|
“NGƯỜI ĐẠI SỨ SUỐT ĐỜI”
Năm 2000, ông đã được
nhà nước Việt Nam
chính thức trao tặng hàm: Đại sứ suốt đời do Phó Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn
Thị Bình trao. Đây là thời gian ông là một trong 10 cán bộ ngoại giao Đầu tiên được
phong là Đại Sứ Suốt Đời.
Vậy ông là ai? và có
công lao gì mà vinh dự vậy?
Thật là một niềm tự hào
và vinh dự của Hội đồng họ Đậu Nghệ Tĩnh chúng ta nói riêng và những người con
xứ Nghệ Tĩnh chúng ta nói chung. Ông là Đậu Đình Phức. Ông sinh ngày 1 tháng 10
năm 1927 (1-10-1927) tại Thành phố Vinh tỉnh Nghệ An. Và lại có một ông Vũ Hắc
Bồng ở Vinh cũng được vinh dự đó. Như vậy nghĩa là 2 ông cùng được hàm Đại Sứ
Suốt Đời sao?
“Họ Đậu nói tiếng Nghệ
là dong nhà tôi”. Đó là lời khẳng định của ông Đậu Đình Phức mỗi khi gặp người
hỏi ông quê hương ở đâu thưa ông. Thế nhưng lại có ít người biết tên Phức là
ai? Bởi suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của ông lại xa quê bôn ba khắp nước từ
Việt Bắc đến Nam Bộ rồi sang trời Tây rồi miền Phi Châu và Châu Mỹ xa xôi. Sau
lại về Sài Gòn – Thành Phố Hồ Chí Minh hoa lệ của nước Việt.
Ông người tầm thước,
chỉ cao 1m63 thôi nhưng thật hóm hỉnh. Ông nói: cuộc đời mỗi con người đều có
những mốc lịch sử của đời mình. Nhưng đối với ông thì không chỉ có 1 mốc mà rất
nhiều mốc của các giai đoạn thật đặc biệt.
Mốc đầu tiên là vào năm
1946 đáng nhớ. Sau khi ông đi bộ đội một thời gian. Đến năm 1946 cấp trên lựa
chọn số cán bộ để đào tạo hoạt động bí mật cho cách mạng. Khi đó theo quy định
là hoạt động bí mật nên phải đổi họ tên khác cho từng người. Trong trung đội
mang bí số 13 của ông có rất nhiều người. Qui định chung là đổi ra họ Vũ và tên
thì mang một loại quả và đệm lót là một màu nào đó như: vàng, tím, xanh... Ông
do người hơi đen vả lại trong đám anh em không có ai nhận màu đen cả. Vậy là ông
lấy Hắc là đệm và mang tên Bồng là quả bưởi. Tên đầy đủ lúc này là Vũ Hắc Bồng
nghĩa là quả bưởi đen. Vũ Hắc Bồng chính thức biên chế trong trung đội 13 của Bộ
Tổng Tham mưu và tên họ này theo ông cho đến tận bây giờ vì rằng giấy tờ, bằng
khen, huân chương cho tới các điều liên quan giấy tờ khác phải thống nhất với tên
khai khi hoạt động. Từ đó, Vũ Hắc Bồng đi suột cuộc đời ông dù rằng năm nay
2012 ông đã 86 tuổi, ông vẫn cười vui hóm hỉnh: “Vinh và Hải Dương là ông Bồng
hôm nay”...
Có điều bất ngờ thú vị
mới đây ngày 1 tháng 10 năm 2012 tối về thăm Hải Dương và đi lễ Đền thờ Ngọc Hoàng
Thượng Đế ở Hưng Yên thì được các bô lão ở Hải Dương nhắc lại ông Bồng người
Vinh rất trân trọng. Có một gia đình cựu chiến binh nghe nói tôi người Nghệ liền
kéovề nhà uống nước và chỉ lên mấy tấm giấy khen treo trên tường tuy đã ố vàng
nhưng còn rõ nết và nói ông Bồng đây ! Tôi đọc Vũ Hắc Bồng ký khi ông làm tỉnh đội
trưởng tỉnh Hải Dương. Rồi ông kể thêm đây là người cùng đồng đội đã chỉ huy làm
nên “tiếng sấm đường 5” thời chống Pháp nổi tiếng. Thật là một con người thực đã
đi vào lòng dân, người lính vẫn nhớ mãi người cấp trên của mình, thật hạnh phúc
cho ông. Ông đã để lại ân tình cho đồng đội nên mới được thế chứ?
Cuộc đời ông có được
vinh dự lớn hôm nay là cả một chuỗi thời gian dài vừa âm thầm, vừa sôi động, vừa
bí mật vừa công khai với bản lĩnh của con người Việt Nam. Nói phạm vi hẹp hơn là bản lĩnh,
tính cách của người Nghệ trong ông luôn toả sáng, vững vàng chịu đựng mọi gian
khổ, hy sinh nhưng đậm tình người.
Một vinh hạnh khác của
ông là từ một người lính một sĩ quan quân đội Việt Nam ông đã được Bác Hồ ký lệnh
cử ông làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hoà Ghi-nê ngày 24 tháng 7 năm
1969 hai tháng trước khi Bác đi xa. Thế là từ nay ông vừa là quân sự vừa là nhà
ngoại giao một mốc chuyển trong cuộc đời.
Ban thi hành Hiệp định
đình chiến Nam bộ (gồm cả Pháp
và Việt Nam)
cứ 1 tuần 2 bên gặp nhau một lần tại thị trấn Phụng Hiệp.
Ban giám sát thi hành
hiệp định về phía Việt Nam:
Trưởng đoàn quân đội Việt Nam
là Ông Phạm Hùng. Trưởng đoàn Pháp là đại tá Le Duque (Duque) chỉ huy từng vùng
chiến sự của Pháp ở vùng Đông bằng sông Cửu Long.
Ông làm việc cùng ông
Phạm Hùng sau là Bí thư trung ương cục miền Nam rồi chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng,
là thời gian đầy ân tình cùng bà con nam bộ và Phụng Hiệp để rồi sau 5 năm lại
chia tay ra Bắc đầy lưu luyến. Kẻ nam người Bắc nhưng cùng chung trận tuyến của
nước nhà.
Khi ra Bắc sang Bộ
ngoại giao, ông làm việc tại vụ miền Nam với chức: Vụ Phó. Vụ Trưởng là Đại
tá Hà Văn Lâu sau là thứ trưởng Bộ ngoại giao. Có điều đáng chú ý là: quyết định
này do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký.
Từ 1961 ông mang quân
hàm Trung tá đến năm 1970 thì chuyển hẳn sang Bộ ngoại giao. 1961 là năm ông chính
thức vào ngành ngoại giao về mặt tổ chức: danh chính ngôn thuận. Còn thực chất ông
đã làm ngoại giao từ những năm 1954 rồi. Ông có cả quyết định do Đại tướng Võ
Nguyên Giáp ký. Đến đây tôi lại nhớ đến câu chuyện hòi năm 1991 – 1992 nhân
chuyến đi thăm Trung Quốc qua đường Lạng Sơn của Đại tướng. Trong cuộc gặp mặt
với lãnh đạo tỉnh Lạnh Sơn Đại tướng có hỏi đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ La Thăng: ở
đây có Thông tấn xã không? Đồng chí Bí thư báo cáo có một phân xã và cho xe đón
tôi vào phòng và được tiếp kiến với Đại tướng. Đại tướng thân mật nói về hướng đưa
tin và trao đổi tâm tình. Tôi dâng lên Đại tướng cuốn sách nói về các Sứ bộ Đại
Việt đi xứ xưa để tham khảo. Đại tướng rất vui và đến lúc rời Lạng Sơn để đi
Trung Quốc Đại tướng cho văn phòng đem trả tận tay. Thật chu đáo làm sao ! Đại
tướng hỏi đồng chí tên gia? Dạ thưa Đại tướng cháu là Đậu Quang Đệ, trưởng px
thông tấn xã Việt Nam
ở Lạng Sơn. À, đồng chí họ Đậu à. Tôi là con rể bà họ Đậu đấy. Bà Thư ấy. Quang
Thái là con gái bà. Và ngày trước hồi chống Pháp tôi có ký giấy cử đồng chí họ Đậu
đi trong đoàn Nam
tiến đầu tiên đấy. Khi tôi sang thăm Angôla đã gặp lại đồng chí đó đang làm đại
sứ của ta ở đó. Thế là tốt lắm. Trưởng thành trong chiến đấu lên đấy...
Thật là kỳ lạ nay ông
còn giữ được một bản giấy chứng nhận được cấp ngày 15 tháng 1 năm 1947 của Bộ tổng
tham mưu Bộ quốc phòng: “Tôi chứng nhận ông Vũ Hắc Bồng thực danh là Đậu Đình
Phức, cán bộ đặc biệt của trung đội cán bộ 13 thuộc Bộ tham mưu Quốc phòng. Vậy
cấp giấy này để làm tin. Đại diện Bộ tham mưu Quốc phòng, phụ trách trung đội cán
bộ đặc biệt - Hồng Lĩnh ký”.
Nói đầy đủ thì từ năm
1945 – 1946 ông hoạt động Việt minh ở Vinh rồi sau đó vào bộ đội từ những ngày đầu
năm 1946 với tên mới Vũ Hắc Bồng ông về làm huấn luyện quân sự của Bộ tổng tham
mưu quốc phòng. Sau đó ông lại được Bộ quốc phòng cử về làm tỉnh đội trưởng Hải
Dương từ năm 1947 – 1948 chiến đấu ở vùng địch hậu và đường số 5 Hà Nội - Hải
Phòng nổi tiếng. Đến năm 1949 lại một bước ngoặt mới ông được chọn vào đoàn quân
Nam
tiến. Đây là những đội quân nam tiến sớm nhất của quân đội ta. Ở Nam ông được giao làm phó ban tác huấn kiêm trưởng
ban dân quân Bộ tư lệnh miền Đông Nam bộ.
Khi Hiệp định Giơ –
ne vơ được ký kết thì ông lại được điều về làm ở Phái đoàn quân đội nhân dân Việt
Nam trong Ban thi hành Hiệp định đình chiến Nam bộ, sau điều ra Hà Nộ làm nhiệm
vụ đó trong Ban ở cấp Trung ương. Ông đã làm uỷ viên của Phái đoàn đại biểu Quân
đội nhân dân Việt Nam trong ban liên hiệp hai bên Việt – Pháp, quản lý khu phi
quân sự tại vĩ tuyến 17 Vĩnh Linh - Quảng Trị (1955- 1958). Lại được ra Hà Nội
làm việc rồi được Bộ quốc phòng biệt phái sang Bộ ngoại giao làm việc và mốc mới
lại đến.
Hồi làm ở cục dân quân
ông cùng với ông Trần Vỹ là chỉ huy sau này ông Trần Vỹ làm chủ tịch uỷ ban hành
chính Thành phố Hà Nội. Hồi ở Nam ông làm việc cùng ông Phạm Hùng – sau này là
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng - Thủ tướng chính phủ; ông Hoàng Văn Lợi sau này là
Thứ trưởng Bộ ngoại giao; ông Phan Trọng Tuệ tư lệnh Khu 8 sau này là phó Thủ tướng
chính phủ; ông Phạm Chung sau này làm phó văn phòng Trung ương Đảng, ông Nguyễn
Văn Long sau này là giám đốc Công an Hà Nội... ông nói và từng viết : “Có Hải Dương
tôi mới có ngày nay...”.Đúng ông trưởng thành ở Hải Dương từ một cán bộ quân sự
vững vàng rồi vào Nam càng tôi luyện cho ông để tiến lên làm cao hơn Bộ tư lệnh
miền Đông Nam bộ ở chiến khu Dương Minh Châu.
Tháng 8/1954 Khu uỷ
miền Đông và Bộ tư lệnh miền lựa chọn cán bộ cho việc giám sát thi hành hiệp định
giơ – ne vơ – là mặt trận đấu tranh mới của thời kỳ mới. Do có vốn tiếng Pháp,
có văn hoá đã qua trung học và các điều kiện khác ông được chọn vào nhiệm vụ mới.
Cuối tháng 8/1954 các cán bộ được chọn này đều tập trung về Phụng hiệp Cần Thơ
là địa điểm làm việc chung của Việt Nam và Pháp trong 300 ngày sau đình
chiến. Và cũng là thời điểm tập kết ra Bắc và vào Nam của ta. “1954 là năm di cư Việt
Nam”
là như vậy đó. Suốt thời gian ở nước ngoài 12 năm làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền:
Ở Ghi nê, Mali, Mauritania, Chi
lê, Ăngôla Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Đảng và Nhà nước giao.
Một vinh dự lớn của ông
đã được Nhà nước Chi lê tặng thưởng Huy chương cao quí nhất của Chi – lê nhân kỷ
niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Chi lê - Việt Nam (25-3-1971 –
25-3-2006): là Huy chương Bernado Ơ Higgins hạng Gran Cruz
Còn về chuyện riêng tư
gia đình thì sao?
Ông sinh ra ở Thành
phố Vinh mang tên Thành phố đỏ vào hoạt động ở Nam bộ cùng đoàn làm việc với ông
Phạm Hùng trên đường di chuyển về chiến khu. Đến Hà Tiên gặp nhau cô chiến sĩ
mang tên một loài hoa: hoa Cúc - Phạm Thị Cúc, người Thủ Đức Sài Gòn. Cô Cúc
tham gia quân ngũ trong quân báo lúc 16 tuổi. Cô là thư ký đánh máy của quân báo
Nam
bộ. Gặp nhau nhưng chỉ mới để ý thôi. Sau về chiến khu Dương Minh Châu mới gần
nhau và vun đắp tình yêu rồi hai người “tình trong như đã mặt ngoài còn e”... Rồi
ở chiến khu 1 đám cưới thật vui được tiến hành. Chủ hôn là Giáo sư Phạm Thiều
khi đó làm uỷ viên Uỷ ban Kháng chiến hành chính miền Đông Nam bộ. Bởi bố
của cô Cúc là học trò của Giáo sư khi ở Sài Gòn với bộ môn văn học Việt Nam và Hán nôm.
Sau này cô Cúc đi tập
kết ra Bắc – khi đang mang thai 6 tháng, đi bằng đường biển vào Sầm Sơn Thanh
Hoá sau 18 ngày vượt dông bão và cái rét mùa đông Bắc, về đơn vị. Sư đoàn 330 ở
chợ Bút, cô rất chịu khó và có quyết tâm cao. Từ một nhân viên lên kỹ sư điện tử
tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, chịu đựng gian khổ nuôi con để chồng công tác tốt.
Vốn là cô gái con gia đình trí thức Sài Gòn mà chịu đựng khắc nghiệt của miền Bắc
thật giỏi giang và nuôi 3 con tốt nghiệp Đại học thật xứng sức cống hiến của
Ba, má đã sinh thành.
Có những kỷ niệm: Con
trai đầu lấy tên Châu để kỷ niệm chiến khu Dương Minh Châu. Con gái thứ hai lấy
tên Nghệ Hà để kỷ niệm ngày gặp nhau của Ba má ở Hà Tiên với chàng trái xứ Nghệ.
Con trai thứ ba mang tên Quang là mong mỏi đến ngày vinh quang. Thật là ý nghĩa
thắm đượm tình sâu của con người, của Ba, má trong chiến cuộc.
Bà đã về hưu, với hơn
50 năm tuổi Đảng. Ông bà vui bên đàn cháu 5 đứa nội ngoại – ông đã bước vào tuổi
86 nhưng vẫn hóm hỉnh và suy ngẫm đường đời.
|
|
Nhà
báo: Đậu
Quang Đệ
Nhà
văn: Nguyễn
Thị Ngọc Hải
Xuân Nhâm Thìn –
2012
|
|