Chỉ riêng đại sứ quán kiểu pháo đài của Mỹ không có lá cờ nào của
quân giải phóng tung bay. Khi được hỏi về lý do tại sao họ lại để một
trường hợp ngoại lệ như vậy, một quan chức tại Hà Nội nở nụ cười và quả
quyết rằng: "Người Mỹ sẽ sớm quay trở lại". Ông giải thích: "Người Mỹ e
ngại chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc và họ biết, trong lịch sử, Việt
Nam luôn là trở ngại lớn nhất ngăn cản Bắc Kinh tiến xuống phía nam".
Đầu năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã có chuyến thăm
lịch sử tới Vịnh Cam Ranh nổi tiếng đang được đề cập đến rõ ràng trong
toan tính chiến lược của người Mỹ. Điều đó không có nghĩa Việt Nam và Mỹ
đã tiến gần đến sự hợp tác chiến lược mà người đối thoại với tôi (Nayan Chanda - biên tập viên của trang YaleGlobal Online, cựu phóng viên và biên tập viên tờ Far Eastern Economic Review - người dịch)
từng mường tượng ra vào thời điểm năm 1975, nhưng hành trình hòa giải
và thiết lập tình hữu nghị đầy giữa hai nước vừa mới đây còn là kẻ thù
của nhau vẫn là một câu chuyện đáng quan tâm.
Câu chuyện cũng mang đến những bài học giá trị trong sự tác động qua
lại lẫn nhau giữa ba nhân tố - địa chính trị, chủ nghĩa dân tộc, và hệ
tư tưởng - biến ảo như kính vạn hoa.
Lịch sử 2 nghìn năm mối quan hệ lúc ấm lúc lạnh của Việt Nam với
người khổng lồ láng giềng Trung Quốc, tham vọng quốc gia cùng nỗ lực đảm
bảo vai trò cầm quyền có thể giải thích tại sao nó lại mở đường cho cho
công cuộc bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ.
Vào thời điểm chiến tranh hoàn toàn chấm dứt năm 1975, phía Việt Nam
hân hoan trong chiến thắng lịch sử, háo hức tái thiết đất nước sau những
năm bom đạn tàn phá, nhưng cũng đầy âu lo với những dấu hiệu khiêu
khích lộ liễu của Trung Quốc. Việt Nam có cơ sở để lạc quan mau chóng
khôi phục lại quan hệ với Washington, do những tính toán địa chính trị
của cả 2 bên, nhưng cơ sở logic ấy lại dựa trên sự hiểu biết nhầm lẫn về
động cơ chính sách của Mỹ.
 |
|
Ảnh minh họa |
Mặc dù Tổng thống Jimmy Carter mong muốn nối lại quan hệ với tất cả
các bên từng là kẻ thù ở châu Á, bao gồm cả Trung Quốc, thì việc bình
thường hóa quan hệ với Việt Nam vẫn tỏ ra là không thể. Carter không có
chung quan điểm dài hạn với Việt Nam và về phần mình, Việt Nam đã đánh
giá chưa đúng về vết thương chiến tranh còn hằn sâu những ảnh hưởng tâm
lý tại Mỹ.
Trong khi muốn mối quan hệ với Washington sẽ giúp tạo đối trọng với
sức mạnh của Trung Quốc, Việt Nam đã quá tự hào với chiến thắng nên
không thể bỏ qua các khoản bồi thường chiến tranh - các khoản viện trợ
tái thiết mà Mỹ cam kết theo Hòa ước Paris 1973. Sau khi các cuộc đàm
phán bình thường hóa quan hệ đổ vỡ vào năm 1978, bối cảnh địa chính trị
đã trải qua những thay đổi quan trọng kéo dài gần 2 thập niên không có
lợi cho Việt Nam.
Bốn năm sau khi kết thúc cuộc chiến tranh trường kỳ, Việt Nam lại
bước vào cuộc chiến mới bảo vệ biên giới phía bắc và phía tây. Năm
1977-1978, các cuộc tấn công của lực lượng Khmer Đỏ dưới sự giật dây của
Trung Quốc vào biên giới phía tây đã khiến Việt Nam phải đáp trả, đẩy
lùi và đưa quân sang hỗ trợ nhân dân Campuchia tiêu diệt chế độ diệt
chủng. Trung Quốc đã ngay lập tức có phản ứng với cuộc đổ bộ vào biên
giới phía bắc của Việt Nam vào năm 1979 để "trừng phạt". Từ đây, Việt
Nam rơi vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế ở trong nước và bị bên ngoài cô
lập.
Việt Nam vừa phải chịu áp lực từ liên kết thực tế giữa Mỹ và Trung
Quốc cùng sự ủng hộ của họ cho liên minh do Khmer Đỏ dẫn đầu vừa mất đi
ủng hộ từ phía Liên Xô do đang tiến hành những cải cách kinh tế, chính
trị.
Các cuộc đàm phán bình thường hóa quan hệ với Mỹ bị sa lầy bởi Mỹ
luôn yêu cầu trách nhiệm đối với tù nhân và những người mất tích (MIA)
trong chiến tranh của họ. Những người bảo thủ trong chính quyền và quân
đội, không bao giờ "tha thứ" cho Việt Nam vì đã làm nước Mỹ bẽ mặt, họ
muốn lấy lại danh dự bằng cách cố gắng đưa trở về hài cốt của các lính
Mỹ tử trận và tiếp tục duy trì lệnh cấm vận thương mại áp đặt từ năm
1975 làm tê liệt nền kinh tế Việt Nam.
Để vượt ra khỏi tình trạng khó khăn về kinh tế và sự cô lập ngoại
giao của bên ngoài, Việt Nam đã phát động công cuộc đổi mới và bắt đầu
lên kế hoạch đến năm 1989 rút hết quân đội khỏi Campuchia.
Đến lúc Việt Nam sắp hoàn tất việc đưa quân về, theo đúng như yêu cầu
của phía Mỹ và ASEAN, và bước vào các cuộc đàm phán về tương lai chính
trị của Campuchia, bối cảnh địa chính trị lại một lần nữa thay đổi. Việc
Trung Quốc và Liên Xô lập lại quan hệ và sự cô lập quốc tế đối với Bắc
Kinh sau sự kiện Thiên An Môn không chỉ làm thay đổi môi trường bên
ngoài mà còn đặt ra những quan ngại sâu sắc về sự an nguy của chế độ.
Các cuộc biểu tình quy mô lớn ở Trung Quốc đã kết thúc bằng bạo lực
tại Quảng trường Thiên An Môn và sự sụp đổ như một hiệu ứng domino của
chế độ Xã hội Chủ nghĩa ở một loạt các nước Đông Âu diễn ra ngay sau đó
đã rung lên hồi chuông báo động ở cả Bắc Kinh - và Hà Nội. Trong hoàn
cảnh hết sức cần những sự hỗ trợ và mối quan hệ thương mại với phương
Tây, Việt Nam vẫn rất mực cảnh giác với chiến lược "diễn biến hòa bình"
và lật đổ hệ thống Xã hội Chủ nghĩa dưới chiêu bài viện trợ. Cái gọi là
lộ trình bình thường hóa quan hệ của chính quyền George H.W. Bush bị đặt
trong sự hoài nghi sâu sắc. Việc Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn
Cơ Thạch không thể hoàn tất nỗ lực bình thường hóa, dù đã có nhiều
nhương bộ trong vấn đề MIA và đã rút quân khỏi Campuchia, đã khiến Việt
Nam thay đổi quỹ đạo chống Trung Quốc. Một hội nghị cấp cao bí mật giữa
lãnh đạo Đảng hai nước Trung Quốc và Việt Nam đã đặt nền móng cho sự
từng bước xuống thang xung đột của Trung Quốc với Việt Nam và thỏa thuận
thành lập một chính phủ liên minh ở Phnom Penh dưới sự bảo đảm của Liên
hợp quốc.
Với việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc diễn ra theo chiều
hướng thuận lợi, mục tiêu chính của Việt Nam khi tìm kiếm mối quan hệ
với Washington là hợp tác kinh tế. Trớ trêu thay, chính quyền đảng Dân
chủ dưới thời Bill Clinton tỏ ra gay gắt với Việt Nam hơn chính quyền
Cộng hòa. Dưới áp lực của các chính trị gia cánh hữu, chính quyền
Clinton đã gây thêm sức ép lên vấn đề MIA và nhân quyền. Giới doanh
nghiệp, mặc dù vậy, nhìn thấy cơ hội ở Việt Nam và cuộc vận động chung
của họ cuối cùng đã buộc Washington phải đồng ý lập trường mềm mỏng hơn.
Tháng 2/1995, Mỹ dỡ bỏ lệnh cấp vận thương mại đối với Việt Nam, và
tháng 7 đi đến tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Vậy là đến
ngày 5/8/1995 (tròn 30 năm cuộc chiến tranh kết thúc), Bộ trưởng Ngoại
giao Mỹ Warren Christopher đã cắm quốc kỳ nước mình lên đại sứ quán Mỹ
tại Hà Nội, mối quan tâm chính của Việt Nam đã thay đổi. Việt Nam không
còn hào hứng với một mối quan hệ chiến lược với Mỹ như với việc mở cửa
nền kinh tế ra với thế giới, và đặc biệt là, giành chế độ đãi ngộ thương
mại quốc gia nữa.
Tình cảm này của Việt Nam đối với việc xây dựng một mối liên kết sâu
sắc hơn với Mỹ để đề phòng Trung Quốc thể hiện rõ trong tháng 3/2000. Bộ
trưởng Quốc phòng William Cohen trở thành quan chức nội các Mỹ đầu tiên
tới thăm Việt Nam, nhưng Hà Nội sau đó đã thẳng thắn tuyên bố không hề
đàm phán xây dựng quan hệ chiến lược. Trong cuộc gặp với Clinton, Tổng
Bí thư Lê Khả Phiêu đã giảng giải cho vị Tổng thống Mỹ về lịch sử hào
hùng chống ngoại xâm của Việt Nam, nhưng không thảo luận mối quan hệ với
Mỹ ở thời điểm hiện tại hay thương lai. Vì lẽ đó, Việt Nam đã phải đợi
đến 3 năm sau, cùng với một môi trường bên ngoài đã thay đổi.
Nhiệm kỳ thứ hai của Bush dường như đã từ bỏ thái độ dễ dãi đối với
Trung Quốc sau sự kiện máy bay gián điệp EP-3. Ngay cả trước khi căng
thẳng liên quan đến chiếc máy bay do thám này xuất hiện, những tiếng nói
quan trọng tại Washington cũng đã thể hiện quan ngại về khả năng Trung
Quốc sẽ phô trương sức mạnh. Một trong các tác giả viết báo cáo của RAND
Corporation - một tổ chức chuyên nghiên cứu và phân tích chính sách
R&D nước Mỹ, Zalmay Khalizad, người sau này trở thành cố vấn an ninh
quốc gia của Mỹ, đã lưu ý rằng Mỹ nên tăng cường sự hiện diện quân sự
tổng thể tại châu Á để đối phó với sức mạnh đang gia tăng của Trung
Quốc. Báo cáo chỉ ra, "điều hợp lý cơ bản là cần phải xây dựng quan hệ
hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam để ngăn chặn nỗ lực bá quyền khu vực của
Trung Quốc". Khi Washington bắt đầu quan tâm thay đổi cán cân tại Đông
Á, lợi ích của Mỹ tại Việt Nam có tầm quan trọng chiến lược.
Việt Nam cũng lo ngại Trung Quốc sẽ tiếp tục tiến ra Biển Đông và can
dự vào những quốc gia lân bang với Việt Nam. Tại phiên họp toàn thể Ban
chấp hành trung ương tháng 6/2003, Đảng đã dự đoán tình hình Đông Á
đang diễn biến theo chiều hướng bất lợi và cần phải cố gắng phát triển
mối quan hệ với Mỹ. Khi Việt Nam nói với các quan chức Mỹ, "Tam giác
đang mất cân bằng". Quan hệ giữa Mỹ với Việt Nam đang ở thế yếu trong
khi quan hệ với Trung Quốc đã cải thiện rõ rệt và ảnh hưởng của Trung
Quốc trong khu vực tiếp tục gia tăng. Nhận thức chung này đã dẫn tới
cuộc viếng thăm đầu tiên của một Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đến
Washington vào tháng 11/2003. Tiếp sau đó là chuyến dừng chân đầu tiên
của tàu Hải quân Mỹ Vandergrift tới thành phố Hồ Chí Minh.
Cao điểm của mối quan hệ đang nồng ấm dần này là vào tháng 6/2005,
khi Thủ tướng Phan Văn Khải trở thành nhà lãnh đạo Việt Nam đầu tiên
được chiêu đãi tại Nhà Trắng. Trong tuyến bố chung, George W.Bush và Thủ
tướng Phan Văn Khải cho biết hai người "chia sẻ tầm nhìn hòa bình,
thịnh vượng và an ninh tại Đông Nam Á và khu vực châu Á - Thái Bình
Dương, và nhất chí hợp tác song phương cũng như đa phương để thúc đẩy
các mục tiêu này". Việc đưa cụm từ "khu vực châu Á - Thái Bình Dương"
trong bản tuyên bố chung là tín hiệu công khai duy nhất rằng mối quan hệ
sẽ vượt qua phạm vi các quan ngại song phương hay thậm chí cả đa phương
- Đông Nam Á. Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký một hiệp định thông tin
tình báo với Mỹ cho phép hợp tác trong hoạt động chống rửa tiền và cùng
chia sẻ thông tin tình báo với Washington.
Trong tình thế sức mạnh cũng như sự quyết liệt của Trung Quốc bộc lộ
rõ trong vấn đề Biển Đông, quan hệ Việt-Mỹ đã ngày một thêm sâu sắc.
Chuyến thăm của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton tới Hà Nội trong
một Hội nghị Bộ trưởng ASEAN năm 2010, nơi bà bày tỏ quan ngại của Mỹ
đối với cách ứng xử của Trung Quốc trên Biển Đông, đã đánh dấu một mức
độ hợp tác mới đối với Việt Nam. Năm sau, Việt Nam và Mỹ bước vào cuộc
đàm phán nâng tầm quan hệ song phương lên quan hệ đối tác chiến lược.
Quan hệ quân sự cũng phát triển. Trong chuyến viếng thăm của Bộ trưởng
Quốc phòng Việt Nam tới Washington năm 2003, hai bên đã tán thành tiến
hành các cuộc trao đổi ở cấp tương tự 3 năm một lần. Hai vị lãnh đạo
quốc phòng Việt Nam và Mỹ từ đó đã có 4 cuộc gặp gỡ trao đổi. Chuyến
thăm của ông Leon Panetta hồi tháng 6/2012 đã thu hút sự quan tâm hơn
bình thường do bối cảnh mối quan hệ Mỹ-Trung đang xấu đi. Panetta cũng
có chuyến thăm tới Vịnh Cam Ranh, nơi các tài sản và những máy bay ném
bom tầm xa của Hải quân Liên Xô từng đặt tại đây.
Trong khi mối quan hệ này đã và đang có những bước phát triển quan
trọng trong thập niên qua, sự tương tác giữa 3 nhân tố như đã nêu ở trên
tiếp tục tạo ra những điều chỉnh. Một Trung Quốc mạnh về quân sự sẽ tạo
ra mối đe dọa đối với chủ quyền của Việt Nam lớn hơn bất kỳ khi nào
trong lịch sử gần đây. Nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng giống như Đảng
Cộng sản Trung Quốc đều cảnh giác với mối đe dọa từ phương Tây, và đều
tìm kiếm sự hợp tác kinh tế với phương Tây để xây dựng một quốc gia
thịnh vượng và hùng mạnh.
Năm 1978, một nhà ngoại giao Việt Nam đã giải thích logic việc Việt
Nam khi vun đắp quan hệ với Moscow: "Trong suốt chiều dài lịch sử, chúng
tôi chỉ có được an ninh trước Trung Quốc trong 2 điều kiện. Một là khi
Trung Quốc yếu và nội bộ chia rẽ. Hai là khi Trung Quốc bị đe dọa bởi
những nguy cơ phương Bắc". Lý do tương tự cũng được áp dụng cho nhu cầu
xây đắp mối quan hệ của Việt Nam với Mỹ ngày nay - một người bạn đủ mạnh
để ngăn chặn Trung Quốc trở nên quá hiếu chiến. Như các nhà lãnh đạo
Việt Nam vẫn thường nhắc nhở, một quốc gia chỉ có thể chọn bạn bè chứ
không thể chọn láng giềng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn luôn từ chối liên
minh quân sự với Washington để tránh khiêu khích hành động thù địch từ
người khổng lồ láng giềng và tránh bị tổn thương do áp lực từ phía Mỹ
trong các vấn đề dân chủ và nhân quyền. Quá trình nối lại tình hữu nghị
giữa hai nước là có thực nhưng cũng còn nhiều hạn chế.
Trâm Anh dịch từ American Review Magazine
Tác giả bài viết Nayan Chanda là biên tập viên của trang YaleGlobal Online, cựu phóng
viên và biên tập viên tờ Far Eastern Economic Review và tác giả cuốn
sách Brother Enemy: The War After the War. (Tiêu đề do Tuần Việt Nam
đặt).