Nhà trường không và cũng không thể
thay thế được gia đình, cộng đồng sinh hoạt, các đoàn thể, các tổ chức
tôn giáo, văn học nghệ thuật, viện bảo tàng, lễ hội, các phương tiện
thông tin đại chúng, các hoạt động thể thao... "Không cần" ở đây có
nghĩa là trẻ em Mỹ có thể học ở nhà, theo chế độ homeschooling (học tại
gia)
Trẻ em Mỹ "không cần" trường
"Không cần" theo nghĩa đen, không phải
một cách nói ví von hoa mỹ về một thực tế khác cũng ngược đời nếu so
với giáo dục Việt Nam: Nhà trường chỉ là một thành phần, cho dù là một
thành phần quan trọng, trong một phức hợp xã hội có nhiệm vụ giáo dục
những công dân Mỹ tương lai.
Nhà trường không và cũng không thể
thay thế được gia đình, cộng đồng sinh hoạt, các đoàn thể, các tổ chức
tôn giáo, văn học nghệ thuật, viện bảo tàng, lễ hội, các phương tiện
thông tin đại chúng, các hoạt động thể thao... "Không cần" ở đây có
nghĩa là trẻ em Mỹ có thể học ở nhà, theo chế độ homeschooling (học tại
gia).
 |
Ảnh minh họa: Internet.
|
HỘP THƯ TỐ CÁO TIÊU CỰC GIÁO DỤC
Chế độ "Học tại nhà" (Home schooling)
cho phép cha mẹ tự giáo dục con cái thay vì cho chúng đến trường mà
không yêu cầu phải có chứng chỉ gì đặc biệt. Nhiều người Mỹ cho rằng đó
là cách để trẻ em có thể phát huy tính tự lập, chủ động trong cả 365
ngày chứ không chỉ tiếp nhận kiến thức một cách thụ động trong những lúc
đến trường. Đó là một nguyên lý giáo dục khác hẳn, dựa trên quan điểm
là mọi bậc cha mẹ đều có thể giúp đỡ con cái học tại nhà.
Nhiều gia đình không hề sử dụng các
tài liệu hướng dẫn hay chương trình giảng dạy chính thức, mà căn cứ vào
thiên hướng và phong cách cá nhân của trẻ em để áp dụng các phương pháp
và nội dung cụ thể. Ngay cả trong trường hợp có sử dụng các tài liệu
hướng dẫn, thời gian học tập hàng ngày cũng không kéo dài quá vài tiếng
đồng hồ, thời gian còn lại dùng để du lịch, biểu diễn, tham quan, đọc
sách, tiến hành các dự án nghiên cứu hay tham gia hoạt động từ thiện.
Hiện nay có khoảng 1 triệu gia đình ở Mỹ áp dụng và theo thống kê đang
tăng lên khoảng 15% mỗi năm.
Trẻ em Mỹ cũng không theo một chương trình thống nhất
Ở Mỹ, chương trình học của các trường
phổ thông không chỉ khác nhau tuỳ theo các bang mà còn khác nhau tuỳ
theo từng vùng, từng quận, thậm chí tuỳ theo từng trường. Rất nhiều
người không biết rằng rất nhiều học sinh Mỹ không hề biết gì về thuyết
Darwin. Ở một số địa phương, đặc biệt là tại các bang ở miền Nam, do ảnh
hưởng mạnh mẽ của Thiên Chúa Giáo, giảng dạy thuyết Darwin thậm chí còn
bị coi là phi pháp.
Vì không học theo một giáo trình thống
nhất, trình độ của học sinh khi tốt nghiệp trung học rất khác nhau.
Chính vì lẽ đó, ở năm thứ nhất, các trường đại học Mỹ thường có 3 môn
bắt buộc là Học nghĩ, Học nói và Học viết. Trong số 18 sinh viên lớp Học
viết (English 101) do tôi phụ trách, có những sinh viên hiểu biết rất
rộng và sâu, nhưng cũng có sinh viên thậm chí viết tiếng Anh còn sai
chính tả và ngữ pháp.
Tuy vậy, họ có một điểm chung là rất
tự tin. Đó là kết quả của một triết lý giáo dục mang tính dân chủ. Việc
chấm điểm, chẳng hạn. Nếu ở ta chấm điểm là biện pháp nhằm xếp loại học
sinh và đánh giá giáo viên, điều cuối cùng dẫn giáo viên đến tình trạng
chạy theo thành tích và rất nhiều học sinh đến tâm lý tự ti.
Không tự ti sao được khi một đứa trẻ
từ lớp 1 đến lớp 12 luôn luôn đội sổ, và điều đó được công bố cho tất cả
bạn bè cùng lớp. Ở Mỹ, việc chấm điểm là vấn đề tế nhị, thường là giữ
kín. Nó là cơ sở để học sinh tự biết mình và để giáo viên điều chỉnh
phương pháp giáo dục với từng học sinh. Nhà trường Mỹ luôn cố gắng để
học sinh không cảm thấy thua chị kém em. Ngay cả thi tốt nghiệp phổ
thông cũng không có vai trò quan trọng như ở Việt Nam hay ở Châu Âu. Có
thể nói, nhà trường ở Mỹ là nhà trường không nhằm mục đích thi cử.
Các trường phổ thông của Mỹ không có sách giáo khoa chung trong cả nước
Việc lựa chọn các loại sách để dạy
trong nhà trường thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên trách địa phương và
nhà trường, nhưng vai trò cá nhân của giáo viên và ý kiến của phụ huynh
cũng rất quan trọng. Chẳng hạn, cuối tháng 9 năm 2003, khi tôi vừa đến
Normal, cuốn sách nổi tiếng của nhà văn Hoa Kỳ đoạt giải Nobel John
Steinbeck, "Of Mice and Men" (Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu dịch là
"Của chuột và người"), cùng hai tác phẩm kinh điển khác là "The
Adventures of Huckleberry Finn" (Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry
Finn) của Mark Twain và "To Kill a Mockingbird" (Giết chết một con chim
Mocking) của Harper Lee, bị cha mẹ học sinh các trường trung học phản
đối và đòi đưa ra khỏi chương trình văn học.
Hai trường trung học Normal Comunity
High School và Normal West High School phải thành lập một chuyên ban,
bao gồm hiệu trưởng, một chuyên gia thông tin đại chúng và một giáo
viên, để nghiên cứu và trả lời phụ huynh học sinh. Bà Tripp, phụ huynh
học sinh và là tác giả một trong hai lá thư khiếu nại, phê phán cuốn
sách của John Steinbeck là chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc, ngôn ngữ
thô tục và báng bổ, "không thể hiện các giá trị truyền thống", "gây phản
cảm" đối với con gái bà.
Đây không phải là trường hợp cá biệt.
Năm 1992, khi một nhóm độc giả ở bang Ohio chỉ ra 108 chỗ tục tĩu, 12
chỗ chứa đựng thái độ kỳ thị chủng tộc và 45 đoạn báng bổ Chúa, cuốn
sách này đã bị buộc đưa ra khỏi chương trình của một trường phổ thông
địa phương. Ngay sau đó, 150 nhà giáo, sinh viên và phụ huynh học sinh
đã tổ chức một cuộc hội thảo ca ngợi giá trị của cuốn sách, cuối cùng nó
được đưa trở lại chương trình. Mùa hè năm 2003, Hội đồng giáo dục quận
Coffee County (Bang Georgia) cũng phải tiến hành thẩm định vấn đề "ngôn
ngữ dung tục" của cuốn sách "Of Mice and Men" khi có khiếu nại của một
số phụ huynh học sinh. Đầu năm 2003, Hội đồng nhà trường quận George
County ở Lucedale (Bang Mississippi) đã nhất trí loại "Of Mice and Men"
cùng hai cuốn sách khác ra khỏi chương trình.
Báo Giáo dục Việt nam
Bốn câu chuyện "ngược đời" của giáo dục Mỹ
Thứ tư 03/10/2012 16:52
Ở Mỹ, chương trình
học của các trường phổ thông không chỉ khác nhau tuỳ theo các bang mà
còn khác nhau tuỳ theo từng vùng, từng quận, thậm chí tuỳ theo từng
trường. Rất nhiều người không biết rằng rất nhiều học sinh Mỹ không hề
biết gì về thuyết Darwin.
Coi nhà trường như doanh nghiệp
Nếu như ở Việt Nam, cho đến nay thương
mại hoá giáo dục vẫn gây tranh cãi và bị nhiều người coi là tồi tệ, thì
ở Mỹ nó đang tồn tại như một cái gì đó hết sức tự nhiên.
Khác với Việt Nam, các trường đại học
Mỹ nói chung không có thi đầu vào. Quan điểm của họ rất đơn giản: Học
tập là quyền chính đáng của mọi người, mặc dù xuất phát điểm có thể khác
nhau. Nhờ vậy, tất cả những ai có chí đều có thể có cơ hội, ngược lại
quốc gia cũng không bỏ phí nhân tài. Vào thập kỷ 1960, số học sinh Mỹ
tốt nghiệp phổ thông học tiếp lên đại học chiếm tỷ lệ 60%. Hiện nay, tỷ
lệ này có giảm đi, nhưng vẫn đứng đầu thế giới. Nhưng muốn học, phải trả
tiền. Khi anh bỏ tiền để mua kiến thức, anh sẽ có ý thức về việc học
tập hơn. Còn nếu anh trả tiền mà không học, tức không nhận kiến thức,
thì đó cũng là quyền của anh.
Nói vậy, nhưng việc đăng ký học cũng
không phải hoàn toàn chỉ có chuyện tiền nong. Một số trường nổi tiếng
khá kén chọn sinh viên. Một số bang cũng ưu tiên nhận sinh viên từ bang
mình. Còn đối với sinh viên nước ngoài, điểm thi tiếng Anh (TOEFL) đặc
biệt quan trọng. Trường Đại học Y khoa là một ngoại lệ. Muốn vào trường,
sinh viên phải có bằng tốt nghiệp đại học thuộc một số ngành như sinh
hoá, sinh vật...Chương trình kéo dài 4 năm nữa, sau đó phải thực tập từ 2
đến 4 năm. Như vậy, để hành nghề chữa bệnh, cần phải học và thực tập từ
10 - 12 năm!
Việc học tập ở Mỹ rất tốn kém. Mức chi
tiêu tối thiểu của một sinh viên ở các trường công, vào khoảng 10 ngàn
USD/năm, còn ở các trường tư khoảng 35 ngàn USD. Vì thế, trừ một số
người được nhận học bổng hoặc gia đình giàu có, sinh viên Mỹ hầu hết vừa
học vừa làm, một số làm việc ngay tại trường.5. Chuyện ngược đời thứ
năm là bất chấp những chuyện ngược đời vừa kể giáo dục Mỹ vẫn có chất
lượng cao nhất thế giới.
Bằng chứng là họ kinh doanh giỏi nhất,
nghiên cứu khoa học giỏi nhất, đóng phim giỏi nhất, chơi đàn giỏi nhất,
hát hay nhất, chơi thể thao giỏi nhất, và ngay cả trong văn học cũng là
một trong những nước có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel nhất.
_______________
Bộ Giáo dục xem xét bỏ độc quyền sách giáo khoa
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển cho biết, việc làm
sách giáo khoa phổ thông sắp tới sẽ theo hướng có một chương trình
chung, nhiều bộ sách khác nhau. Hiện nay mới có sách tiếng Anh là theo
“kiểu mẫu’ này.
Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Vinh Hiển
*
Thưa Thứ trưởng, Bộ GD-ĐT đang chuẩn bị cho kể hoạch lớn là đổi mới
chương trình, SGK phổ thông sau năm 2015. Công việc này đang đứng trước
những khó khăn gì?
- Thứ trưởng
Nguyễn Vinh Hiển:
Hiện nay, ta có lượng lớn giáo viên chưa đáp ứng được nhu cầu đổi mới.
Chuyện thừa thiếu không cân đối. Chế độ chính sách không đảm bảo. Sau đó
là điều kiện dạy và học, thời lượng dạy của ta ít, thời gian các em
sinh hoạt ở trường ít.
Để thực hiện đề án, Bộ đã và đang kiến
nghị Đảng, Nhà nước cải thiện chính sách thu nhập, đánh giá công bằng,
trả lương xứng đáng cho giáo viên. Bên cạnh đó các trường sư phạm phải
đổi mới chương trình đào tạo,…
Các địa phương, các trường cũng
phải chú trọng đào tạo theo nhu cầu. Ngành nghề nào cũng phải vậy. Hi
vọng với quy hoạch nguồn nhân lực các ngành sẽ giúp giải quyết chuyện
thừa thiếu không cân đối.
Giáo viên là người trực tiếp thực hiện đổi mới nếu không quan tâm đến họ sẽ thất bại.
* Như vậy là Bộ GD-ĐT có kế hoạch tập trung đổi mới con người trước?
-
Ta không nói cái gì trước, cái gì sau được. Nếu không đổi mới chương
trình, SGK không có nhu cầu đổi mới con người. Nhưng không đổi mới con
người không thực hiện được đổi mới chương trình, SGK.
Khiếm
khuyết lớn của chúng ta khi quan tâm tới việc dạy học nhưng thiếu quan
tâm khâu kiểm tra, đánh giá. Bộ đã nhận ra điều này và đang tích cực sửa
trong một vài năm gần đây và thời gian tới. Hiện khoa học kiểm tra đánh
giá của Việt Nam rất lạc hậu, không đáp ứng yêu cầu.
*
Tại hội thảo về đề án đổi mới diễn ra trong 3 ngày đầu tuần này, một số
chuyên gia Đan Mạch và Việt Nam có nói đến cần xây dựng một chuẩn chung
và nhiều bộ SGK cho giáo viên. Ý kiến của Bộ GD-ĐT về vấn đề này như
thế nào?
- Hiện nay, môn tiếng Anh đã có một chương trình
và nhiều SGK. Hướng sắp tới là làm sao có chương trình chung nhưng
nhiều bộ SGK khác nhau. Bộ sẽ kiểm tra, đánh giá phê duyệt để các bộ
sách trước khi các bộ sách được đưa vào sử dụng.
Học sinh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2012
* Không ít chuyên gia, giáo viên cho rằng nếu thực hiện chương trình tích hợp sẽ gây khó khăn cho cả cô và trò?
-
Việc dạy tích hợp chắc chắn khó hơn, đòi hỏi giáo viên biết vận dụng
năng lực hiểu biết, kiến thức rộng và tổng hợp. Nhưng đây là yêu cầu tất
yếu, dù khó cũng phải làm. Song sẽ cố gắng dựa trên điều kiện của Việt
Nam hiện nay sao cho khả thi nhất.
Tích hợp bản chất không phải
là ghép môn. Ghép môn chỉ là cách làm tạo điều kiện cho làm tích hợp.
Cách làm giúp giáo viên và học sinh có kiến thức hiểu biết tổng quát.
* Thay đổi việc dạy tích hợp có dẫn tới thay đổi trong giảng dạy ở các trường sư phạm hiện nay không, thưa ông?
-
Có chứ. Nhưng phải chờ chương trình phổ thông làm trước rồi mới tiến
tới đào tạo tích hợp. Tích hợp thực ra là đào tạo năng lực để người học
hiểu và vận dụng kiến thức một cách tổng hợp, không phải chuyện học
nhiều hay ít. Đây là điều tất cả mọi người cần phải có, không riêng gì
ngành sư phạm. Song giáo viên cần được chú trọng hơn.
*
Đề án Đổi mới chương trình, SGK phổ thông sau năm 2015 chỉ còn khoảng
3-4 năm nữa sẽ đi vào thực tế. Khoảng thời gian còn lại có đủ đề hoàn
thiện đề án?
- Bộ đang tích cực làm công tác chuẩn bị.
Nhưng phải ổn định mới triển khai. Sau 2015 không có nghĩa là 2015 hoặc
2016 sẽ làm luôn. Có thể sẽ không triển khai đồng loạt mà nơi nào đủ
điều kiện sẽ làm trước. Nơi nào chưa đủ điều kiện làm sau.
Phải
xây dựng chương trình phù hợp với thực tại nhưng cũng tính đến độ ổn
định trong vài năm tiếp theo trong khi phải đảm bảo việc dạy và học,
nâng cao dần đội ngũ giáo viên.
* Cảm ơn ông!
Văn Chung
Theo VNN
|