dính dáng gì về chủ quyền ở vùng biển đảo này.
Vào đầu thế kỷ XX, Đại Thanh đế quốc toàn đồ xuất bản
năm 1905, tái bản lần thứ tư năm 1910 chỉ vẽ đế quốc Đại Thanh đến đảo Hải Nam.
Khi người Pháp đô hộ trên toàn cõi Đông Dương, Việt Nam vẫn
tiếp tục thực thi chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa.
5. Đối chứng và khẳng định
Căn cứ vào các tài liệu chính thống của triều
Nguyễn đã dẫn trên cho biết: Các triều đại trước triều Nguyễn và dưới triều
Nguyễn đều có dựng bia để khẳng định chủ quyền tại Hoàng Sa, lập đền thờ- một
tập quán rất đặc trưng của người Việt mang tính “ thiêng liêng về chủ quyền
lãnh thổ”, lập đồn binh, lập trạm thu thuế và trồng cây lấy giống từ đất
liền... Cũng theo mô tả của các tài liệu đã nêu, thì Hoàng Sa- Trường Sa không
phải là đảo Lý Sơn (Cù lao Ré) như sự cố tình biện giải không thực tế của một
số nhà Sử học Trung Quốc gần đây.
Vào tháng 6 năm 2012 vừa qua, tại trường Đại
học Waseda (Nhật Bản), GS. Trần Văn Thọ có tổ chức cuộc đối thoại trí trức giữa
hai nước Việt Nam và Trung Quốc, chủ quyền Biển Đông trở thành vấn đề tranh cãi
gay gắt trong cuộc đối thoại này. GS. Nguyễn Quang Ngọc (Đại học Quốc gia Hà
Nội), đã sử dụng các nguồn sử liệu tin cậy để bác bỏ luận điểm của các học giả
Trung Quốc: Hàn Chấn Hoa, Đới Khả Lai, Lý Quốc Cường, Vu Hướng Đông... cho rằng
Hoàng Sa và Trường Sa chỉ là đảo Lý Sơn (Cù lao Ré) và các đảo ven bờ biển miền
Trung Việt Nam.
Các học giả Trung Quốc xem việc triều đình cử
các đoàn thám hiểm, các nhà du hành hàng hải, các thương nhân người Trung Hoa
ra nước ngoài… Trong quá khứ họ đã đi lại trên biển Đông có viết, vẽ về Hoàng
Sa nhưng không có nghĩa là các hoạt động này gắn với chủ quyền đích thực của
nhà cầm quyền đương thời là ngộ nhận có mục đích. Cũng như trong quá khứ, các
nhà du hành phương Tây trong đó có người Bồ Đào Nha đã viết, vẽ về Hoàng Sa và
các đảo khác của Việt Nam, nhưng không ai thừa nhận chủ quyền của người Bồ Đào
Nha tại biển Đông từ các thế kỷ XVI-XVII. Đối với Trung Quốc, về chủ quyền đảo
Hải Nam mãi tới đời nhà Lương và nhà Tùy (cuối thế kỷ thứ VI đầu thế kỷ thứ
VII) mới xác lập quyền cai trị. Các triều đại về sau trong đó có triều Mãn
Thanh không thấy một văn bản nhà nước hoặc chính sử của triều đình xác nhận
Trung Quốc là nước có chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa- Trường Sa.
BẢN ĐỒ TRUNG HOA CỔ CỦA TRUNG
HOA
KHÔNG
CÓ HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
ĐIỂM
CỰC NAM CỦA TRUNG HOA LÀ ĐẢO HẢI NAM
Đại Thanh nhất
thống toàn đồ, đảo nhỏ ở phía dưới là Hải
Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ, đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan.
Nguồn: http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Thu-tich-Trung-Hoa-thua-nhan-Hoang-Sa-Truong-Sa-thuoc-Viet-Nam/20116/152391.datviet
Hoàng triều trực tỉnh địa dư
toàn đồ (Toàn bộ bản đồ địa lý của đất nước) do nhà
Thanh (Trung Quốc) xuất bản năm 1904 của Tiến sĩ Mai Ngọc Hồng gần đây trao tặng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam không có Hàng sa- Trường Sa. Đây là
bản đồ được Trung Quốc vẽ theo phương thức hiện đại của phương Tây, khác với
cách vẽ theo cách riêng trước kia. Bản đồ này có ghi rõ tọa độ, phù hợp với
ngôn ngữ bản đồ hiện nay.
Các tờ báo của Trung quốc gần đây như Stockstar và
trang tin quân sự của Sina giới thiệu tỉ mỉ về kích thước, lai
lịch của tấm bản đồ, nói rõ bản đồ này xác định đảo Hải Nam là điểm cực nam
lãnh thổ Trung Quốc, có nghĩa là các quần đảo ở Biển Đông như Hoàng Sa, Trường
Sa nằm ngoài lãnh thổ Trung Hoa. Đặc biệt, Stockstar
dùng tên gọi theo cách của Việt Nam là Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi truyền
thông Trung Quốc hiếm khi công bố với người dân về cách gọi nào khác ngoài tên
gọi mà nước này đặt ra.
Trong khi đó, các bản đồ nước ta vào triều Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ
XIX đều có vẽ quần đảo Hoàng Sa
Bài học về xây dựng hệ thống phòng thủ và bảo vệ
chủ quyền biển đảo ở các tỉnh miền Trung của triều Nguyễn có thành công và cũng
có nhiều hạn chế. Các nguyên nhân về sự thành bại của triều Nguyễn không những
đã để lại cho chúng ta một di sản quý báu về biển mà còn củng cố được niềm tin
về chủ quyền thiêng liêng vùng biển đảo mà triều Nguyễn và các triều đại trước
đó đã đổ bao nhiêu mồ hôi, xương máu để tạo lập nên.
15. http://baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Thu-tich-Trung-Hoa-thua-nhan-Hoang-Sa-Truong-Sa-thuoc-Viet-Nam/20116/152391.datviet
. Ngoài ra, dòng họ Võ Văn còn có nhiều người đi làm
nhiệm vụ Hoàng Sa, tiêu biểu là Võ Văn Hùng - người mà trong các bộ chính sử
triều Nguyễn có nhắc đến nhiều lần với vai trò người dẫn đường cho thủy quân và
tuyển chọn đà công, thủy thủ... Đó là những người vâng mệnh triều đình thực thi
nhiệm vụ cắm mốc chủ quyền trên đảo Hoàng Sa trong thời Minh Mạng. Tại nhà ông
Võ Văn Út, hậu duệ thứ 16 của họ Võ ở Lý Sơn, còn giữ phả tộc cổ cũng có ghi
chép: Võ Văn Hùng là một trong 10 người con của Hội nghĩa hầu Võ Văn Khiết. Năm
Giáp Ngọ (1834) cùng đi với ông còn có em trai Võ Văn Công. Người trực tiếp cầm
lái là ông Đặng Văn Siểm cùng quê Lý Sơn với anh em họ Võ (VNEPRESS 19-9-2011).
. Quyển sách này vừa được ThS. Trần Văn Quyến (giảng viên khoa Xã hội và Nhân văn ĐH Phú
Xuân Huế) công bố. Theo khảo
chứng của ThS. Trần Văn Quyến, sách được in từ thời Tự Đức (1853) dạy
nhiều môn, từ thiên văn, địa lý, rồi đến nhân sự cho trẻ em học vỡ lòng. Sách
được in trên ván gỗ, gồm 44 tờ, mỗi tờ hai trang, mỗi trang có sáu dòng, mỗi
dòng có 16 chữ. Đặc biệt, trang 15-16 có vẽ bản đồ Việt Nam với tên gọi là “Bản
quốc địa đồ”, trong đó miêu tả chi tiết về quần đảo Hoàng Sa. Phần Hoàng Sa Chữ
(có nghĩa là bãi cát- Hoàng Sa) nằm ngoài phần đất liền, đối diện với Thừa
Thiên và Quảng Nam.
Vào năm
1895 và 1896, có hai chiếc thương thuyền tên Bellona và Iruezi Maru chở đồng
cho người Anh bị đắm tại Hoàng Sa và bị người Trung Hoa đến đánh cướp được đem
đồ đồng về bán tại đảo Hải Nam. Đại diện người Anh tại Bắc Kinh đòi nhà Thanh phải bồi thường. Nhưng
chính quyền nhà Thanh không chịu, viện cớ quần đảo Hoàng Sa không thuộc chủ quyền
của Trung Hoa.
Mặc dù chịu sự bảo hộ của Pháp, Nam triều
về danh nghĩa vẫn là đại diện cho quốc gia nên trước các yêu sách của chính quyền
Quốc dân đảng Trung Hoa và sự đề nghị cung cấp dữ kiện liên quan đến vấn đề biển
Đông, ngày 3 tháng 3 năm 1925, Thượng thư Bộ Binh Thân Trọng Huề thay mặt triều
đình Huế đã xác nhận chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa bằng một biểu văn quan
trọng, trong đó có đoạn như sau: “Quần đảo Hoàng Sa luôn luôn thuộc Việt Nam và
đó là vấn đề không thể chối cãi được…”
Trong bản báo cáo ngày 22/01/1929, Khâm sứ Pháp ở Trung kỳ là Le Fol nhấn mạnh
các quyền được nước An Nam khẳng định và duy trì từ lâu. Ông viết như sau: “Thân Trọng Huề, nguyên Thượng thư Bộ Binh,
qua đời năm 1925, trong thư ngày 3 tháng 3 năm đó, đã khẳng định rằng “Các
hòn đảo đó bao giờ cũng thuộc nước An Nam, không có gì phải tranh cãi về vấn đề
này”.
Tháng
12/1933, các đảo Trường Sa sáp nhập vào địa phận tỉnh Bà Rịa. Ngày 29 tháng 2
năm Mậu Dần (1938) vua Bảo Đại ra Dụ số 10 chuyển đổi hành chính đảo Hoàng Sa
vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên: “Các cù lao Hoàng Sa (Archipel des Iles Paracels)
thuộc về chủ quyền nước Nam đã lâu đời và dưới các tiền triều, các cù lao ấy
thuộc về địa hạt tỉnh Nam Ngãi; đến đời đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế (tức vua Gia
Long) vẫn để y như cũ là vì nguyên trước sự giao thông với các cù lao ấy đều do
các cửa bể tỉnh Nam Ngãi… Nhờ sự tiến bộ trong việc hàng hải nên việc giao
thông ngày nay có thay đổi, vả lại viên đại diện chính phủ Nam triều uỷ phái ra
kinh lý các cù lao ấy cùng quan đại diện chính phủ Bảo hộ có tâu rằng nên tháp
các cù lao Hoàng Sa vào địa hạt tỉnh Thừa Thiên thời được thuận tiện hơn…’.
Trên cơ sở đó, ngày 5/6/1938, toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định
thành lập đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên và cho
dựng bia chủ quyền tại đảo Hoàng Sa (Theo Lê Thái Dũng, 02/6/2011). Đây là một
tư liệu khẳng định chủ quyền liên tục của triều Nguyễn về Hoàng Sa- Trường Sa.
Theo GS. Trần Văn Thọ:
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Hàn Chấn Hoa, Đới Khả Lai, Lý Quốc Cường, Vu
Hướng Đông... đã tìm cách chứng minh Hoàng Sa và Trường Sa chỉ là các đảo ven bờ
biển miền Trung Việt Nam. Tiêu biểu và gần đây nhất là GS Vu Hướng Đông trong
luận án Tiến sĩ bảo vệ tại Đại học Hạ Môn năm 2008 đã đưa ra lập luận rằng vì Đội
Hoàng Sa (do Gia Long lập) dùng người ở đảo Lý Sơn (tức là Cù Lao Ré, cách cửa
biển Sa Kỳ khoảng 20 km, nay là huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) cho nên có thể
suy ra Lý Sơn chính là đảo Hoàng Sa. Ngoài ra, các tác giả này còn cho rằng Trường Sa chỉ
là các dải cát mang tên Đại Trường Sa, Tiểu Trường Sa trong đất liền thuộc bờ
biển tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay. Với chủ trương đó, các tác giả này công nhận
Việt Nam có chủ quyền nhưng chủ quyền đó chỉ là các đảo ven bờ, còn các đảo ở
giữa Biển Đông (mà họ gọi là Tây Sa, Nam Sa) hoàn toàn không phải là Hoàng Sa,
Trường Sa (như tài liệu của Việt Nam) và Pracels, Sprattly (như tài liệu của
phương Tây). Nói khác đi, họ chủ trương là các đảo ở Tây Sa và Nam Sa là chủ
quyền của họ, không liên quan gì đến Hoàng Sa, Trường Sa hay Paracels, Spratly
cả. Tuy nhiên, theo GS. Nguyễn Quang Ngọc, tất cả các nguồn tư liệu thư tịch và
bản đồ cổ của Việt Nam, phương Tây và của cả Trung Quốc đều phân biệt một cách
rạch ròi Hoàng Sa và Trường Sa ở giữa Biển Đông với các đảo ven bờ Việt Nam.
Đây là điều ai cũng có thể nhận ra nếu thực sự muốn nghiên cứu nghiêm túc. Sau
đó, giáo sư Nguyễn Quang Ngọc có nói thêm là khi Pháp chuyển giao cho Bảo Đại
toàn bộ Nam kỳ có bao gồm cả Hoàng Sa và tại Hội nghị San Francisco (1951), thủ
tướng Trần Văn Hữu của chính quyền Bảo Đại có tuyên bố chủ quyền của Việt Nam tại
quần đảo Hoàng Sa và không có ai phản đối. (GS. Trần Văn Thọ trả lời phỏng vấn
của nhà báo Thu Hà, Vietnamnet:
http://dantri.com.vn/c36/s36-633485/chu-quyen-bien-dong-ta-phai-tu-quyet-dinh-so-phan-minh.htm, 24/8/2012)
|