(Toquoc)-Thủy quân nhà Nguyễn và Triều Nguyễn phát triển mạnh, hình thành tư tưởng “lấy thủy binh làm trọng”.
Xem thêm: Dân binh đội Hoàng Sa và Bắc Hải - những thế hệ lính đảo đầu tiên
Trong
một cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông tổ chức tại Hà Nội tháng
11/2011, một học giả Trung Quốc nhận xét rằng vào các thế kỷ trước,
người Việt chỉ có thuyền câu nhỏ, không có khả năng tiếp cận Hoàng Sa và
Trường Sa, có chăng chỉ đến các đảo gần bờ!
Nhận
xét ấy thể hiện sự thiếu hiểu biết về năng lực hàng hải của nhà Nguyễn,
Vương triều Tây Sơn và Vương triều Nguyễn - những chính quyền Việt Nam
đã quản lý và khai thác các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
trong vòng 2 thế kỷ rưỡi từ đầu thế kỷ 17. Đúng là ngư dân Việt Nam,
cũng như ngư dân các nước Đông Nam Á khác và Trung Quốc, thường dùng
thuyền tam bản để đánh bắt hải sản trên các khu vực khác nhau của Biển
Đông. Nhưng hoạt động biển đảo của dân binh của các đội Hoàng Sa, Bắc
Hải đã có sự hậu thuẫn của những lực lượng hải quân mạnh của triều đình.

Chiến thuyền của thủy quân triều Nguyễn (mô phỏng)
Người Việt cổ thông thạo nghề biển và giỏi thủy chiến
Xa xưa hơn nữa, những
bằng chứng khảo cổ học cho phép khẳng định rằng cư dân cổ Việt Nam, ở cả
ba miền, đã thông thạo nghề biển. Vương quốc Phù Nam, thuộc đồng bằng
sông Cửu Long, với văn hóa Óc Eo làm cơ tầng, là vương quốc biển. Cư dân
Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam, cái nôi của người Việt cổ, từ 2000 năm
trước làm nông và đúc đồng cực giỏi. Họ cũng là những người đi biển
thành thạo. Các giáo đồng, rìu đồng của người Đông Sơn được phát hiện
dưới đáy biển ở khu vực Vũng Áng (thuộc Hà Tĩnh ngày nay). Người Đông
Sơn còn mang trống đồng đến các vùng biển xa hơn như Thái Lan và
Malaixia. Trống đồng minh khí từ Đông Sơn đã ngược lên phía Bắc đến tận
cửa sông Trường Giang, Trung Quốc. Khi khai quật khu mộ Thượng Mã Sơn ở
tỉnh Triết Giang, trong một ngôi mộ có niên đại cách đây gần 2000 năm,
bên cạnh những đồ tùy táng bản địa, các nhà khoa học Trung Quốc đã gặp
chiếc trống minh khí này và coi là sản phẩm do giao lưu văn hóa mà có.
Một số loại thuyền được khắc họa trên tang trống đồng Đông Sơn là thuyền
đi biển, chứa được nhiều người, có cả lầu thuyền.
Khi
Nguyễn Hoàng được cử vào trấn thủ Thuận Hóa, sự giao lưu hàng hải trên
con đường tơ lụa ngang qua Biển Đông đã phát triển phồn thịnh. Các chúa
Nguyễn thoát ly khỏi tư tưởng thủ cựu thời hậu Lê, đã nắm bắt vận hội,
lần đầu tiên sự thịnh vượng quốc gia tùy thuộc vào ngoại thương chứ
không chỉ nông nghiệp. Trong quá trình ấy, chính quyền đàng Trong tiếp
thu kỹ thuật đóng tàu Tây phương và xây dựng các đội thương thuyền và
chiến thuyền khá mạnh, phục vụ cho mở rộng giao thương với hải ngoại và
củng cố các đảo thuộc Hoàng Sa, Trường Sa vừa vì lý do kinh tế, vừa tạo
“phên dậu” cho đàng Trong.
Từ
đó, đàng Trong xuất hiện nhiều tướng lĩnh, thống soái thông thạo thủy
chiến. Nguyễn Phúc Nguyên lúc 22 tuổi (khoảng năm 1585) đã chỉ huy một
đội thủy quân đánh thắng 5 tàu của ngoại bang đến cướp phá vùng Cửa
Việt, được khen là “anh kiệt”. Năm 40 tuổi trấn thủ Quảng Nam, ông đã
xây dựng Hội An thành một đô thị quốc tế phồn thịnh. Chúa Nguyễn Phúc
Chu trong lần tiếp Thích Đại Sán, một nhà sư và nhà thám hiểm người
Trung Quốc cuối thế kỷ XVII, đã nói: “Các năm trước, thuyền ngoại dương
đến buôn, một năm chừng 6-7 chiếc, năm nay (1695) số thuyền lên đến
16-17 chiếc, trong nước nhờ đó tiêu dùng dư dật”. Lê Quý Đôn (1726-1784)
đã ghi chép lại hoạt động của thương thuyền nước ngoài tại đàng Trong
tại “Phủ biên tạp lục”, có đoạn viết: “Hàng hóa các nơi đều hội
tập về Hội An, vì thế người khách phương Bắc đều tụ tập ở đây để mua về
nước. Trước đây hàng hóa nhiều lắm, dù trăm chiếc tàu to chở cùng một
lúc cũng không hết được”.
Trong
các năm 1642-1643, người phương Tây đã thực hiện ba chiến dịch với 13
tàu chiến và khoảng 1.000 thủy binh tiến đánh chính quyền đàng Trong.
Nhưng tất cả đều bị thủy quân của các chúa Nguyễn đập tan. Được ghi chép
khá đầy đủ là sự kiện hải quân
chúa Nguyễn Phúc Lan đánh thắng đội chiến thuyền của Công ty Đông Ấn Hà
Lan tại cảng Eo (thuộc vùng Cửa Việt, sông Gianh) ngày 7-7-1643. Công ty
này là biểu tượng quyền lực “bất khả chiến bại” của hải quân thực dân
phương Tây đương thời. Theo “Đại Nam thực lục” thì trận này xảy ra năm 1644, nhưng Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” và Giáo sư Dương Kỵ trong “Việt sử khảo luận” thì ghi là năm 1643.
Đội chiến thuyền này do chúa Trịnh Tráng đàng Ngoài thuê người Hà Lan,
muốn mượn sức mạnh của người Hà Lan để phá hủy hạm đội của chúa Nguyễn.
Trận thủy chiến 1643 cũng được Giáo sĩ Alexandre de Rhodes ghi lại năm
1651 tại sách của ông ta “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài từ 1627 tới năm 1646”.
Hình thành tư tưởng quân sự “lấy thủy quân làm trọng”
Nguyễn
Huệ là một thống soái thủy quân xuất chúng. Chỉ riêng trận Rạch
Gầm-Xoài Mút (1/1785), trong một đêm, quân Tây Sơn đã tiêu diệt 2 vạn quân thủy và 300 chiến thuyền của quân Xiêm.

Thuyền bọc đồng thời Minh Mệnh được chạm trên Cao Đỉnh đặt tại Hoàng cung Huế
Sang
nửa thế kỷ đầu của Vương triều Nguyễn, nền hàng hải thuyền buồm và công
cuộc xây dựng hải quân Việt Nam đã thực sự khởi sắc, xây dựng “chiến
thuyền bọc đồng”. Quan trọng hơn cả, đã xuất hiện tư tưởng quân sự “lấy
thủy quân làm trọng”.
Năm
Gia Long thứ bảy (1809), nước Xiêm giao chiến với Miến Điện, yêu cầu
triều đình nhà Nguyễn xuất quân thủy bộ chi viện. Vua Gia Long nói:
“Thủy quân ta thì luôn luyện tập, nếu được sử dụng trong biển thì rất
tiện”.
Theo
chứng cứ của Barisy và Michel Đức Chagneau, hai người Pháp đã từng ở
Việt Nam dưới thời Nguyễn Phúc Ánh, thủy binh của triều đình có chừng
200 chiến hạm, mỗi chiếc có khoảng 16 đến 22 khẩu đại bác, 500 chiếc
thuyền nhỏ, mỗi chiếc có khoảng 40 đến 44 mái chèo, 100 thuyền lớn có 50
đến 70 mái chèo, có nhiều súng bắn đá và đại bác. Thủy quân có 17.600
người, trong đó có 1.200 người thuộc về 3 chiến hạm của người Pháp giúp.
Đến
thời Minh Mạng (1820-1840), hoạt động biển và phát triển sự nghiệp biển
đạt đến đỉnh cao trong thời kỳ phong kiến của Việt Nam. Dưới thời của
ông, nhiều hoạt động tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như đo đạc
hải trình, xây bia chủ quyền, dựng miếu, lập bản đồ… đã do thủy quân
triều định chịu trách nhiệm thực hiện. Ông từng nói: “Nay Trẫm đóng tàu
bọc đồng, muốn lợi dụng những nơi xung yếu ven biển để xây dựng nhà máy
để cất giữ những con tàu đó để lợi cho việc sử dụng khi cần”.
Nhà
vua tuyên bố: “Nước ta nhiều nơi ven biển, tàu thuyền thủy quân là quan
trọng nhất”. Ông ban bố nhiều quy chế nhằm chống cướp biển, giữ gìn an
ninh cho tàu thuyền hoạt động ven biển, giao thương trên biển, củng cố
chủ quyền biển đảo. Ông cho thực hiện 30 đợt công cán hải ngoại quy mô
lớn, tổng cộng khoảng 60 lượt tàu bọc đồng đến vùng Hạ Châu (Đông Nam Á)
và Tiểu Tây Dương (miền Đông Ấn Độ).
Vị vua thứ ba của triều Nguyễn là Thiệu Trị (1841-1847)
tiếp tục hoàn thiện quy chế tổ chức và đổi mới trang thiết bị cho đội
thủy quân triều đình. Vua cho học hỏi việc đóng tàu của phương Tây. Năm
1844, Tham tri Đào Trí Phú đi phương Tây mua một chiếc tàu máy hơi nước
trị giá hơn 280.000 quan tiền. Thiệu Trị cho phỏng theo, đóng một chiếc
thuyền máy mới. Thủy quân triều Nguyễn đã góp phần đắc lực trong việc
củng cố chủ quyền lãnh hải và biển đảo quốc gia của Việt Nam.
Tuy
vậy, các vua Nguyễn thiếu nhận thức cuộc công nghiệp lần thứ nhất tại
phương Tây tất yếu dẫn tới việc tìm kiếm và mở rộng thị trường thế giới.
Những năm 1830-1840 có rất nhiều thương thuyền của các nước phương Tây
đến Việt Nam. Chỉ tính riêng trong hai triều Gia Long và Minh Mạng,
triều đình đã khước từ hơn 30 đoàn ngoại giao của các nước phương Tây
muốn thiết lập quan hệ ngoại giao và buôn bán với Việt Nam. Trước vấn đề
“mở cửa” hay “đóng cửa”, các vua Nguyễn đã chọn giải pháp “bế quan tỏa
cảng”.
Ngăn được thương thuyền, nhưng không chống được pháo thuyền. Rốt cuộc, đời vua thứ tư Tự Đức làm mất nước./.
Có không ít sách cổ Trung Quốc đã ghi lại việc quy thuộc các đảo này vào An Nam. Trong phần tựa cuốn Hải Lục
(năm 1842) của tác giả Vương Bính Nam đã so sánh các điều mắt thấy tai
nghe do Tạ Thanh Cao, một thuỷ thủ Trung Quốc từng đi nhiều nước nhiều
vùng, kể lại: “Vạn lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm,
là phên dậu cuả An Nam”.