|
|
|
|
ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH |
|
|
26/02/2016 |
Bài này đã được đưa lên web lyhocdongphuong.org.vn từ 25. 2.
2010. Nhưng phần vì bận rộn, chi phối bởi cơm áo gạo tiền, nên tôi bỏ
lửng đến tận ngày hôm nay. Tức là gần ba năm một đề tài mà tôi tin rằng
rất đáng quan tâm . Tựa đề của bài viết này bắt đầu từ một bài báo trên
Bee.net, hình như bây giờ đổi tên thành Kienthuc.net.vn. Tôi
nghĩ rằng: Nếu UNESCO đặt vấn đề một cách nghiêm túc và quan tâm tới
luận điểm “Việt sử 5000 văn hiến, cội nguồn của văn minh Đông phương”
thì đây là một dịp để chúng tôi trình bày về nền văn minh huyền vĩ và
còn bí ẩn trong con mắt của các nhà khoa học thuộc văn minh hiện đại, có
xuất xứ từ văn minh Tây Phương. Nguyên văn bài viết trên Bee.net như sau:
ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH
Bee.net
25/12/2010 09:00:28
Tại sao UNESCO không nói “đối thoại văn hóa” mà lại đổi là “đối thoại giữa các nền văn minh”?
1. Một số vấn đề văn minh và văn hóa
Trong khoảng bảy chục năm gần đây, những tiến bộ kỹ thuật của loài
người vượt xa những tiến bộ đạt được trong 600.000 năm trước đó. Cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất – thế kỷ 18 – đã đưa ra máy hơi nước,
lấy cơ khí thay cho cơ bắp, năng lượng chính là than đá. Cách mạng công
nghiệp lần thứ hai, thế kỷ 19 bùng nổ sau Đại chiến II, dẫn đến sự sản
xuất hàng loạt hàng tiêu thụ; nó sử dụng chủ yếu năng lượng dầu lửa và
diện, cùng các nguyên liệu mới lấy từ dầu lửa, siêu hợp kim.
Cách mạng công nghiệp lần thứ ba vào cuối thế kỷ 20, đặc biệt cách mạng
viễn thông – tin học (télématique), sử dụng điện tử thay thế con người
xử lý những thông số, giải phóng trí óc, tự động hóa sản xuất.
Công thương nghiệp phát triển cao do các cuộc cách mạng công nghiệp là
tiền đề tạo ra “xã hội tiêu thụ”, ở Mỹ ngay từ những năm 40 thuộc thế kỷ
trước, và khoảng hai chục năm sau, ở các nước Tây Âu, rồi đến Nhật Bản
v..v.. Từ đó đẻ ra “chủ nghĩa tiêu thụ”, con người biến thành “sinh vật
tiêu thụ”, kinh tế là thống soái.
Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh (1946-1989), ngoài cuộc đua tranh về
tiềm lực quân sự, cả hai bên Tư bản – Xã hội chủ nghĩa đều lao vào cuộc
đua tranh kinh tế với quan niệm cho rằng sự vượt trội về tiềm lực kinh
tế sẽ có ý nghĩa quyết định đối với thành bại về đại cục và mức sống cao
là mục đích sống.
Đến thập kỷ 80, UNESCO đã rung chuông báo động để nhân loại nhìn nhận
lại tầm quan trọng của văn hóa: “Thập kỷ văn hóa UNESCO” giúp ta nhận
thức lại tương quan giữa văn hóa và kinh tế trong đời sống con người.
Sự phát triển đơn thuần về kinh tế không phải là một đảm bảo cho “chất
lượng sống”, yếu tố mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Văn hóa phải là động
cơ cho xã hội vận hành, kinh tế là nhiên liệu của xã hội đó. Văn hóa
phải là mục tiêu của kinh tế chứ không phải ngược lại.
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, tạo ra một nền văn hóa riêng cho mình, như
con tằm tạo ra cái kén cho bản thân nó. Các nền văn hóa do đó đều có giá
trị ngang nhau, phải được tôn trọng, không thể áp đặt những giá trị của
một nền văn hóa này cho một nền văn hóa khác.
Do đó mà UNESCO đã ra Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa (Universal
Declaration ơn Cultural Diversity) tháng 11/2001, lấy ngày 21/5 hàng năm
là ngày Đa dạng văn hóa vì Đối thoại và Phát triển. Nghị quyết năm 1998
của UNESCO lấy năm 2001 là năm Đối thoại giữa các nền văn minh.
Muốn thực hiện được đa dạng văn hóa, không để một nền văn hóa nào bị kém
vế, hoặc bị tiêu diệt, dĩ nhiên là phải có đối thoại giữa các nền văn
hóa, các nền văn minh. Phải chăng những cuộc chiến gần đây ở Nam Tư cũ,
Apganixtăng, Irắc, ở Châu Phi đã bùng nổ do đối đầu văn hóa, đã gạt bỏ
đối thoại văn hóa.
Xin chuyển sang vấn đề chữ nghĩa. Tại sao UNESCO không nói “đối thoại
văn hóa” mà lại đổi là “đối thoại giữa các nền văn minh”? Có thể do
những lý do sau đây:
a. Để nhấn mạnh “tầm vóc chính trị”
(political dimension) của vấn đề, nhằm đạt được sự chú ý của các chính
khách có quyền quyết định. Trước kia thường nói đến quan hệ tri thức và
văn hóa, ít gắn văn minh với chính trị (ý kiến của KMATSUURA, Tổng Giám
đốc UNESCO).
b. Từ văn minh (civilization) có thể hàm ý
bao quát hơn văn hóa (culture). Một nền văn minh bao gồm nhiều nền văn
hóa của một dân tộc trong một thời gian nào đó (ý kiến của V.FINNBO
GADOTTIR, nguyên Tổng thống nước Cộng hòa Băng đảo).
c. Văn minh chỉ những giá trị, tư tưởng và
hành động có tính phổ biến, được chấp nhận là chân lý về mặt thực dụng.
Văn hóa cụ thể hóa văn minh, là chất liệu và các biểu tượng của nó. Đó
là hai từ khác nghĩa nhau (ý kiến của H.CLEVELAND, nhà nghiên cứu).
d. Có thể trước đây, một số nhà tư tưởng,
nhà sử học thiên về nghiên cứu sự thăng trầm của các nền văn minh (như
PAUL VALÉRY, SPENGLER, TOYNBEE). Gần đây, có luận điểm nổi tiếng của
S.P. HUNTINGTON về sự đụng độ của các nền văn minh (The Clash of
Civilization).
Theo tôi, hai từ văn minh và văn hóa thuộc loại các từ mà một số nhà
nghiên cứu cho là có thể hiểu được nhiều cách, nghĩa rộng hay nghĩa hẹp.
Vì vậy, trước khi dùng, nên nói rõ mình dùng theo nghĩa nào. Nếu theo
nghĩa rộng thì “văn hoá có thể trùng nghĩa với “văn minh”.
Theo bộ môn nhân học văn hóa, thường “văn hóa” nhấn mạnh về ứng xử, giao
tiếp và tư duy trong quan hệ xã hội của một cộng đồng. Còn “văn minh”
nhấn mạnh về quan hệ giữa con người và môi trường tự nhiên (các thành
tựa để con người tồn tại thể chất).
2. Đối thoại văn hóa là một phương thức tiếp biến văn hóa
Từ khi nhân loại bước vào thời đại văn minh, cách đây trên 5000 năm, đã có giao lưu văn hóa.
Giao lưu văn hóa mở rộng dần như các vết dầu loang, từ giao lưu giữa các
bộ lạc đến giữa các bộ tộc, các quốc gia, các châu lục. Giao lưu dẫn
đến quốc tế hóa, đặc biệt được đẩy mạnh từ khi nền văn minh tư bản
phương Tây bắt đầu từ thế kỷ 15-16 tìm ra châu Mỹ và vươn tới các nước
châu Á, châu Phi, rồi đến sau cuộc Cách mạng Công nghiệp vào thế kỷ 18.
Giao lưu văn hóa tạo ra hiện tượng tiếp biến (tiếp thụ và cải biến) văn hóa (acculturation).
Tiếp biến văn hóa là gì?
Đó là sự tiếp xúc giữa những nhóm người khác nhau về hóa, do đó sinh ra
những sự thay đổi về văn hóa (ứng xử, giao tiếp, tư duy) ở trong mỗi
nhóm. (Đây là định nghĩa ở cuộc họp UNESCO châu Á tại Téhéran 1978 mà
tôi có dịp tham gia).
Có thể nêu lên một định nghĩa khác:
“Quá trình một nhóm người hay một cá nhân qua tiếp xúc trực tiếp và liên
tục với một nhóm khác, tiếp thụ (tự nguyện hay bị bắt buộc, toàn bộ hay
từng bộ phận) nền văn hóa của nhóm này” (DICTIONNAIRE UNIVERSEL
FRANCOPHONE – 1997) (Có thể thêm vào ý: có hoặc không có ý thức).
Như vậy là khi hai nền văn hóa A và B gặp nhau thì ảnh hưởng lẫn nhau, kết quả A thành A2, B thành B2.
“Tiếp biến văn hóa” thể hiện qua hai phương thức:
a. Phương thức bạo lực (qua chiến tranh,
xâm lược, đế quốc chủ nghĩa thực dân): đối đầu (xung đột) văn hóa. A
mạnh hơn B, áp đặt văn hóa của mình; nếu bản sắc văn hóa B không đủ sức
chống lại, nó sẽ bị phá hủy từng phần và có khi bị tiêu diệt (A thay hẳn
B, không còn B nữa). Thí dụ một số bộ lạc thuộc địa cũ ở châu Phi –
Thái Bình Dương mất hết bản sắc dân tộc.
b. Phương thức
hòa bình (qua buôn bán truyền bá tôn giáo
tư tưởng, trao đổi văn hóa nghệ thuật), tức là đối thoại văn hóa (văn
minh). Dĩ nhiên buổi đầu gặp nhau bao giờ cũng có “sốc” văn hóa.
Cũng không thể tách bạch hẳn hai phương thức, vì trong một thời kỳ lịch
sử có khi có cả một và hai, tuy phương thức 1 hay 2 ngự trị, trong 1
cũng có ít nhiều 2, mà trong 2 có thể có ít nhiều 1.
Thí dụ trong thời kỳ thực dân, tuy phương thức áp đặt văn hóa (bạo lực)
là chủ yếu, dân thuộc địa vẫn có trường hợp tự ý tìm đến những giá trị
nhân văn của kẻ thống trị (phương thúc 2). Trong tiếp biến văn hóa vừa
có thể chống lại vừa có thể tiếp thụ.
Xin lấy một thí dụ thuộc bộ môn “xã hội – ngôn ngữ học” (socio –
linguistique) do anh Hoàng Tuệ cung cấp (1). Khi hai ngôn ngữ (hiện
tượng song ngữ bilinguisme) song song tồn tại trong một cộng đồng,
thường thì quan hệ bất bình đẳng: ngữ mạnh át ngữ yếu. Mạnh vì lý do
chính trị (ngữ của dân tộc xâm chiếm), kinh tế (ngữ của dân tộc chi phối
kinh tế) hay tư tưởng tôn giáo.
Vì vậy, dân tộc kém phải đấu tranh giữ cho tiếng mẹ đẻ của mình tồn tại
và thuần khiết, nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa của mình (đối đầu văn hóa).
Đồng thời cần tiếp thụ tinh hoa một ngôn ngữ phát triển hơn về một số
mặt để làm giàu bản sắc dân tộc (đối thoại văn hóa).
Dân tộc Việt Nam đã từng có hai thể nghiệm lớn về vấn đề này (Hán tự và
tiếng Pháp), vào hai thời kỳ (thế kỷ 15 và thế kỷ 20), với hai nhân vật
điển hình (Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh).
Nguyễn Trãi làm thơ tiếng Việt (Quốc âm thi tập) là mặt đối đầu (chống
chữ Hán). Nhưng ông cũng lại làm thơ chữ Hán (mặt đối thoại, tiếp thụ)
vì vào thế kỷ 15, văn thơ Nôm chưa nhuần nhuyễn bằng Hán.
Trường hợp Hồ Chí Minh cũng vừa đối đầu vừa đối thoại. Bản Tuyên ngôn
độc lập (1945) là một thí dụ về văn xuôi chính luận mới, vừa tiếp thụ
được tu từ và lập luận (rhétorique) phương Tây (Pháp), vừa nắm bắt được
phong cách văn xuôi mới trong nước, không ngây ngô lai căng như ngôn ngữ
một số nhà chí sĩ đồng thời sống ở nước ngoài quá lâu.
Hồ Chí Minh viết và làm thơ tiếng Việt và chữ Hán, viết văn xuôi tiếng Pháp, với ý thức vừa đối đầu vừa đối thoại văn hóa.
Qua hơn nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm năm Pháp thuộc, tiếng Việt không
bị mất (đối đầu) mà còn phong phú thêm (đối thoại) do bản sắc văn hóa
Việt đã tự khẳng định (qua vận động nội tại và đấu tranh chống thiên
nhiên và ngoại xâm).
Tóm lại, đối thoại văn hóa (văn minh) nằm trong khuôn khổ tiếp biến văn
hóa, và vẫn theo những quy luật như trước trong thời đại toàn cầu hóa.
Đối thoại văn hóa (văn minh) đã có từ xa xưa. Tại sao đến nay, UNESCO
mới nêu thành vấn đề ưu tiên của nhân loại? Phải chăng do toàn cầu hóa
đang khơi sâu hố giàu nghèo Nam – Bắc và trong từng quốc gia? Các dân
tộc nghèo sợ mất bản sắc?
Đặc biệt Hồi giáo cực đoan tuyên bố Thập tự chinh chống văn minh phương
Tây, chủ trương khủng bố? Mỹ thì tự nhận đại diện văn minh phương Tây
đơn phương gây chiến? Muốn có hòa bình thế giới, UNESCO chủ trương đa
dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn minh (văn hóa).
Kỳ tới: Việt Nam trong quá trình tiếp biến văn hóa
=========================================
Chú thích:
(1) Xem Hữu Ngọc – Phác thảo chân dung văn hóa Pháp (NXB Thế giới – tái bản 1997).
(2) Christiane Pasquel Rafcaw
Hữu Ngọc
- Tạp chí Hồn việt
VĂN HIẾN VIỆT VÀ “ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC NỀN VĂN MINH”
Nguyễn Vũ Tuấn Anh
Giám đốc Trung Tâm nghiên cứu Lý học Đông phương.
26/ 12/ 2010
Trong những bản văn chính thức của tổ chức văn hóa Liên
Hợp Quốc, không lần nào sử dụng khái niệm “văn hiến”, ngoại trừ sự tồn
tại của nó trong dân tộc Việt.
Kính thưa quí vị quan tâm.
Bài viết trên Bee.net không thấy tên tác giả, bởi vậy có thể coi như quan điểm của ban biên tập.
Nếu đây là do sơ xuất của lỗi đánh máy trên báo điện tử, mà sau này họ sửa chữa thì chúng tôi sẽ bổ sung. Nhưng cá nhân tôi không quan trọng tác giả là ai, mà là nội dung của vấn đề được đặt ra trong bài báo.
Trong nội dung bài báo này có thông tin về chủ trương của UNESCO về
“Đối thoại giữa các nền văn minh”. Chúng tôi nghĩ rằng: Nếu UNESCO đặt
vấn đề một cách nghiêm túc và quan tâm tới luận điểm “Việt sử 5000 văn
hiến, cội nguồn của văn minh Đông phương” thì đây là một dịp để chúng
tôi trình bày về một nền văn minh huyền vĩ và còn bí ẩn trong con mắt
của các nhà khoa học thuộc văn minh hiện đại, có xuất xứ từ văn minh Tây
Phương và đó là một trong những cơ hội để làm sáng tỏ cội nguồn Việt sử
– nguồn gốc của nền văn minh Đông phương huyền vĩ và bí ẩn trên thế
giới, qua sự chủ trương “Đối thoại với các nền văn minh” do UNESCO khởi
xướng. Trong bài báo trên Bee.net còn đặt ra một vấn đề
“Tại sao UNESCO không nói “đối thoại văn hóa” mà lại đổi là “đối thoại giữa các nền văn minh”?”
- Từ đó đặt lại vấn đề về khái niệm văn hóa và văn minh. Đây là một
điều dễ hiểu. Bởi vì cho đến nay, đây là hai khái niệm chưa có một chuẩn
thống nhất về nội dung khái niệm, mặc dù người ta vẫn ứng dụng một cách
thành thạo trong các văn bản. Nhưng người ta chỉ cảm nhận được nó trong
sự tổng hợp trừu tương khái niệm này từ những ứng dụng cụ thể của từng
trường hợp. Chứ không phải đã có một định nghĩa chuẩn về khái niệm này.
Hiện nay, theo thống kê của những nhà nghiên cứu thì có ngót 400 định
nghĩa về khái niệm văn hóa. Bởi vậy, chúng tôi cũng tuân thủ theo qui
tắc mà bài viết trên Bee.net đề cập và định nghĩa về khái niệm văn hóa
theo cách hiểu của chúng tôi.
I. KHÁI NIỆM VĂN HÓA – VĂN MINH & VĂN HIẾN.
Trước hết, tôi xác định rằng: Trong ngôn ngữ và văn tự Việt, khái niệm
“văn hiến” là một khái niệm xưa nhất có trong các văn bản cổ và ngôn ngữ
của dân tộc này. Và chỉ có dân tộc Việt mới xác định dân tộc mình có
một nền văn hiến trong các bản văn chính thức cấp quốc gia. Trong các
bản văn chữ Hán xuất hiện từ thế kỷ trước của một số nhà nghiên cứu cũng
dùng danh xưng văn hiến. Nhưng ở cấp quốc gia, không thấy khái niệm này
xuất hiện trong các chiếu chỉ, bản văn cấp quốc gia…vv…..
Trong “Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi – anh hùng dân tộc Việt ở thế kỷ XIV – viết:
Như nước Đại Việt ta thuở trước.
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Hay gần hơn, từ thế kỷ XVIII, một bài thơ của vua Minh Mạng, hiện còn khắc, treo trong Điện Thái Hòa – Hoàng thành Huế, viết:
Văn hiến thiên niên quốc.
Xa thư vạn lý đồ.
Hồng bàng khai tịch hậu.
Nam phục nhất Đường Ngu
(/Nghiêu).
Khái niệm văn hiến này sẽ được phân tích sau khi chúng tôi trình bày luận điểm của chúng tôi về khái niệm “văn hóa”.
I. 1. Khái niệm văn hóa
* Khái niêm “văn”
Chúng tôi quan niệm cho rằng danh từ văn hóa là một từ thuần Việt và
khẳng định nó không phải là một từ Hán Việt có nguồn gốc từ ngôn ngữ
Hán, mặc dù nó có thể miêu tả bằng văn tự Hán.
Người Hán phát âm chữ “văn” (文) là “uấn”, hoặc “uẩn”, chăng có liên hệ gì về ngữ âm với cách phát âm chữ “văn” trong tiếng Việt cả.
Danh từ “văn” trong tiếng Việt là một thành tố trong tổ hợp từ có cùng
phụ âm “v” đầu , miêu tả hệ quả của một hành vi con người thể hiện ý
tưởng, là: Văn, viết, vẽ…..cùng thuộc hoặc liên quan đến tay (Trong khi
đó phát âm tiếng Hán cho những từ này là: Văn – Uấn; viết – Sỉa; vẽ –
Hoa hoa. Không hề có chút cơ sở nào dấu tích để gọi là Việt Hán cả);
hoặc hình tượng thể hiện dấu ấn tự nhiên hay nhân tạo là: Vằn, vện,
vết….Đây chính là phương pháp tạo từ tiếng Việt được miêu tả một cách
xuất sắc của nhà nghiên cứu Lãn Miên – đã trình bày trong website
lyhocdongphuong.org.vn(*). Khái niệm “văn”, đứng một mình, miêu tả một
bài viết thể hiện ý tưởng con người. Tất nhiên nó bao gồm đầy đủ tính
hợp lý của một yếu tố cần phải có trước và là nguyên nhân của nó, chính
là “chữ viết”. Hay nói rõ hơn: Đó chính là sự thể hiến một quá trình
phát triển xã hội đến giai đoạn cao và vượt trội so với giai đoạn cần
thiết phải hình thành ký tự, chữ viết để thể hiện và truyền đạt ý tưởng.
Bởi vì khái niệm “văn” tự nó đã đòi hỏi một cấu trúc ngôn từ mạch lạc,
có tính hệ thống, chuẩn mực trong một bài viết dù là cô đọng nhất, để
thể hiện ý tưởng người viết. Hay miêu tả một vế khác của vấn đề là: Khái
niệm “văn” phải có nguồn gốc từ sự hiểu biết có tính tri thức.
* Khái niệm “hóa”
Đây cùng là một từ thuần Việt và khá phổ biến trong ngôn ngữ dân gian
Việt ở mức phổ thông và bình dân. Nó miêu tả sự chuyển đối từ trạng thái
này sang trạng thái khác. Những thành tố trong tổ hợp từ có phụ âm “h”
đầu trong tiếng Việt còn tồn tại đến nay, miêu ta sự thay đổi là: Hóa,
hòa, hoa (Trong “hoa chân, múa tay”). Riêng về từ này trong tiếng Hán
viết chung một ký tự là “Hoa” ( 花 ).
Bởi vậy, không có cơ sở nào để từ “hóa” với khái niệm của nó lại xuất
phát từ ngôn ngữ và văn tự Hán cả. Khi mà chính người Hán không có từ
này. Từ lâu, “Hóa” là tiếng phổ biến trong cả giới bình dân Việt. Những
ngôn từ tiếng Việt dùng khái niệm “hóa” phổ biến , như: “Hóa vàng” –
Chuyển đổi giá trị giấy tiền vàng mã sang giá trị tiền …dưới Âm Phủ theo
tín ngưỡng Việt; “hóa kiếp” – chuyển đổi từ kiếp này sang kiếp khác;
“hóa thân” – chuyển đởi trạng thái thân thể từ hình thức này sang hình
thức khác. Hóa học – Môn học về sự tương tác dẫn đến chuyển đổi cấu trúc
vật chất từ trạng thái này sang trạng thái khác…….
Mục đích của bài viết này không nhằm chứng minh nền văn hóa Việt hoàn
toàn có tính độc lập trong sự phát triển và không hề là hệ quả thu được
từ văn hóa Hán, mặc dù đó là một hiện thực rất khách quan. Nên chúng tôi
không đi sâu vào vấn đề này, mà chủ yếu chỉ chứng minh cụ thể cho hai
từ “văn” và “hóa” không có nguồn gốc Hán theo cách nhìn của chúng tôi.
Nhưng từ đó – trên cơ sở khái niệm “văn” và “hóa” có nguồn gốc Việt này –
chúng tôi tiếp tục trình bày khái niệm “văn hóa” làm cơ sở cho việc bàn
về nội dung: “Đối thoại giữa các nền văn minh”.
Khái niệm văn hóa
Trong danh từ “Văn hóa” thì văn lúc này chính là biểu tượng cô đọng của
sự chuyển tải một hệ thống ý tưởng được diễn đạt và “hóa” chính là biểu
tượng cô đọng của việc chuyển hóa những ý tưởng đó phổ biến trong sinh
hoạt của cuộc sống. Trên cơ sở này thì khái niệm “văn hóa” được định
nghĩa như sau:
Văn hóa là một khái niệm trừu tượng mô tả sự chuyển hóa những ý
tưởng có tính hệ thống, nhất quán có mục đích thành những hành vi được
phổ biến và lưu truyền trong đời sống, sinh hoạt của một dân tộc, một
cộng đồng, một khu vực dân cư hoặc cả một quốc gia và được coi là những
chuẩn mực tạo giá trị tinh thần trong cuộc sống thì gọi là “Văn hóa”.
Những ứng dụng khái niệm văn hóa
Như vậy, trên cơ sở định nghĩa này -Chúng tôi thử ứng dụng vào những
trường hợp phố biến của khái niệm văn hóa như một thử nghiệm cho phản
ánh đúng bản chất của nó và không mâu thuẫn với ý niệm phổ biến của từ
này.
* Văn & Hóa:
Cũng từ định nghĩa trên, chúng tôi đặt những giá trị ý tưởng diễn đạt
bằng bản văn hoặc ngôn ngữ, nhưng những ý tưởng, quan niệm mà chỉ dừng
lại ở sự thể hiện trên văn bản, ngôn ngữ mà không thể chuyển hóa thành
những hành vi trong sinh hoạt của một cộng đồng, một dân tộc…..thì chỉ
có thể gọi là “văn” chứ không “hóa”. Bản thân những cuốn sách,
truyện…..là những hiện tượng, những thành tố trong đời sống văn hóa, chứ
tự thân nó không phải là văn hóa.
* Ứng dụng trong ngôn ngữ.
Trong ngôn ngữ và bản văn, người ta thường dùng các khái niệm như: “Văn
hóa dân tộc”, “văn hóa Phật giáo” …..Thậm chí gần đây, có người dùng
thuật ngữ “Văn hóa ẩm thực”. Những khái niệm này được giải thích thế nào
với định nghĩa về văn hóa nêu trên?
Chúng tôi cho rằng: Do không có một định nghĩa chuẩn về khái niệm văn
hóa, cho nên có những thuật ngữ mang tính lạm dụng vô lý. Thí dụ như
khái niệm “văn hóa ẩm thực”. Nhưng bản thân thuật ngữ này lại tự mâu
thuẫn – bởi vì từ ẩm thực chỉ là một hành vi sinh hoạt, tự nó không thể
là văn hóa. Sự lạm dụng do chưa có, định nghĩa chuẩn về “văn hóa”, khiến
người ta có thể ghép bất cứ một hành vi nào với khái niệm văn hóa, nếu
thuật ngữ “văn hóa ẩm thực” được coi là một phát minh sáng giá thì người
ta có thể ghép bất cứ một động từ nào với khái niệm “văn hóa”. Thí dụ
như: “Văn hóa ngủ”; hoặc “văn hóa hắt hơi”…..
Những thuật ngữ sáng tạo kiểu này có nguồn gốc từ quan niệm của Đào Duy
Anh cho rằng: “Văn hóa là sinh hoạt” (Việt Nam văn hóa sử cương – Đào
Duy Anh). Nếu quan niệm của ông Đào Duy Anh đúng thì trên trái đất này
tất cả những sinh hoạt của muôn loài đều có thể coi là văn hóa. Tất
nhiên đó là điều không hợp lý.
Ngược lại, nếu coi khái niệm văn hóa như định nghĩa trên mà chúng tôi đã trình bày thì nó xác quyết những vấn đề sau đây:
a/ Văn hóa là hệ quả chỉ có ở động vật cao cấp có khả năng tổng hợp nhận
thức trực quan phát triển khả năng tư duy trừu tượng và sự phát triển
đạt được tính phong phú về ngôn ngữ và phải có văn tự để truyền đạt.
b/ Có tổ chức chặt chẽ mang tính cộng đồng, để có thẩm quyền mang tính
quyền lực xác định những giá tri tư tưởng trở thành phổ biến và lưu
truyền trong cuộc sống cộng đồng.
Trên cơ sở này thì danh từ “văn hóa” chỉ có thể đi cùng với một khái
niệm mang tính cộng đồng, hoặc khu vực địa lý biểu tượng cho sự tồn tại
của cộng đồng cư dân sống trong vùng địa lý ấy.
Trên cơ sở định nghĩa và mô tả này (“a/” & “b/”) thì chúng tôi nhận
thấy các thuật ngữ như: “Văn hóa Phật giáo”; “Văn hóa dân tộc”; “Văn hóa
truyền thống”; hoặc “Văn hóa Tày Mường”; “Văn hóa Ấn Độ”…..vv….là sử
dụng đúng khái niệm văn hóa. Bởi vì khái niệm “Phật giáo”, “dân tộc” đều
phản ánh tính chất cộng đồng và sự chấp thuận lưu truyền những giá trị
tư tưởng đó trong cộng đồng (Môi trường phổ biến văn hóa). Thuật ngữ
“Văn hóa truyền thống” thì khái niệm truyền thống tương đồng với trạng
thái lưu dữ, truyền đạt tất nhiên là trong môi trường của một cộng
đồng….vv….
Đương nhiên với khái niện “Văn hóa” mà chúng tôi đã trình bày thì sự
gán ghép một cách thô thiển khái niệm văn hóa với hành vi sinh hoạt, như
“văn hóa ẩm thực”, “văn hóa chửi” …là sai. Vì nó sẽ dẫn đến những sự
gán ghép rất ngớ ngẩn và khôi hài.
Mục đích của bài viết này là trình bày luận điểm của chúng tôi về vấn đề
“Đối thoại giữa các nền văn minh”, nên chúng tôi chỉ trình bày ngắn gọn
luận điểm và sự miêu tả về khái niệm văn hóa qua kết luận trên.
I. 2. Khái niệm văn minh.
Khái niệm này chúng tôi xác định rằng hoàn toàn thuần Việt.
Riêng từ “văn” chúng tôi đã trình bày ở trên với sự xác định nguồn gốc
Việt.
Khái niệm minh.
Với từ “minh”, nhiều người cho rằng:
Nó là từ Hán Việt có ký tự là “明“, người Hán phát âm là “mỉn”, hoặc “mín”. Dịch ra tiếng Việt là “sáng”. Trong văn tự Hán nó gồm hai chữ là “日“:Nhật – Mặt Trời và “月“: Nguyệt – Mặt Trăng, nhằm miêu tả ánh sáng của mặt Trời và mặt Trăng soi sáng trên trái Đất này. Nên miêu tả với từ Hán Việt: “Minh – 明” có nghĩa là “Sáng” trong tiếng Việt.
Nhưng với chữ Hán theo tượng hình và nội dung trình bày trên, rõ ràng là
mâu thuẫn và nó sẽ hoàn toàn vô nghĩa nếu ghép từ này trong khái niệm
“văn minh” trong tiếng Việt.
Chúng tôi lập luận như sau:
a/ Hình tượng của mặt trời và mặt trăng là miêu tả sự thay đổi của ngày
và đêm, của sáng và tối. Như vậy, tự hình tượng này không thể hiểu nghĩa
là sáng. Phải chăng đây chính là từ Việt với nghĩa “sáng” được Hán hóa
bằng hình tượng mặt Trời “nhật/日” chiếu vào bóng tối “nguyệt/月”
– mặt trăng? Trong Tử Vi có câu phú đắc: “Nhật nguyệt đồng tranh, công
danh bất thành”. Công danh bất thành thì lấy đâu ra “sáng”?
b/ Nếu hiểu “minh” là sáng thì nghĩa của khái niệm văn minh là “văn sáng” sao? Hoàn toàn tối nghĩa.
Nhưng ngược lại, nếu chúng ta nhận thấy rằng, danh từ “minh” là một từ
thuần Việt và hoàn toàn không hề có gốc Hán thì khi thực hiện với từ
ghép “văn minh” sẽ có một định nghĩa rất rõ ràng.
Chúng tôi cho rằng: “Minh” là một từ gốc Việt miêu tả một thực trang
trừu tương có tính bao phủ, rộng khắp. Nó còn được gọi là “Mênh” trong
một số phát âm mang tinh địa phương của người Việt. Mênh mông – có nghĩa
là bao trùm, trải rộng.
Trên cơ sở xác định khái niệm “văn” và “minh” (Mênh) là hai từ thuần
Việt với cách hiểu như trên – thì – chúng tôi hoàn toàn có cơ sở để định
nghĩa khái niệm “Văn minh” như sau:
Văn minh là khái niệm trừu tượng mô tả những hệ thống tri thức có
tính nền tảng trong một không gian gồm nhiều cộng đồng dân tộc, hoặc
quốc gia có mối liên hệ với nhau và cùng chia sẻ phát triển trên nền
tảng tri thức đó thì gọi là văn minh.
Những ứng dụng khái niệm văn minh.
Với định nghĩa trên, chúng tôi úng dụng kiểm chứng tính
hợp lý trong các mối liên hệ các hiện tượng liên quan , để xác định tính
đúng đắn của định nghĩa này.
Trên cơ sở này, người ta có thể nói: Văn minh Phương Đông – Những gia
trị tri thức phổ biến bao trùm ở không gian phương Đông, Văn minh phương
Tây. Thậm chí có thể nói: Văn minh Ấn độ – khi những giá trị tri thức
của xứ sở này bao trùm lên một vùng lãnh thổ Ấn Độ gồm nhiều dân tộc.
Khái niệm văn minh trong sự ứng dụng này mô tả nền tảng tri thức định
hướng cho sự phát triển của những cộng đồng các dân tộc; hoặc các quốc
gia có mối liên hệ trong không gian tri thức nền tảng đó.
I. 3. Khái niệm văn hiến.
Văn hiến là một từ thuần Việt và chỉ tồn tại trong ngôn ngữ Việt. Tiếng
Anh – một ngôn ngữ quốc tế trong nền văn minh nhân loại hiện đại không
có khái niệm này. Như đã trình bày ở trên, người Hán cũng có từ “văn
hiến”, nhưng nó chỉ được một vài học giả Hán trong thời gian gần đây, tự
gán cho nền văn hóa Hán. Nó chưa hề có trong ngôn ngữ cấp quốc gia như
đã thể hiện trong các bản văn lịch sử của dân tộc Việt.
Trong một lần xa xưa, tôi có nhờ một người dịch ra tiếng Anh từ văn
hiến. Anh ta không thể nào dịch được vì tiếng Anh không có từ này. Cuối
cùng tôi phải đưa ra một một khái niệm dài dòng văn tự là: “Nền văn hóa
hướng thượng”.
Tôi luôn luôn xác định rằng:
Một ngôn ngữ cao cấp có thể dịch ra ngôn ngữ đó tất cả các ngôn ngữ
có nền văn hóa thấp hơn. Nhưng một nền văn hóa thấp hơn sẽ rất khó khăn
khi dịch một ngôn ngữ cao cấp hơn ra ngôn ngữ của nó.
Do đó, lịch sử có thể thăng trầm, nhưng nền văn hiến huy hoàng trải gần
5000 năm của người Việt vẫn còn lại hào quang của nó khi xác định ngôn
ngữ Việt có thể dịch tất cả các ngôn ngữ khác trên thế giới ra tiếng
Việt.
Như nước Đại Việt ta thuở trước.
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
……
Dẫu cường nhược có lúc khác nhau.
Nhưng hào kiệt đời nào cũng có….
Danh từ “Hiến” cũng là một từ trừu tượng thuần Việt với nghĩa rất rõ
ràng: Sự dâng hiến; một cử chỉ đưa lên một cách cung kính thì gọi là
hiến. Trong tổ hợp từ cùng phụ âm đầu là: Hiến, hiển, hiện, hiền….đều có
nghĩa thiêng liêng, cao quý.
Vì là một từ thuần Việt, không liên quan đến các ngôn ngữ khác để so
sánh, nên chúng tôi xác định định nghĩa khái niệm “văn hiến” như sau:
Văn hiến là một khái niệm trừu tượng thuần Việt miêu tả nhưng tư duy hướng dẫn con người đến một cuộc sống cao cả (hiến).
I. 4. Kết luận
Trên cơ sở đã trình bày về các khái niệm “văn hóa”, “văn minh” và “văn
hiến”, quí vị sẽ cùng chúng tôi tìm lời giải đáp tiếp theo cho việc “Đối
thoại giữa các nền văn minh”, chứ không phải là “Đối thoại giữa các nền
văn hóa”. Sự giải đáp này cũng chính là sự phát triển ứng dụng tiếp tục
chứng tỏ tính hợp lý của những khái niệm Việt mà chúng tôi đã trình bày
ở trên.
Trên cơ sở này, chúng tôi tìm vị trí của nền văn hiến Việt trong cuộc
“Đối thoại giữa các nền văn minh”, khi mà nền văn minh Việt bao trùm
không gian Đông phương với một tri thức – mà chúng tôi giả thiết rằng:
Chính là lý thuyết thống nhất vũ trụ. Đó là thuyết Âm Dương Ngũ hành mà
chúng tôi đã trình bày trên diễn đàn. Nếu mọi việc đều có những tác nhân
thuận lợi thì có thể đây sẽ là sự mở đầu cho việc tìm hiểu một nền văn
minh toàn cầu đã bị hủy diệt – chủ nhân đích thực của thuyết Âm Dương
Ngũ hành , mà dân tộc Việt còn lưu truyền một cách bí ẩn trong cuộc sống
văn hóa truyền thống đến ngày nay.
II. SỰ ĐỐI THOẠI CỦA CÁC NỀN VĂN MINH
II – 1. Không có đối thoại văn hóa
Trên cơ sở phân tích và định nghĩa về các khái niệm “Văn hóa”; “Văn
minh” và “Văn hiến”, chúng tôi thấy rằng: Hoàn toàn có cơ sở để UNESO
đặt vấn đề: “Đối thoại giữa các nền văn minh”, mà không phải là “Đối
thoại giữa các nền văn hóa”. Bới vì – theo định nghĩa về văn hóa mà
chúng tôi đã trình bày – thì – Văn hóa là một khái niệm trừu tượng
mô tả sự chuyển hóa những ý tưởng có tính hệ thống, nhất quán, có mục
đích thành những hành vi được phổ biến và lưu truyền trong đời sống,
sinh hoạt của một dân tộc, một cộng đồng, một khu vực dân cư hoặc cả một
quốc gia và được coi là những chuẩn mực tạo giá trị tinh thần trong
cuộc sống thì gọi là “Văn hóa”.
Trên cơ sở định nghĩa này, chúng tôi thấy rằng: Có thể tồn tại rất nhiều
đặc trưng văn hóa khác nhau cho những cộng đồng dân cư khác nhau, ở
ngay trên cùng một vùng không gian cư trú hẹp, mặc dù họ vẫn có thể có
nét văn hóa chung. Những đặc trưng văn hóa cho từng khối cộng đồng dân
cư này – thí dụ nét văn hóa đặc trưng của xã Đoài và của làng Thượng –
có những tập tục lễ hội khác nhau; và sự khác biệt đó là kết quả của
tính phổ biến những gía trị tư tưởng được cộng đồng công nhận và lưu
truyền. Những hành vi văn hóa này được thực hiện trong cộng đồng cư dân
mang tính cục bộ, hoàn toàn có tính quy ước được chấp thuận từ một ý
tưởng ban đầu và trở thành phổ biến được lưu truyền. Cho nên không thể
có sự đối thoại văn hóa để xác định một chuẩn mực văn hóa chung nhằm
thống nhất các giá trị đã được công nhận của từng công đồng có nét văn
hóa đặc trưng.
Trong một phạm vi rộng hơn là nền văn hóa của cả một dân tộc như Nhật
Bản và Việt Nam chẳng hạn. Chẳng thể nào cô geisha Nhật Bản lại đối
thoại với liền chị, liền anh của làng chèo Kinh Bắc Việt Nam để tìm một
sự thống nhất về một trang phục truyền thống chung cho cả hai dân tộc
được.
Trên cơ sở định nghĩa về văn hóa mà chúng tôi đã trình bày thì những giá
trị văn hóa là kết quả của một tinh hoa tư tưởng được công nhân như một
giá trị tinh thần của một công đồng dân cư, hoặc một dân tộc. Bởi vậy,
nó chỉ có thể được công nhận gìn giữ để thể hiện sự trân trong với nhưng
trí thức đã được thừa nhận, nếu nó xác định một cuộc sống hòa nhập của
nền văn hóa đó với cuộc sống của con người thuộc các cộng đồng văn hóa
khác. Đó cũng chính là lý do để sự hủy hoại, hủy diệt văn hóa chính là
sự hủy hoại và hủy diệt những tinh hoa của một dân tộc đã được gìn giữ
và lưu truyền. Đó cũng chính là lý do không thể có đối thoại văn hóa, mà
chỉ có thể tôn trọng, hay không tôn trọng những giá trị văn hóa.
Trong một lần sang Hoa Kỳ, đến bang Kansas. Tôi tình cờ nhìn thấy bên
đường lộ lớn có một phần đường được vạch riêng , bên cạnh cắm một tấm
biển vẽ một cái xe ngựa. Tôi hỏi người học trò của tôi cư trú ở đây thì
được biết: “Nơi đây có một cộng đồng cư dân vẫn giữ những giá trị văn
hóa trong sinh hoạt truyền thống. Họ vẫn dùng xe ngựa làm phương tiện
vận chuyển, vắt sữa bò bằng tay, dùng nến để thắp sáng và dùng củi để
sưởi ấm trong các nhà bằng cây……Sự hiện diện của con đường này là qui
định riêng của tiểu bang cho sự sinh hoạt của cộng đồng cư dân này”. Tôi
thầm nghĩ: “Sự tôn trọng những giá trị văn hóa chính là sức mạnh mềm
của Hoa Kỳ”.
Bởi vậy, chúng tôi cho rằng:
Không thể có đối thoại văn hóa, mà chỉ có thể giao lưu và tôn trọng
những giá trị văn hóa khác nhau của các khu vực dân cư, hoặc quốc gia,
dân tộc….vv….
BÀI CHƯA HOÀN CHỈNH
1 – Âm mưu và chính danh.
Ngôn ngữ của dân tộc Việt là một ngôn ngữ rất cao cấp trong toàn bộ
hệ thống ngôn ngữ của nhân loại. Triết gia tên tuổi Phạm Công Thiện
viết:
“Không cần phải đọc Platon, Aristote, Kant, Hegel, không cần phải đọc Khổng Tử và Lão Tử, không cần phải đọc Upanishads và Bhagavad Gita, chúng ta chỉ cần đọc lại ngôn ngữ Việt Nam
và nói lại tiếng Việt Nam và bỗng nhiên nhìn thấy rằng tất cả đạo lý
triết lý cao siêu nhất của nhân loại đã nằm sẵn trong vài ba tiếng Việt
đơn sơ như CON và CÁI, như CHAY, CHÁY, CHÀY, CHẢY, CHẠY và còn biết bao
nhiêu điều đáng suy nghĩ khác mà chúng ta đã bỏ quên một cách ngu xuẩn.”.
Chính xác là như vậy! Trong ngôn ngữ của dân tộc có bề dày gần 5000
năm vắn hiến đó có đầy đủ tính hệ thống, tính phân loại, tính quy luật,
tính hợp lý trong cấu trúc của nó và rất giàu hình tượng. Có lẽ khi nào
rảnh, tôi sẽ viết cả một tiểu luận về ngôn ngữ Việt. Nhưng bây giờ nói
nôm thế này: Ngôn ngữ Việt thể hiện tính cao cấp với tất cả các ngôn ngữ
khác ở chỗ nó có thể dịch tất cả các ngôn ngữ khác ra tiếng Việt một
cách hoàn hảo. Còn tất cả các ngôn ngữ khác rất khó dịch hết ý những gì
mà ngôn ngữ Việt chuyển tải ra ngôn ngữ của họ.
Một lần nữa tôi lại tìm thấy một cảm hứng về ngôn ngữ Việt khi tôi
đặt tựa cho một tiểu mục của bài viết này – “Âm mưu và chính danh”. Và –
nếu như những bài trước cùng một để mục, tôi muốn chia sẻ với tất cả
những ai có lương tâm và trách nhiệm với giá trị văn hóa sử truyền thống
Việt – thì bài này tôi viết như một tâm sự của tôi.
Trong tiếng Việt từ “Âm” được sử dụng rất rộng rãi và đặc biệt trong
ngôn ngữ Nam bộ. Thí dụ như “Tủ âm tường”. Từ “Âm” trong tiếng Việt còn
được dùng để mô tả một khái niệm trừu tượng trong một học thuyết nổi
tiếng – Thuyết Âm Dương Ngũ hành. Rất nhiều học giả – chứ không phải học
thật – những con bò trong giới trí thức – ra rả như ve sầu rằng: Đấy là
từ Hán Việt và có nguồn gốc Hán. Và rằng thuyết Âm Dương Ngũ hành xuất
phát từ văn minh Hán, nên tất yếu từ “Âm” nó phải là từ Hán Việt.Nhưng
thật khốn nạn cho những tri thức có chỉ số Bo cao này, người Hán vĩ đại
của các người không có phát âm tương tự. Họ phát âm là “Yin”. Chẳng có
cái “cơ sở khoa học” nào để “Yin” thành “Âm” trong phiên âm Hán Việt cả.
Đúng là những con bò không đủ tầm tư duy. Đừng bảo tôi kiêu ngạo nhé!
Ngay cả những lời lẽ dưới đây của ông Phạm Công thiện cũng đừng vội bảo
ông ta kiêu ngạo:
“Ngay đến Heraclite, Parmenide và Empédocle, bây giờ tao còn xem thường, tao coi ba tên ấy như là ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện đại, chưa nói đến Socrate, đó là một tên ngu dại nhất mà ta đã gặp trong đời sống tâm linh của ta“. Ông coi những nghệ sĩ như Goethe, Dante như những thằng hề ngu xuẩn. Và đối với Sartre, Beauvoir: “Nếu họ muốn xin gặp tao, tao sẽ không cho gặp mà còn chửi vào mặt họ“. Về thiền tông: “Tao đã gửi thiền tông vào một phong bì tối khẩn đề địa chỉ của bất cứ ngôi chùa nào trên thế giới”. Về dạy học và các văn sĩ cùng thời: thời
gian tao học ở Hoa Kỳ, tao đã bỏ học vì tao thấy những trường đại học
mà tao học như Yale, Columbia chỉ toàn là nơi sản xuất những thằng ngu
xuẩn, ngay đến giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời, tao
có thể dạy họ hơn là họ dạy tao…Bây giờ nếu có Phật Thích Ca hay Chúa Giê Su
hiện ra đứng giảng trước mặt tao, tao cũng không nghe theo nữa. Tao là
học trò của tao và chỉ có tao làm thầy cho tao. Tao không muốn làm thầy
ai hết và cũng không để ai làm thầy tao. Còn các văn sĩ ở Sài Gòn, đọc
các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự
quờ quạng lúng túng, sự lặp đi lặp lại vô ý thức hay có ý thức: trí thức
“mười lăm xu”, ái quốc nhân đạo “ba mươi lăm xu”, triết lý tôn giáo
“bốn mươi lăm xu”.
Tôi không bao giờ nói ông Phạm Công Thiện là người kiêu ngạo qua
những lời phát biểu trên. Hay nói rõ hơn, trước khi tôi xác định ông ta
kiêu ngạo thì tôi phải xem ông ta nói có đúng không đã. Tôi chưa có thời
gian để thẩm định, nên tôi chưa có ý kiến gì. Và qua phát ngôn của ông
Phạm Công Thiên, mới thấy Thiên Sứ thật khiêm tốn khi tỏ ra kính cẩn
trước những danh nhân của nhân loại – là những thứ mà ông Phạm Công
Thiện không thèm tiếp và còn chửi vào mặt. Tôi chỉ tổng cổ những thằng
ngu, nhưng cố tỏ ra nguy hiểm ra khỏi diễn đàn. Nếu không có cái bằng
lớp 4 – do may mắn được gia đình dưỡng phụ lưu lại – thì rất có cơ sở
khoa học để xác định Thiên Sứ tui chưa qua hết chương trình “Bình dân
học vụ”. Thế thì kiêu ngạo với ai?! Trình độ tôi có hạn, nên mới chỉ đặt
vấn đề sơ sơ xác định cả cái thế giới này sai từ hàng ngàn năm nay –
khi cho rằng văn minh Hán là cội nguồn lý học Đông phương – và xác định
thuyết Âm Dương ngũ hành là lý thuyết thống nhất vũ trụ. Thứ mà cả thế
giới này đang ngơ ngác, không biết mặt mũi nó như thế nào. Bởi vậy, tôi
gọi những kẻ lúc nào cũng đề cao văn minh Hán và coi đó là cội nguồn văn
minh Việt là những con bò trong giới trí thức, là rất phản ánh thực tế
khách quan.
Quay trở lại với từ “Âm” trong “Âm mưu”. Âm là một từ mang khái niệm
che dấu, lẩn tránh, khuất tất, không công khai… và một khái niệm trừu
tượng. Đối lập và ngược lại với “Âm” là “Dương” – đều là từ thuần Việt.
Khái niệm Dương nghĩa la sự phô bày, minh bạch, danh nghĩa….. Trong
tiếng Việt “Dương” gần đồng âm với “Giương”, là một từ nằm trong tập hợp
của Dương , để miêu tả một hành vi cụ thể. Trong thuyết Âm Dương Ngũ
hành thì Âm Dương là một cặp phạm trù mang tính minh triết và là một
khái niệm miêu tả tất cả các trạng thái phân biệt, tổng hợp bản chất của
thực tại và mô tả thực tại. Tùy theo sự quán xét sự vật, sự việc trong
từng loại hệ quy chiếu, có nguyên lý của nó trong sự phân biệt Âm
Dương. Nhưng Âm đi với mưu thành “Âm mưu” thì nó không thể chính danh
được. Nó là một sự toan tính nhằm thực hiện một mục đích, mà phải ẩn dấu
dưới một hình thức gì đó, không phản ánh bản chất của vấn đề mà nó đang
thực hiện. Trong trường hợp này nó phải có một “danh nghĩa” là hình
thức để che đậy âm mưu.
Còn “Chính danh” thì rõ ràng khác hẳn Âm mưu. Nghĩa đen của “chính
danh” là gọi tên đúng sự vật, phản ánh đúng bản chất hiện tượng và vấn
đề. nó giống “danh nghĩa” về hình thức và chỉ coi là chính danh khi danh
nghĩa phù hợp với nội dung mà nó phản ánh.
Trong chủ để của bài viết này thì sự phủ nhận văn hiến Việt là một
“âm mưu”. Nó được che đậy dưới vỏ bọc “chứng minh khoa học” về cội nguồn
Việt sử – và – tất nhiên – Hình thức của nó là “nhân danh khoa học”.
Một thứ khoa học lạnh lùng, phi đạo lý truyền thống phủ nhận cội nguồn
văn hóa dân tộc. Tất nhiên một khi nó lên ngôi trong các trường học và
được giáo dục cho học sinh Việt Nam – thì – những giá trị đạo đức xã hội
truyền thống âm thầm tan rã, bởi góc nhìn lạnh lùng, có thực chất phản
khoa học đó, được giáo dục phổ biến. Hệ quả của nó là nền giáo dục Việt
Nam ngày càng tuột dốc và mọi biện pháp cải cách giáo dục đều không khả
thi. Một dân tộc sẽ bị tan rã, nếu truyền thống văn hóa sử của họ bị phủ
nhận. Bởi vì sự định hình một dân tộc , không phải chỉ ở tính xác định
gen di truyền. mà còn chính những giá trị văn hóa sử truyền thống của
dân tộc đó.
Tôi đã chứng minh rằng: Hoàn toàn không hể có tính khoa học trong
những luận điểm phủ nhận văn hóa sử truyền thống của dân tộc. Đấy là
tính chính danh của cá nhân tôi và của những học giả có tên tuổi trên
thế giới, khi chứng tỏ cội nguồn văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch
sử. Tính chính danh đó hoàn toàn căn cứ vào ngay cái danh nghĩa mà đám
“hầu hết” và “cộng đồng” gọi là “nhân danh khoa học” để phủ nhận truyền
thống văn hóa sử của dân tộc Việt. Nhưng không hề có một cuộc đối thoại
công khai nào gọi là “khoa học” để gọi là có danh nghĩa hình thức cho
cái luận điểm nhân danh khoa học. Một kịch bản qúa vụng về.Nhưng ngược
lại, tính trấn áp đe dọa phi chính danh đối với những người bảo vệ văn
hóa sử truyền thống Việt thì gần như liên tục. Hiện tượng chụp mũ mà tôi
công khai như Nguyễn Thị Thái đến tận văn phòng TTNC LHDP chỉ là bề
nổi làm thí dụ. Hiện tương Trung Nhân xộc lên phòng làm việc, áp sát
vào mặt tôi buông lời đe dọa có hai thằng nhìn vào nhà đã hai ngày hôm
nay và khả năng truy sát đối với tôi, chỉ là sự tiếp nối có chủ ý của
hiện tượng Nguyễn Thị Thái. Tất nhiên, những đe dọa này nó lại mang một
danh nghĩa khác, danh nghĩa bảo đảm an ninh cho cuộc sống vốn được coi
là tốt đẹp này. Cho dù tôi chẳng làm cái gì để gây bất an cho chế độ Xã
Hội Chủ Nghĩa. Mà tôi chỉ là người chứng minh không mệt mỏi, nhân danh
khoa học cho Việt sử 5000 năm văn hiến. Vậy thì sự trấn áp – mà tôi vẫn
còn rất hạn chế khi viết ra đây – nó đã xác định một âm mưu rõ rệt, phi
khoa học của cái “hầu hết” và “cộng đồng” khoa học quốc tế.
Sự thực đã được phơi bày: Hoàn toàn không có cơ sở khoa học và thực
chất chỉ là âm mưu chính trị quốc tế phủ nhận những gía tri văn hóa sử
truyền thống Việt.
Vào thời gian sôi động của những cuộc tranh luận học thuật trên
tuvilyso.com. Một ký danh (Nicknem) là nanghoa đã gửi PM cho tôi, có nội
dung đại ý như sau:
Em có những vị thày là cố vấn cao cấp cho chính phủ Hoa Kỳ. Những
vị thày em cho em biết là chính phủ Hoa Kỳ biết rất rõ và họ có đầy đủ
những cứ liệu xác định Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời huy hoàng ở
miền nam sông Dương Tử. Nhưng vì lý do chính trị, nên họ đã im lặng. Em
khuyên anh nên giả vờ thua trong các cuộc tranh luận này. Bởi vì, một
mình anh sẽ không thể chống lại được những âm mưu chính trị quốc tế.
Ngày ấy, tôi tin nanghoa nói đúng – vì những hành vi đe dọa trực tiếp
đến các công trình nghiên cứu của tôi đã xuất hiện từ lâu – Có thể nói
bắt đầu từ sau cuốn “Thời Hùng Vương và bí ẩn Lục Thập Hoa giáp” – đã
khiến tôi nghi ngờ động cơ chính trị đằng sau sự phủ nhận những gía trị
văn hóa sử truyền thống Việt. Nhưng tôi. không thể mong đợi chính phủ
Hoa Kỳ với những cứ liệu chuẩn xác chứng minh cho Việt sử 5000 văn hiến.
Hơn nữa, một cái PM của nanghoa không phải là điều kiện bảo đảm, cho
đến khi những câu chuyện của đại tá Nguyễn Công Trung đến với tôi. Tôi
vẫn hy vọng rằng tính chính danh của sự chứng minh khoa học là yếu tố
khách quan sẽ được thẩm định và mọi chuyện sẽ sáng tỏ.
Nhưng sự quyết liệt mang tính truy sát của Trung Nhân và sự chụp mũ
tiếp tục trong vài ngày gần đây của tìn đồn cho rằng tôi âm mưu tổ chức
tôn giáo đã cho thấy tính sặc mùi chính trị của âm mưu phủ nhận truyền
thống văn hóa sử Việt.
Và tôi đã nhiều lần nói rằng: Nếu như tôi xác định tính chính trị của
âm mưu phủ nhận gía trị văn hóa sử truyền thống Việt thì tôi sẽ chấm
dứt công bố tất cả các công trình nghiên cứu nhân danh khoa học chứng
minh Việt sử 5000 năm văn hiến.
Tôi đã công khai bài viết này lên đây và chỉ đích danh vài nhân vật
chụp mũ và đe doa trấn áp với sức ép của sự chụp mũ; tôi đã vạch trần âm
mưu trong chiến lược phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt của các thế
lực đứng đằng sau cái “hầu hết những nhà khoa học trong nước” và “quốc
tế” trong bài viết này. Tức là tôi đã xác định tính chính trị và phi
khoa học của vấn đề. Tất nhiên – theo đúng lời hứa – bắt đầu từ sau bài
viết này, tôi sẽ không tham gia phản biện và minh chứng Việt sử vào một
sự kiện mà thực chất là một âm mưu chính trị với danh nghĩa khoa học,
nhằm phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt. Các quí vị cứ tự nhiên đấm
đá nhau giành quyền lực, để làm bá chủ thế giới.
Nhưng tôi vẫn bảo lưu với tất cả mọi con người thực sự quan tâm đến
chân lý rằng: Việt sử 5000 năm văn hiến sẽ phải được sáng tỏ – cội nguồn
đích thực của thuyết Âm Dương Ngũ hành – chính là lý thuyết thống nhất
vũ trụ mà nhân loại đang tìm kiếm. Cá nhân tôi luôn ủng hộ những ai thừa
nhận chân lý.
Tôi không quan tâm lắm đền sự trả thù và truy sát sẽ đến với tôi như
thế nào. Khi tôi đã công khai đưa lên mạng internet, thì tôi luôn chấp
nhận hậu quả của nó. Tôi đã xác định trước điều này khi bắt đầu bài viết
vào ngày Tam Nương – một điều kiêng kỵ tuyệt đối của Lý học Đông
phương, nhằm dứt điểm vấn đề. Và nếu sự dứt điểm này nhằm vào tôi thì dễ
hơn nhiều với một người 64 tuổi yếu ớt trong vũ trụ này với những mánh
khóe và sức mạnh của những âm mưu. Sự dứt điểm này phần thua về tôi là
cái chắc với một kết thúc bi đát.
Nhưng tôi chấp nhận điều này.
II – Phú nhận văn hiến Việt – một âm mưu chính trị?
Tứ lâu, tôi đã xác định rằng: Nếu sự phủ nhận những gía trị văn hóa
sử truyền thống Việt được xác định có một mục đích chính trị – thì tôi
sẽ lập tức ngưng tất các hành vi minh chứng Việt sử 5000 năm văn hiến.
Nhưng hiện nay nó đang mập mờ – không phải vì bản chất của nó theo cách
hiểu của tôi – mà là giữa tính chính danh công khai, nhân danh khoa học
và thực chất động cơ của nó. Tôi đã phân tích và cho thấy hoàn toàn
không hề có dấu ấn khoa học thực sự trong sự phủ nhận những giá tri văn
hóa sử truyền thống Việt. Thậm chí cái “cơ sở khoa học” tối thiểu cũng
không có nốt. Vậy nó chỉ còn có một khả năng: “Thực chất đây là một âm
mưu chính trị”. Và vấn đề cần thiết phải làm sáng tỏ là: Âm mưu chính
trị đó xuất phát từ đâu? Nhằm mục đích gì?
Hiện tượng và vấn đề.
1/ Hiện tượng
Thực chất việc hoài nghi tính chính xác của cội nguồn văn hóa sử
truyền thống Việt bắt đầu từ ngay tác giả của cuốn Đại Việt sử ký toàn
thư – Sử gia Ngô Sĩ Liên – Ông ta đã tỏ ra hoài nghi tính huyễn hoặc của
truyền thuyết và huyền thoại về thời Hùng Vương, khi ghi nhận những
điều này trong cuốn chính sử nổi tiếng của Việt sử. Vào những năm 30 của
thế kỷ trước, một vài nhà nghiên cứu lịch sử như Ngô Tất Tố, Đào Duy
Anh cũng bày tỏ sự hoài nghi về cội nguồn Việt sử. Sau đó sử gia Trần
Trọng Kim, đồng thời là Thủ tướng của chính phủ Bảo Đại, cũng đặt vấn đề
này. Nhưng những ý kiến của họ không gây chú ý trong dư luận rộng rãi –
vì nó chỉ dừng lại ở sự hoài nghi – và Việt sử 5000 năm văn hiến vẫn là
một truyền thống nghiễm nhiên được công nhận trong văn hóa truyền thống
Việt. Chính những giá trị văn hóa sử truyền thống đó là một trong những
sức mạnh quan trọng của dân tộc Việt Nam vượt qua những thăng trầm của
Việt sử.
Trong cuộc hội thảo về giáo sư Lương Kim Định gần đây, một tham luận
đã xác định nhận xét của giáo sư Lương Kim Định – Đại ý – rằng:
“Một trong những sai lầm lớn nhất của những nhà lãnh đạo Việt Nam
Cộng Hòa là không chú trọng đề cao cội nguồn văn hóa truyền thống Việt.
Trong khi đó, những người cộng sản Việt Nam đã hết sức chú trọng điều
này…”
Tất nhiên là trong “sức mạnh tổng hợp” tạo nên sự chiến thắng trong
cuộc chiến kết thúc vào năm 1975, có nguồn lực của “4000 năm cùng chúng
ta ra trận” (Lời thơ của Tố Hữu) mà giáo sư linh mục Lương Kim Định cũng
nhận thấy điều đó.
Điều này rất dễ hiểu với sự giải thích theo tính hợp lý của tri thức
khoa học hiện đại. Bởi vì, bất cứ một chính thể nào trên thế giới này –
độc tài, hay dân chủ…vv…- nhưng khi bảo vệ những giá trị văn hóa sử
truyền thống của dân tộc đó thì nghiễm nhiên xác định tính chính thống
trong sự kế thừa lịch sử dân tộc đó. Đương nhiên, chính thể đó được sự
ủng hộ về mặt tinh thần dân tộc của dân tộc đó. Tất nhiên đó là một yếu
tố cần, như con người phải có oxy để thở vậy và không phải yếu tố duy
nhất bảo đảm sự tồn tại cho thể chế đó.
Tất nhiên, những lãnh tụ tài ba khai sinh ra những thể chế chính trị,
đều lấy sự bảo vệ văn hóa sử truyền thống của dân tộc, thể hiện cho
tính chính thống của thể chế.
Ngay sau ngày tuyên ngôn Độc lập mùng 2. 9. 1945, thì vào ngày mùng
3. 9. 1945, Ngài Hồ Chí Minh đã lập tức yêu cầu vị phó Chủ Tịch nước
Việt Nam Dân Chủ Công Hòa – Ngài Huỳnh Thúc Kháng – lên đền Hùng Phú
Thọ, dâng lên anh linh tổ tiên một tấm bản đồ, một thanh gươm và chiếc
ấn với lời nguyện quyết tâm bảo vệ non sông mà tổ tiên để lại. Có ý kiến
vu vơ cho rằng đây là câu chuyện không có thật, mà chỉ là sự tuyên
truyền. Nhưng chí ít thì hành vi tuyên truyền nhằm xác định quyết tâm
bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống Việt. Cá nhân tôi xác định
trên đền Hùng còn giữ lại thanh gươm và chiếc ấn cổ.
Còn nữa, vào năm 1954, cũng tại đền Hùng, Ngài Hồ Chí Minh, một lần
nữa xác định: “Các vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng
nhau giữ nước”.
Có thể nói rằng: Không chỉ ở Việt Nam, mà tất cả các thể chế muốn xác
định tính chính thống vì kế thừa lịch sử văn hóa dân tộc thì đều bắt
đầu bằng việc bảo vệ truyền thống văn hóa sử đó với bất cứ giá nào. Đó
là lý do mà một giáo sư Nhật Bản đã lập tức bị cách chức khi bày đặt
nhân danh khoa học , hoài nghi cội nguồn dân tộc Nhật, không phải từ
Thái dương Thần nữ. Tất nhiên , nền khoa học kỹ thuật Nhật Bản đã chứng
minh rằng: Họ không phải dân tộc “mê tín dị đoan” và “không có cơ sở
khoa học”.
Sinh thời ngài Thủ Tướng Phạm Văn Đồng hết sức chú trọng việc minh
chứng cội nguồn Việt sử trải gần 5000 năm văn hiến. Một số tiền khổng lồ
vào thời điểm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70 được huy động để tìm
bằng được những bằng chứng khoa học xác định cội nguồn Việt sử 5000 năm
văn hiến, trên cơ sở nền tảng tri thức khoa học hồi bấy giờ – vốn coi di
vật khảo cổ như là yếu tố quan trọng hàng đầu.
2/ Vấn đề.
Cũng vào thời điểm này, những thế lực quốc tế chống lại khối Xô Viết
mà Việt Nam Dân chủ Công Hòa là một nước liên minh – tất nhiên cũng nhận
thức được một yếu tố quan trọng trong “sức mạnh tổng hợp” của người
Việt chính là văn hóa sử truyền thống của họ và đó là điều mà thể chế
này được nhân dân ủng hộ, bởi tính chính thống qua việc thể hiện sự bảo
vệ những giá trị văn hóa sử truyền thống.Và tất nhiên, những thế lực
chính trị quốc tế cũng nhận thấy ngay rằng: Cội nguồn truyền thống văn
hóa sử Việt hết sức mơ hồ.
Bởi vậy, cũng ngay thời điểm quyết tâm của những nhà lãnh đạo Việt
tìm về cội nguồn dân tộc thì những ý kiến phủ nhận văn hóa sử Việt cũng
đã xuất hiện. Những cuộc hội thảo về cội nguồn dân tộc Việt có những bài
tham luận không phù hợp với ý chỉ của những nhà lãnh đạo nhà nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Thậm chí trong một tập kỷ yếu có tựa “Hùng Vương
dựng nước” xuất bản vào đầu những năm 70, những bài tham luận không có
phần kết luận và một bài nói của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng (Tôi không nhớ
chính xác, nhưng là một vị yếu nhân; hoặc là ngài Trường Chinh) cho rằng
một số nhà nghiên cứu đã kết luận vội vã.
Cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai nhóm những nhà khoa học lịch sử –
một bên quyết tâm bảo vệ những giá trị văn hóa sử truyền thống, được sự
ủng hộ của chính quyền với một bên nhân danh khoa học phủ nhận những giá
trị văn hóa sử truyền thống đã xảy ra.
Tất nhiên, khi đã được sự ủng hộ của chính quyền thì cơ quan An Ninh
đã vào cuộc. Chuyện này chắc cũng không cần phải bàn. Nhưng để cho nó
xác thực và sinh động hơn, tôi muốn kể một câu chuyện về một bác sĩ cũng
ba hoa nhân danh khoa học, phản biện giá trị văn hóa sử truyền thống.
Anh ta cũng bị cán bộ an ninh đến tận cơ quan và mời ra công viên làm
việc. Nhưng anh ta khoe với tôi rằng: Trước những lập luận sắc bén và
khoa học, tay cán bộ an ninh kia đã không làm gì được anh ta. Câu chuyện
anh ta kể xảy ra vào khoảng giữa những năm 80 của thế kỷ trước và tôi
nghe anh ta kể lại vào cuối những năm 90. Đủ hiểu, những quan điểm phủ
nhận văn hóa sử truyền thống cũng cam go như thế nào. Người kể câu
chuyện này tất nhiên không biết rằng – tôi lại là người không thể đồng
quan điểm với anh ta.
Vào cuối những năm 80, một sự cố xảy ra trong cuộc bầu cử lại lãnh
đạo Viện Khảo cổ Việt Nam. Giáo sư Phạm Huy Thông bị một người cháu ruột
gọi bằng cậu đâm chết với nguyên nhân vì tham 4 cây vàng. Một tài sản
rất lớn thời bấy giờ. Người quan trọng thứ hai đứng sau ngài Phạm Huy
Thông là trung tá tiến sĩ sử học Nguyễn Công Trung (Đã về hưu với hàm
đại tá) thì bị một cô bồ nhí vác cái bụng bầu đến tận Viện Khảo cổ la
hét ầm ĩ và xác định chưa có “cơ sở khoa học” – vì hồi đó chưa có xét
nghiệm ADN – rằng: tác giả của cái bụng bầu đó chính là anh ta. Chưa
hết, một cử nhân khoa lịch sử trong liên danh ứng cử với ngài Phạm Huy
Thông, bị xe cán gẫy chân, nên không thể tiếp tục làm việc. Người còn
lại, vốn là thư ký của ngài Phạm Huy Thông, tất nhiên chẳng có tư cách
gì để ngồi vào cái ghế Viện Trưởng Viện Khảo cổ cả.
Tất cả những hiện tượng này chỉ xảy ra trong vòng hai tháng trước
cuộc bầu cử lãnh đạo viện Khảo Cổ Việt Nam. Như vậy, những người kiên
trì và cứng đầu trong việc bảo vệ văn hóa sử truyền thống Việt bị xóa
sổ. Tất nhiên, hiện tượng là như vậy. Và người ta có thể giải thích rất
có “cơ sở khoa học” rằng đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên.
Giáo sư Hà Văn Tấn lên thay thế vị trí Viện Trưởng Viện khảo cổ. Ông
Hà Văn Tấn là người chưa có phát biểu gì mạnh mẽ về quan điểm lịch sử
cội nguồn dân tộc.
Anh Nguyễn Công Trung kể lại cho tôi câu chuyện buồn này, lúc bạn bè
cũ gặp lại nhau ở văn miếu Quốc Tử Giám cách đây 6, 7 năm về trước, khi
biết tôi đang cố gắng minh chứng cho Việt sử 5000 năm văn hiến. Anh ta
khuyên tôi nên bảo trọng. Lúc đó tôi còn cãi lại anh ta và cho rằng: Đây
là vấn để học thuật. Anh ta im lặng và chẳng nói gì, chỉ trả lời tôi
với đôi mắt thật buồn. Nhưng đó là sự kiện khiến tôi phải xâu chuỗi lại
tất cả các hiện tượng liên quan đến nó.
Hai năm sau sự kiện trên, khối Xô viết sụp đổ. Hiến Pháp năm 1992 của
nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, sửa lại Lời nói đầu, từ việc
xác định hơn 4000 năm lịch sử thành “mấy ngàn năm lịch sử”. Nhưng đó là
cơ hội để quan điểm nhân danh khoa học phủ nhận văn hóa sử truyền thống
Việt lên ngôi. Bởi vì, với khái niệm “mấy ngàn năm”, rất mơ hồ đó – thì –
nó mở đường cho tất cả các quan điểm lịch sử khác nhau, đều được thể
hiện.
Nhưng đấy chỉ là lý thuyết. Thực tế không hề có tính khách quan khoa
học được thể hiện qua sự thông tin một chiều ở tất cả các phương tiện
thông tin đại chúng trong nước và quốc tế. Ngay trong cả sách giáo khoa
dạy trong nhà trường, người ta cũng nghiễm nhiên giảng dạy về thời Hùng
Vương chỉ là “một liên minh 15 bộ lạc, cùng lắm là một nhà nước sơ khai
và địa bàn hoạt động chỉ vỏn vẹn ở Đồng bằng Bắc Bộ” với những người dân
“Ở trần đóng khố”. Và – mặc dù đó mới chỉ là những luận điểm được coi
là “khoa học” một cách rất mơ hồ – Nhưng những người phủ nhận những gía
trị văn hóa sử truyền thống Việt, đã khẳng định những gì mà nền văn
minh Việt có được là do “Ảnh hưởng văn hóa Hán”, hoặc “tiếp thu được từ
văn hóa Hán”.
Trên BBC cách đây vài năm, đăng tải thông tin về một người đàn bà
đang làm luận án tiến sĩ ở Hoa Kỳ, đã xác định nền văn hóa Việt hoàn
toàn tiếp thu từ văn hóa Hán. Sự kiện trơ tráo của người đàn bà này bị
các nhân sĩ trí thức ở chính Anh Quốc phản đối và đòi cách chức trưởng
ban Việt ngữ của Đài BBC là tay Nguyễn Giang. Cuối cùng, người đàn bà
tiến sĩ này một lần nữa thẳng thắn và cũng rất trơ tráo thừa nhận – đấy
là những điều y thị học được từ nhà trường khi còn ở Việt Nam!
Tại sao lại có thể có hành vi trơ tráo vô liêm sỉ thế nhỉ? Chẳng ai
tự nhiên xác định có “cơ sở khoa học” rằng bố mẹ họ toàn là những người
sâu răng, hôi nách cả. Tất nhiên, về cá nhân thì cũng thiếu gì loại
người như vậy trên thế gian. Thí dụ như những kẻ đâm cha, giết mẹ đầy
trên các trang thông tin mạng. Nhưng BBC sao lại cần thiết đăng một tin
lãng nhách như vậy? Không lẽ một hệ thống như BBC của một nước tiên tiến
như Anh Quốc lại không có khả năng thẩm định một nhận xét nhân danh
khoa học của người đàn bà trơ tráo kia – để rồi sau đó chính người đó –
tiến sĩ khoa học ở Hoa Kỳ – lại xác định họ không có chính kiến khoa học
về câu nói của họ và đó chỉ là điều được học trong nhà trường? Xin lưu ý
rằng: Chưa một đài truyên thông quốc tế nào chính thức đăng tin giới
thiệu về những công trình minh chứng cội nguồn Việt sử – kể cả của những
học giả có uy tín quốc tế. Nhưng sự hỗ trợ cho quan điểm phủ nhận văn
hiến Việt thì đầy. Tôi sẽ bổ sung sau.
Điều giải thích hợp lý nhất vẫn là: Sự phối hợp của một âm mưu quốc
tế, nhằm triệt tiêu một sức mạnh cần yếu của dân tộc Việt Nam, trong sức
mạnh tổng hợp của họ trước những sự xâm lăng dưới mọi hình thức của
ngoại bang. Và điều quan trọng hơn cả vẫn là: Thủ tiêu tính chính thống
của thể chế cầm quyền. Khi mà chính từ trong nội bộ của thể chế đó, phủ
nhận những gía trị văn hóa sử truyền thống của dân tộc. Và đây chính là
điều mà Liên minh chống khối Xô viết – mà Việt Nam là một thành viên –
đã thực hiện.
Cần phải xác định ngay rằng: Đây chính là mục đích của âm mưu chính
trị quốc tế, trong việc phủ nhận những gía trị văn hóa sử truyền thống
Việt, khi nó không thể giải thích được bằng những yếu tố khách quan khoa
học ở mọi góc độ nhân danh khoa học?!
3/ Cội nguồn của âm mưu.
Có nhiều quốc gia, mà những nhà nghiên cứu văn hóa sử không hề thấy
đả động gì đến cội nguồn văn hóa sử truyền thống Việt. Thí dụ như Nga –
tất nhiên rồi – Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ…. Nếu có thì chỉ là những công
trình khoa học mang tính trích dẫn. Nhưng ngược lại, cái gọi là “cộng
đồng khoa học quốc tế”, ủng hộ quan điểm phủ nhận gía trị văn hóa sử
truyền thống Việt lại xuất hiện ở Pháp, Anh Quốc và Hoa Kỳ. Đây là hai
đồng minh truyền thống quan trong nhất của Hoa Kỳ. Nước Pháp thì gắn
huân chương và phong hàm cho không ít những người có quan điểm phủ nhận
gía trị văn hóa sử truyền thống Việt. Nước Anh thì tuyên truyền một
cách tích cực những quan điểm này của các nhà gọi là “khoa học” trong
nước, qua hãng truyền thông quốc tế BBC – tất nhiên không phải chỉ một
vụ của người đàn bà Đỗ Ngọc Bich. Còn nước Mỹ thì đóng góp duy nhất một
nhà sử học tưng tửng là GS Keith W. Taylor. Tất nhiên , cội
nguồn sự việc xảy ra từ năm 1971 – Cụ thể là sau độ nhậu rượu Mao Đài
với lưỡi chim sẻ ở Tử Cấm thành – khi các thế lực quốc tế còn đang xúm
vào chống lại một lực lượng đối lập là khối Xô Viết, mà Việt Nam là một
thành viên – và ảnh hưởng của nó còn đến ngày hôm nay.
Đó chính là nguyên nhân để không có cửa cho những tiếng nói ngay của
cả những học giả uy tín quốc tế, được xen vào những phương tiện truyền
thống đại chúng ở những nước nổi tiếng tự do, nhân quyền, dân
chủ…vv…Nhưng nó lại thừa chỗ cho những ý kiến ngớ ngẩn như con mẹ Đỗ
Ngọc Bích trên BBC.
Trong cái liên minh chính trị chống lại khối Xô Viết, dung chứa “Cộng
đồng khoa học thế giới” thống nhất quan điểm phủ nhận văn hóa truyền
thông Việt ấy thì kẻ có lợi nhất chính là Trung Quốc, trong tham vọng
bành trướng của họ. Họ có lợi thế hơn cả, bởi những thế lực ủng hộ ngoài
biên giới. Tất nhiên là cả ở Việt Nam và là nước có biên giới sát Việt
Nam.
Tuy nhiên đó là chuyện trước đây. Còn bây giờ thì chính cái liên minh
chính trị chống lại khối Xô Viết đó, đang chuẩn bị quay lại thanh lý
tài sản là phần còn lại của thế giới. Người Trung Quốc muốn xí phần cái
Biển Đông, khi Trung Đông nhiều dầu mỏ thuộc về Hoa Kỳ. Họ đã lập luận
rằng nó là của họ từ hàng ngàn năm trước và đất Việt hiện nay trước đây
vốn là thuộc quốc của họ. Đáng nhẽ ra, người Trung Quốc sẽ không có cơ
sở lịch sử đó, nếu như không có sự hỗ trợ của quan điểm phủ nhận cội
nguồn văn hóa sử truyền thống Việt. Hay nói một cách khác: Họ sẽ hoàn
toàn không có một cơ sở lịch sử nào, nếu chân lý khách quan khoa học về
cội nguồn Việt sử 5000 năm văn hiến được sáng tỏ. Cho nên, người Việt
Nam hiện nay, không chỉ đối phó trước mắt là bằng đối thoại với những
chứng lý pháp lý; mà còn phải đối phó với cả việc minh chứng chủ quyền
biển đảo với cả chứng lý lịch sử. Họ có thể rất dũng cảm, nhưng không
thể một mình chống lại một siêu cường thứ 2 trên thế giới, xét về mặt
quân sự với một sức mạnh tinh thần đã bị kiệt quệ, chính vì sự phủ nhận
truyền thống văn hóa sử Việt ngay trong nội bộ, nên đã xói mòn tính
chính thống của thể chế cầm quyền. Mặc dù, đây là thể chế duy nhất hiện
nay có thể đương đầu với những thế lực xâm lược.
Thiên Sứ tôi không dây dưa đến chính trị – còn suy luận tôi có hoạt
đông chính trị hay không và áp đặt điều đó để gây sức ép lên tôi lại là
chuyện khác – Cho nên, tôi không quan tâm đến các thế lực chính trị.
Nhưng chẳng phải ngẫu nhiên, tôi xác định rằng: Cá nhân tôi – ủng hộ bất
cứ ai bảo vệ những gia trị văn hóa sử truyền thống Việt. Vì điều đó,
bản chất của nó xác định tính chính thống của một thể chế chính trị. Và
điều này không giới hạn ở một quốc gia. mà là cả những thế lực đang cạnh
tranh trên thế giới. Tôi muốn nói thêm một điều – có thể coi như một
lời tiên tri rằng:
Bất cứ quốc gia nào thống trị thế giới sau này, đều buộc phải vinh
danh những giá trị văn hiến Việt, như là một điều kiện tiên quyết hình
thành đế chế.
Tôi không có tư cách gì để áp đặt quyền lực chính trị nhằm xác định
Việt sử 5000 năm văn hiến. Tất nhiên, vì tôi chỉ là phó thường dân dự
khuyết hạng II Nam bộ, thậm chí chẳng có bằng cấp gì cả. Về mặt pháp lý,
nếu không lấy được giấy chứng nhận các học phần ở Đại Học Văn Khoa thì
tôi chỉ có cái bằng …lớp 4/ 10. Hì. Như vậy, ngay cả quyền lực học thuật
tôi cũng không có nốt.
Bởi vậy, nếu thực sự sòng phẳng về học thuật và làm sáng tỏ chân lý,
tôi chỉ có thể chứng minh chân lý Việt sử 5000 năm văn hiến trong những
cuộc hội thảo khoa học sòng phẳng, minh bạch và công khai, trước nhưng
tinh hoa của “hầu hết các nhà khoa học trong nước” và “cộng đồng khoa
học quốc tế”. Và nếu như cái thế giới này thực sự đang tiến hóa đến chân
lý với những tổ chức chính trị trong sạch thì nó phải ủng hộ chân lý.
Chí ít nó phải ủng hộ sự minh bạch mà nó nhân danh. Và nó phải thể hiện
tính chính thống của tổ chức chính trị bằng cách bảo vệ những giá trị
văn hóa sử truyền thống của dân tộc đang nằm dưới sự cầm quyền của họ.
(Còn tiếp)
I. Phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt – nhân danh khoa học?
Đây chính là cái mác mà “hầu hết những nhà khoa học lịch sử trong
nước” làm biểu ngữ cho họ. Họ rêu rao rằng: “Cần phải tôn trọng sự thật
lịch sử”, “tôn trọng chân lý khoa học” và xác định rằng: Truyền thống
văn hiến Việt trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miền nam
sông Dương tử là không có cơ sở khoa học. Họ coi những di vật khảo cổ
tìm thấy được với độ cacbon phóng xạ định thời gian đo được ở những sản
phẩm trống đồng – đặc trưng của văn hiến Việt – chỉ xác định tối đa
khoảng 700 năm BC – và lấy đó làm khoảng thời gian mốc chuẩn cho sự ra
đời của thời đại Hùng Vương – cội nguồn Việt sử. Những căn cứ dựa trên
sự xác định thời gian ước tính những di vật khảo cổ tìm thấy được , họ
đem so sánh với cuốn Việt sử lược – vô danh – có một đoạn có vẻ trùng
khớp:
“Vào thời Trang Vương nhà Chu, ở bộ Gia Ninh, có người dùng ảo thuật chinh phục các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương…”
Họ đã so sánh thời Trang Vương nhà Chu vào khoảng cuối thế kỷ thứ VII
BC và vì vậy la hét lên rằng: Thời Hùng Vương chỉ có thời gian xuất xứ
vào khoảng thế kỷ thứ VII BC. Do đó việc Việt sử 5000 văn hiến như
truyền thống văn hiến Việt lưu truyền và chính thức ghi trong chính sử
là không có cơ sở khoa học. Thêm vào đó, họ căn cứ vào một “công trình
khoa học” – cụ thể là Toán học – làm giáo sư Ngô Bảo Châu chắc chắn phải
phát ngượng khi cộng tác với các nhà toán học Việt Nam – là: “Nếu lấy
2622 năm trị vì của thời Hùng Vương ghi trong chính sử (2879 BC – 257BC)
chia cho 18 đời vưa Hùng theo truyền thuyết thì mỗi vị vua thọ trung
bình gần 150 năm”. Căn cứ vào đấy, họ coi như đã hoàn tất “cơ sở khoa
học”, bao gồm những điểm chính sau đây:
1/ Văn bản lịch sử chủ yếu là cuốn Việt sử lược.
2/ Di vật khảo cổ với việc đo độ cacbon phóng xạ để xác định niên đại, so sánh với niên đại ghi trong Việt sử lược có sự trùng hợp.
3/ Sử dụng toán học như một công cụ mũi
nhọn của tri thức khoa học tiên tiến cách đây hàng thập kỷ, như là bằng
chứng cuối cùng khoa học hóa luận điểm phủ nhận văn hóa sử truyền thống
Việt. Đây cũng chính là luận cứ của đám theo đóm ăn tàn – một loại nhai
lại trí thức – coi như luận cứ rất khoa học để đi đâu cũng trình bày
nhằm xóa bỏ đến tận cùng niềm tin còn sót lại của từng người dân Việt
với văn hóa truyền thống của họ.
4/ Xuyên tạc tất cả những giá trị văn hóa
truyền thống Việt, như các chuyện Tấm Cám thì bị buộc là dã man; Thạch
Sach thì có nguồn gốc Campuchia; Chuyện Tình Trương Chi thì mang màu sắc
giai cấp…vv….
Đấy chính là những nét căn bản nhất trong lập luận của đám người được
coi là tinh hoa trí thức với sự khoe khoang quan điểm vô liêm sỉ này
vốn được “hầu hết những nhà khoa học trong nước” và được “cộng đồng khoa
học thế giới” ủng hộ quan điểm của họ.
Nhưng ngay từ những luận điểm căn bản đó, có thật là khoa học hay không?
Có thể khẳng định ngay rằng: Những luận điểm phủ nhận văn hóa sử
truyền thống Việt này của đám “hầu hết” và “cộng đồng” hoàn toàn không
hề có “cơ sở khoa học” – vốn là những điều nhân danh của chính họ.
Việc đầu tiên và cũng là một thách thức với họ, tôi muốn nhắc lại lời
của giáo sư Viện sĩ Phan Huy Lê – (Chức danh Viện sĩ Pháp Quốc này có
nhiều dư luận bàn tán, nhưng tôn trọng tính chính danh thì ít nhất nó
được những tờ báo chính thống ở Việt Nam thừa nhận) – khi ông ta nhân
danh khoa học để chưa công nhận những minh chứng liên quan đến Việt sử
5000 năm văn hiến với khái niệm “cơ sở khoa học” – Đó là câu hỏi giành
cho ông: “Thế nào là ‘cơ sở khoa học’”?
Tất nhiên với một câu hỏi như vậy thì điều đó có nghĩa rằng:
Giáo sư viện sĩ Phan Huy Lê có quyền tự đặt ra nội dung khái niệm “cơ
sở khoa học”, để từ đó làm căn cứ cho tất cả những luận cứ minh chứng
hoặc phản biện, biện minh cho quan điểm của “hầu hết những nhà khoa học
trong nước” và “cả “cộng đồng khoa học quốc tế”.
Đồng thời, cũng trên chính nội dung khái niệm của giáo sư Viện Sĩ
Pháp Quốc Phan Huy Lê có thể đưa ra, thì những người chứng minh cho
truyền thống Việt sử 5000 năm văn hiến – dốt nát như tôi – mới lấy cái
“cơ sở khoa học” đó của ông để tự xem xét mình sai ở chỗ nào, hoặc chí
ít là căn cứ vào đấy để chỉ ra “hầu hết những nhà khoa học trong nước”
và “cộng đồng khoa học quốc tế” phủ nhận giá trị văn hóa sử truyền thống
Việt sai ở đâu chứ? Còn nói chung chung như ông thì phải chăng cơ sở
khoa học phụ thuộc vào quyền lực học thuật? Hay quyền lực chính trị?
Tóm lại, với câu hỏi này – cá nhân tôi – đã đồng ý để ông và “hầu hết
những nhà khoa học trong nước” phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt –
lựa chọn vũ khí lý luận. Với chức danh Hội trưởng Hội Sử học Việt Nam,
tôi coi như ông là một trọng tài, để đưa ra một chuẩn mực so sánh đối
chiếu những luận cứ khoa học để xác định tính khoa học của các luận cứ
biện minh và phản biện. Tất nhiên, tôi hy vọng rằng giáo sư Phan Huy
Lê, đủ khả năng tư duy để đưa ra một chuẩn mực khách quan, gọi là “cơ sở
khoa học” và không làm hổ danh chức vị giáo sư, Viện sĩ Pháp quốc.
Tôi cũng tin rằng: Với trình độ của chức danh Hội Trưởng Hội Sử học
Việt Nam và giáo sư Viện Sĩ Pháp quốc, ông Phan Huy Lê sẽ không đến nỗi
xác định “cơ sở khoa học” là: “Cái gì tồn tại thực tế thì được coi là cơ
sở khoa học”. Hoặc thậm chí tệ hơn, cả khi ông có quyền nói rằng: “Cơ
sở khoa học là quyết định của ông”.
Kể cả như vậy cũng được! Nhưng ngay cả trong trường hợp này, tôi cũng
sẽ căn cứ vào chính định nghĩa khái niệm nội hàm của cái “Cơ sở khoa
học” của ông, để chứng minh “hầu hết những nhà khoa học trong nước” phủ
nhận văn hóa sử truyền thống Việt sai.
Tôi đã chờ đợi rất lâu câu trả lời của ông kể từ cuộc hội thảo “Chữ
Việt cổ” của nhà nghiên cứu Đỗ Văn Xuyền. Và trên thực tế không hề có
một định nghĩa nào về nội hàm cụm từ “cơ sở khoa học” mà giáo sư viện sĩ
Phan Huy Lê nói tới.
Và vì thế có thể xác định ngay rằng: Không hể có tính chất khoa học
thực sự cho những luận điểm phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt, khi
chính giáo sư Viện sĩ Hội trưởng hội Sử học Việt Nam không đưa ra được
nội hàm “cơ sở khoa học” của chính ông ta.
Vậy thì – khi không thể định nghĩa được thế nào là “cơ sở khoa học” –
tất cả những luận cứ gồm 4 điểm chính mà tôi trình bày ở trên, đều chỉ
coi là một góc nhìn để đặt vấn đề hoài nghi gía trị văn hóa sử truyền
thống Việt. Chứ không thể gọi là “cơ sở khoa học” phủ nhận giá trị văn
hóa sử truyền thống Việt. Bây giờ, tôi bác bỏ lần lượt từng luận cứ căn
bản trong toàn bộ “cơ sở lý luận” của họ:
1/ Di vật khảo cổ là những trống đồng tìm
thấy được và theo họ được giám định cacbon phóng xạ cho thấy niên đại
chỉ khoảng 700 năm BC. Vâng! Tôi thì không phải chuyên gia thẩm định
cacbon phóng xạ, nên tôi không tranh luận gì về kết quả thu được và công
nhận là đúng luôn cho nó đỡ rườm rà. Nhưng đó không bao giờ là điều
kiện phủ nhận truyền thống văn hiến Việt 5000 năm lịch sử một thời huy
hoàng ở miền nam sông Dương tử. Bởi những nguyên nhân sau đây:
- Chẳng ai có thể trơ tráo xác định rằng: Không hề tồn tại nền văn
minh Maya với những di vật khảo cổ tìm thấy ở Uruqoay. Do đó, muốn phủ
nhận truyền thống văn hóa sử Việt thì sự chứng minh trên cơ sở di vật
khảo cổ phải bao gồm cả nam Dương Tử, như truyền thống văn hóa sử xác
nhận. Chứ không thể chỉ giới hạn ở lãnh thổ Việt Nam hiện nay và xác
định nền văn minh đó không hề có ở Nam Dương tử.
- Di vật khảo cổ được cộng đồng khoa học lịch sử quốc tế xác nhận là
những “bằng chứng khoa học chứng minh cho lịch sử”, nhưng chưa hề và
chưa bao giờ xác định đó là bằng chứng duy nhất chứng minh cho lịch sử.
Vào năm 2003, cơ quan văn hóa Liên Hợp Quốc xác định”Di sản văn hóa phi
vật thể là bằng chứng khoa học chứng minh cho lịch sử”. Điều này xác
định rằng: Di sản khảo cổ không phải bằng chứng duy nhất chứng minh cho
lịch sử. Chí ít, nó còn bằng chứng di sản văn hóa phi vật thể. Chưa nói
đến hàng loạt những bằng chứng khác. Thí dụ như “văn bản lịch sử”.
Nhưng giải thích thế nào về sự trùng hợp giữa niên đại được xác định
bởi phương pháp cacbon phóng xạ và thời điểm ghi nhận trong Việt Sử
Lược?
2/ Văn bản lịch sử được họ lấy làm luận
chứng trong việc phủ nhận truyền thống văn hóa sử Việt chủ yếu là cuốn
Việt sử lược – vốn vô danh, không “chính chủ” – được họ tôn vinh là cuốn
sử chính xác, đáng tin cậy và gán cho nó chữ “Đại” thành Đại Việt sử
lược để thể hiện tinh thần yêu nước khi phủ nhận giá trị văn hóa sử
truyền thống Việt. Cũng để đỡ phải rườm rà, tranh luận lôi thôi – tôi
thừa nhận trong Việt sử lược có đoạn nói trên. (Nhưng điều đáng tiếc cho
họ là không chỉ duy nhất có đoạn đó. Tuy nhiên vấn đề sẽ bàn sau. Tôi
bàn thẳng vào luận chứng của họ, chứ không quanh co).
Như vậy, hai sự kiện trùng lặp khách quan được họ dẫn chứng là xác
định niên đại bằng cacbon phóng xạ và văn bản lịch sử có sự trùng khớp
tương đối về niên đại. Nhưng , như tôi đã nhiều lần trình bày trên diễn
đàn lyhocdongphuong.org.vn rằng: Hiện thực khách quan là đối tượng tìm
hiểu, cách giải thích hiện tượng như thế nào , mới xác định được tính
khoa học hay không? Hai hiện tượng trùng lập này có thể giải thích bằng
cách khác phủ hợp với những hiện tượng lịch sử và hợp lý với tất cả
những vấn đề liên quan đến nó. Và cách giải thích của những người phủ
nhận văn hóa sử truyền thống Việt hoàn toàn chủ quan, mang tính cục bộ,
thể hiện ở những di vật khảo cổ chỉ giới hạn ở đồng bằng Bắc Bộ, mà tôi
đã trình bày ở trên.
3/ Sử dụng toán học như là phương tiện hỗ
trợ chứng minh cho quan điểm lịch sử của họ với bài toán mà tôi đã trình
bày ở trên. Nhưng rất tiếc! Có thể nói: Đây là một sai lầm tối thiểu
nhất của tư duy toán học. Tôi thành thật mà phát biểu rằng: Nếu phương
pháp giải bài toán này là cơ sở toán học được: “hầu hết các nhà khoa học
trong nước” thừa nhận thì thật là điều đau lòng cho nền khoa học Việt
Nam. Thảo nào, giáo sư Viện Sĩ Nguyễn Văn Hiệu nhận xét: “Nền khoa học
Việt Nam đang ….tuyệt tự”.
Bởi vì, nó mắc sai lầm về phương pháp căn bản của toán học trên cơ sở
trình độ …học sinh lớp 4/ 12. Một phương trình toán học – ấy là nói cho
nó oai, cho có vẻ cao cấp một tý – chứ nói nôm thì là một bài toán của
học sinh lớp 4 cũng cần phải có sự đồng đẳng của các đại lượng. Người ta
không thể lấy 4 con bò trừ đi hai lợn. Vâng ! Tối thiểu nó là như vậy.
Nhưng ở đây – trong bài toán nằm trong luận cứ quan trọng của “hầu hết
những nhà khoa học trong nước” và được rêu rao ầm ĩ về tính “khoa học ”
của nó, khiến Thiên Sứ tôi trả lời ngót 100 lần, đến mức độ phát cáu vì
những thằng ngu – là: Khi lấy con số 2622 năm trị vì của thời Hùng
Vương vốn được coi là con số thật (Hoặc chí ít được coi là con số thật),
đem chia cho con số 18 đời vua Hùng – vốn là một con số truyền thuyết –
chưa được “khoa học chứng minh” có “cơ sở khoa học”. Bởi vậy, nó mới
ra một kết quả thảm hại là một người thọ đến 150 năm lận. Tất nhiên là
nó vô lý , vì sai lầm căn bản của bài toán dùng con số thực để chia cho
một con số ảo chưa được xác định – khi họ áp đặt 18 Thời Hùng Vương là
18 vị vua Hùng tiếp nối, mà không cần chứng minh.
Thật là sự thảm hại của tư duy toán học Việt Nam.
Qua sự cố này, một lần nữa lại cho thấy tính phi khoa học của sự phủ
nhận văn hóa sử truyền thống Việt, ngay trong sự cố gắng của luận điểm
này trong lĩnh vực gọi là “mũi nhọn của tri thức khoa học hiện đại”.
Trên đây là ba luận cứ chủ yếu của quan điểm phủ nhận Việt sử 5000
năm văn hiến, mà tôi đã chỉ ra sự vô lý của nó. Sự vô lý này được vạch
ra bởi những mâu thuẫn và bất cập ngay trong cấu trúc của những luận cứ
này và chưa cần phải đến các dẫn chứng phản biện hỗ trợ liên quan. Một
trong những thí dụ về bằng chứng phản biện hỗ trợ liên quan , cũng nằm
ngay trong cuốn Việt sử lược. Đó là đoạn xác định Việt Vương Câu Tiễn
(Thế kỷ thứ VI BC) sai sứ giả sang cầu Hùng Vương liên minh, lật đổ nhà
Chu, chiếm Trung Nguyên và bị vua Hùng phản bác.
Tất nhiên, những người có quan điểm phủ nhận truyền thống văn hóa sử
Việt – những học giả bằng cấp đầy mình đã lờ đi một cách vô liêm sỉ đoạn
văn bản này. Chỉ nội điều này cũng cho thấy họ hoàn toàn phi khoa học
khi “cậy đông” và quyền lực học thuật để áp đặt quan điểm của họ lên thế
hệ trẻ Việt Nam từ 20 năm qua. Bởi vì, chính đoạn bản văn này đã cho
thấy tính vô lý của sự áp đặt trắng trợn luận điểm cho rằng: “Thời Hùng
Vương chỉ là liên minh 15 bộ lạc , với địa bàn cư trú vỏn vẹn ở đồng
bằng Bắc Bộ”.
Vâng! Nếu đất nước Văn Lang chỉ là 15 bộ lạc và ở cách hàng mấy ngàn
cây lô mếch so với đất Việt của Việt Vương Câu Tiễn ở hạ lưu Bắc sông
Dương tử thì Việt Vương Câu Tiễn, một quốc gia hùng mạnh cuối thời Xuân
Thu, chẳng hơi đâu mà đến đặt vấn đề liên minh chống Trung Nguyên.
Cho nên thật là thảm hại cho cái nền khoa học Việt, khi những người
tự nhận là học giả, trí thức Việt – tàn là giáo sư, viện sĩ – nhân danh
khoa học phủ nhận gía trị văn hóa sử truyền thống Việt. Chính tính phi
học thuật và bất hợp lý của quan điểm này, được áp dung một cách phổ
biến trong xã hội và cả giáo dục, đã khiến gây trong tiềm thức các thế
hệ Việt nam một sự suy thoái về khả năng suy luận một cách hợp lý và làm
tàn lụi sự tiếp thu của các thế hệ tiếp nối nền văn minh Việt.
Bởi vậy, chẳng phải ngẫu nhiên, tôi đã từ lâu và nhiều lần xác định
rằng: Nền giáo dục Việt Nam sẽ không bao giờ có một cải cách thành công
để phát triển, chừng nào tư duy của các nhà cải cách còn phải chấp nhận
sự bất hợp lý về quan điểm phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt. Đừng
bao giờ hỏi tôi tại sao chỉ riêng bộ môn lịch sử phi lý lại có thể ảnh
hưởng đến toàn bộ sự phát triển gồm nhiều mặt của nền giáo dục Việt? Tôi
chỉ trả lời các người rằng: Không chỉ nền giáo dục Việt Nam, nền khoa
học Việt Nam đang tuyệt tự – điều này chính mọi người nhìn thấy và đã
được những học gỉa uy tín nói rất nhiều trên các báo mạng – mà hiệu ứng
của nó còn lan tỏa ra cả thế giới và chính nền khoa học thế giới đến nay
cũng đã bế tắc. Sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật ngày càng
tinh xảo, không nói lên được điều gì khi mà khoa học lý thuyết đã lâm
vào ngõ cụt. Thực tế đã chứng minh sự xác định từ lâu của tôi (Năm
2006), mà không cần phải biện minh.
4/ Xuyên tạc những gía trị văn hóa truyền thống Việt là hệ quả tiếp theo của sự phủ nhận cội nguồn truyền thống văn hóa sử Việt. Tất
nhiên của đám theo đóm ăn tàn, hòng kiếm chác một chút danh lợi. Nó
không phải luận cứ căn bản của “hầu hết những nhà khoa học trong nước”
và “cộng đồng khoa học quốc tế”. Đây chính là sự truy sát tận cùng của
họ với văn hóa truyền thống Việt. Bởi vậy, khi nền văn hóa truyền thống
của cả một dân tộc bị truy sát, thì với “hai thằng nhìn vào nhà” và khả
năng “truy sát ” Thiên Sứ chẳng là cái đinh gì.
Trong qúa trình minh chứng nhân danh khoa học một cách chính danh nền
văn hóa sử Việt, tôi không bao giờ lấy sự giải mã – tức là cách nhìn
chủ quan – cho những di sản văn hóa sử, Nhưng đám tư duy “ở trần đóng
khố” ấy một thời lu loa lên là Thiên Sứ mơ hồ khi dùng truyền thuyết và
thần thoại minh chứng văn hóa sử Việt trải gần 5000 năm văn hiến. Vì họ
cho rằng thần thoại và truyền thuyết là không đủ “cơ sở khoa học”. Nhưng
chính những kẻ theo đóm ăn tàn, ve chai lông vịt này lại ra sức giải mã
và xuyên tạc những di sản còn lại trong truyền thống văn hóa Việt. Tất
nhiên, nó được đám “hầu hết” ngoảnh mặt làm lơ. Bởi vậy, những bài viết
giải mã, phân tích văn học của đám này đầy trên các phương tiện thông
tin đại chúng.
Có thể nói rằng: Tất cả những luận điểm của đám tư duy “ở trần đóng khố”,
trong cái “hầu hết” và đám ve chai lông vịt, theo đóm ăn tàn này tôi đã
phản bác với những bài viết không mệt mỏi từ 15 năm qua. Tôi cũng đã
minh chứng nhân danh khoa học một cách chính danh theo đúng cách nói của
đám tư duy “Ở trần đóng khố” phủ nhận nền văn hiến Việt.
Hệ thống luận chứng của tôi hoàn toàn công khai, minh bạch qua những
sách đã xuất bản và các bài viết trên các trang mạng mà tôi đã tham gia.
Nhưng đối tượng phải biện minh hoàn toàn im lặng. Sự trả lời cho những
luận chứng chứng minh và phản biện của tôi với hành vi gần nhất là “Hai
thằng nhìn vào nhà đã hai ngày hôm nay” và khả năng “truy sát đến cùng”.
Phải chăng tôi đang làm một việc vô ích và chẳng giúp gì được cho nền
văn hóa sử truyền thống Việt mà tổ tiên đã gìn giữ truyền lại từ gần
5000 năm trước , cho đến tận bây giờ?
Phải chăng đã đến lúc tôi phải nhận thức được rằng: Tôi không thể
được có một cơ hội đối thoại nghiêm túc nhân danh khoa học của chính đám
tư duy “Ở trần đóng khố” phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt quảng
cáo.
Phải chăng vì khoa học không phải là bản chất của sự phủ nhận văn hóa sử truyền thống Việt, cho nền tôi không thể có cơ hội này?
Còn tiếp.
Saigon Ngày Tam Nương 3. 11. Quí Tỵ Việt lịch.
Hôm nay trên diễn đàn có hội viên Trần Phương đưa lên bài của ngài
Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – trong đó có đoạn:
Nhưng quan trọng hơn, cần phải có những “cú huých” đủ mạnh từ
phía luật pháp, chính sách và dư luận để làm cho xã hội tốt đẹp hơn, ở
đây tôi muốn kêu gọi cả sự thức tỉnh của đạo đức, của lương tâm để có sự
chuyển biến mạnh mẽ.
Những nội hàm của câu này cho thấy mọi vấn đề phải bắt đầu từ sự thức
tỉnh của đạo đức, lương tâm. Nhưng suy cho cùng thì những giá trị của
đạo đức và lương tâm trong một con người, một dân tộc và cả loài người
này không thể tự trên trời rơi xuống. Đó chính là những kết tinh của sự
giáo dục và những giá trị văn hóa truyền thống đã hình thành và được
lưu truyền trong cả một quá trình lịch sử của dân tộc đó. Tất nhiên, nó
phải có cội nguồn văn hóa sử để làm điểm dẫn xuyên suốt cả một quá
trình lưu truyền văn hóa sử truyền thống của họ.
Nhưng cội nguồn văn hóa sử của dân tộc Việt trải gần 5000 năm văn
hiến, lại bị một số kẻ tự nhận là học giả, trí thức có học hàm, học vị
và quyền lực học thuật phủ nhận, nhân danh khoa học.
Nhưng cho đến giờ này, tôi vẫn chưa lý giải được: Sự phủ nhận truyền
thống văn hóa sử Việt gần 5000 năm văn hiến nhân danh khoa học có thực
chất là khoa học, hay chỉ là một âm mưu chính trị.
Nếu thực chất khoa học thì nó phải được có sự công bằng khoa học tối
thiểu và những giả thuyết khoa học trái chiều phải có sự biện minh và
phản biện công khai. Nhưng từ năm 1992, tất cả các phương tiện thông tin
đại chúng trong nước cũng như quốc tế và cả sách giáo khoa, đều không
có một thông tin nào đầy đủ về những luận điểm phản biện sự phủ nhận
truyền thống văn hóa sử Việt và chứng minh Việt sử 5000 năm văn hiến.
Như vậy phải chăng những giả thuyết nhân danh khoa học của những người
phủ nhận Việt sử 5000 năm văn hiến là chân lý vĩnh cửu không được phép
phản biện? Trong khi chính họ không định nghĩa được khái niệm “cơ sở
khoa học ” của họ?
Vậy họ nhân danh cái gì để phủ nhân truyền thống văn hóa sử Việt với lich sử trải gần 5000 năm văn hiến?
Cũng trong bài viết trên của ngài Chủ Tích nước Công Hòa Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam xác định Đảng và Nhà Nước trong thể chế cầm quyền hiện
nay cho phép đóng góp ý kiến xây dựng – thì tôi nhân danh cá nhân –
thành thật khuyên các ngài hãy phực hưng lịch sử văn hóa truyền thống
Việt của dân tộc Việt – một cách khoa học, công bằng và công khai – như
là một việc cấp bách nhất hiện nay. Bởi vì, đó chính là cội nguồn và là
cơ sở của những giá trị đạo đức và lương tâm của người Việt – Điều được
cho rằng tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho dân tộc Việt, trong bài nói
trên.
Nhân bài của ngài Chủ tịch đăng trên web lyhocdongphuong.org.vn, nên tôi
có ý kiến này, nhân danh cá nhân và là ý kiến đến chung với bất cứ ai
trong những người có trách nhiệm trong thể chế cầm quyền. Tôi nghĩ rằng
việc phục hưng văn hoa sử truyền thống nhân danh khoa học, công bằng và
minh bạch trong nước và quốc tế – là trường hợp cụ thể ở Việt Nam – là
trách nhiệm của những người đang lãnh đạo thể chế cầm quyền và cũng của
bất cứ ai đã và đang, hoặc sẽ lãnh đạo của bất cứ dân tộc nào trên thế
giới. Bởi vì, đó là một trong những yếu tố cần thể hiện tính chính thống
của một thể chế cầm quyền – nếu xét về mặt chính trị.
Cá nhân tôi sẵn sàng chứng minh và phản biện trước những con người
được lựa chọn là tinh hoa của các hệ thống tri thức đại diện cho khoa
học, chính trị và cả tâm linh, tôn giáo – để xác định nền văn hiến Việt
trải gần 5000 năm lịch sử, một thời huy hoàng ở miến nam sông Dương tử
chính là chân lý. Hay nói rõ hơn: Việt sử 5000 năm văn hiến, một thời
huy hoàng ở miền nam sông Dương tử chính là một bộ phận cấu thành của
chân lý tuyệt đối và nó luôn là chân lý trong mọi lĩnh vực tư duy của
nhân loại, kể cả chính trị và tâm linh.
Tôi xác định rằng: Không có ngày Tận Thế 21. 12. 2012. Nhưng sự phủ
nhận những gía trị văn hóa sử truyền thống Việt chính là một thảm họa
khiến thế giới này sẽ tan rã trong một tương lai gần.
Tôi viết bài này trong ngày Tam nương – một điều kiêng cữ tuyệt đối
trong Lý học Đông phương. Là người nghiên cứu Lý học, tôi hiểu rất rõ
điều này. Nhưng tôi muốn dứt điểm vấn đề. Cho dù nó có thể rất tai hại
với tôi. Thí dụ như bị chết, hoặc tiếp tục với một sức ép nặng nề hơn.
Nguồn thiénulacviet.com
|
|
| |
|
|
|