Đỗ
Cận tên khai sinh là Đỗ Viễn, tự là Hữu Khác, hiệu là Phổ Sơn, sinh năm
Giáp Dần, niên hiệu Thiệu Bình năm thứ nhất (1434) đời Vua Lê Thái
Tông, quê ở Minh Đức, Phổ Yên, Thái Nguyên. Đỗ Cận đỗ tiến sỹ năm 1478,
trong lần thi đình, mến mộ tài năng của ông Vua Lê Thánh Tông đổi tên Đỗ
Viễn thành Đỗ Cận.
Theo
quan chế thời Hồng Đức (Ban hành năm 1472) những người như Tiến sỹ Đỗ
Cận buổi đầu bước vào quan trường chỉ được mang hàm Tòng Thất phẩm, chức
vụ chỉ được giao chức tri huyện hoặc chức Cấp sự trung-một chức vụ đứng
vị trí thứ hai ở một trong 6 khoa trong triều. Thế nhưng 5 năm sau khi làm quan, Đỗ Cận được cử làm Phó sứ trong phái đoàn sứ bộ nhà Lê sang cống nhà Minh,
bởi ông là người có học thức cao, ứng đối giỏi, có tài văn học và được
nhà vua quý mến. Trong đợt đi sứ nhà Minh này ông đã viết tác phẩm Kim
Lăng ký nổi tiếng- tập ký về phong tục, con người, cảnh vật đất Kim Lăng
thuộc Nam Kinh (kinh đô khi ấy của nhà Minh), nơi quản thúc cha con Hồ
Quý Ly. Tương truyền ông còn là tác giả truyện thơ Phan Trần nổi tiếng
viết bằng chữ Nôm được phổ biến cho đến ngày nay.
Trong
vòng 20 năm cống hiến và thăng tiến trên quan trường, từ một chức quan
nhỏ với hàm Tòng Thất phẩm, Đỗ Cận được làm Phó sứ "mang chuông đi đánh
xứ người", rồi làm Tham Nghị xứ Quảng Nam. Nhờ tài năng và sự cống hiến
của một hiền nhân quân tử, ông được làm tới chức Thượng thư đứng đầu 1
trong 6 bộ của triểu đình nhà Lê với hàm Tòng Nhị phẩm.
Không
chỉ là một vị quan đức độ, cần mẫn, tài năng, ông còn là thành viên của
Tao Đàn Nhị thập bát tú (28 ngôi sao của Tao Đàn)-Hội nhà thơ, nơi tập
hợp những nhà thơ tài năng nhất của nền thi ca cung đình phát triển rực
rỡ thời Hồng Đức do Vua Lê Thánh Tông sáng lập. Ông có những bài thơ như
Thái thạch vãn Bạc được so sánh cùng những bài thơ hay của thi nhân
trung Hoa. Ngưỡng mộ và biết ơn ông, sau khi Đỗ Cận mất nhân dân Phổ Yên
lập đền ngay chân núi Phổ Sơn để thờ phụng.