Ngày 30 tháng 3 năm 2013, đã bùng lên
hiện tượng học sinh lớp 12 trường Trung học Phổ thông Nguyễn Hiền (Thành
phố Hồ Chí Minh) đã đồng loạt xé đề cương ôn thi môn Lịch sử sau khi
nghe tin chính thức Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo môn Lịch sử không
được Bộ chọn là môn thi tốt nghiệp Trung học phổ thông.
Sự kiện “ vỡ bờ” này tuy không phản ánh đích thực về tình hình học sinh
học môn Lịch sử trên cả nước và cũng không thể gọi là đại diện cho tập
thể học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Hiền, nhưng đã gây “sốc” cho xã
hội, làm đau đớn cho các thầy cô giáo vốn tâm huyết với môn Lịch sử trên
cả nước và làm đồng nghiệp ở nước ngoài hết sức ngỡ ngàng.
Nguyên nhân dẫn đến “sự cố” đau lòng này là do đâu?
Đây là điều được Hội Khoa học Lịch sử
Việt Nam dự báo từ lâu và đã làm hết trách nhiệm của mình qua các lần
hội thảo phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, được Bộ thể hiện thiện chí
của mình nhằm cùng tìm biện pháp khắc phục cho môn học Lịch sử trong
trường phổ thông, nhưng không có hiệu quả .
Các em đã làm “vỡ bờ” là do bị sức ép kéo dài của môn học này mà các em
đã không thể chịu đựng hơn được nữa. Nhiều người cho rằng các em “vô ý
thức”, “ vô giáo dục”…theo tôi là không đúng. Còn Hiệu trưởng trường
THPT Nguyễn Hiền đã vội vàng cải chính và cho hành động của các em là “
trò nghịch ngợm”… Đó là điều không xác thực.
Tôi cho rằng, đây là vấn đề không
những có lỗi của người lớn mà lỗi của cả hệ thống, Bộ Giáo dục và Đào
tạo là người phải chịu trách nhiệm trước xã hội về sự sa sút của môn
Lịch sử của nhà trường hiện nay.
Nghịch lý của vấn đề do Bộ Giáo dục và Đào tạo từ lâu cho môn Lịch sử là
môn phụ? Do đối xử không công bằng giữa các môn học như vậy nên nhà
trường, học sinh không mấy quan tâm, thậm chí rất thờ ơ với môn Lịch sử,
số phận của hàng trăm thầy cô giáo dạy Sử cũng bị xem thường.
Đó là một thực tế sai lầm trong nhận
thức kéo quá dài mà ai cũng biết. Điều này không phù hợp với tình hình
giáo dục hiện nay đối với các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada…Cho
rằng môn Lịch sử không chỉ là môn học thuần tuý của nhà trường mà còn để
giáo dục nhân cách làm người, làm công dân yêu nước và hội nhập với thế
giới. Xem thường môn Lịch sử còn nghịch lý với truyền thống lịch sử
Việt Nam và tinh thần ham hiểu biết về lịch sử dân tộc của nhân dân ta.
Tôi cho rằng, không được giáo dục lịch
sử chu đáo cho thế hệ trẻ, chúng ta sẽ tạo ra cho xã hội tương lai một
thế hệ công dân mất gốc, thờ ơ với vận mệnh dân tộc, sẽ là nguyên nhân
dẫn đến mất nước nếu như có giặc ngoại xâm. Số phận của những trẻ mồ côi
không nơi nương tựa còn có xã hội cưu mang thì có thể sống được và trở
thành người tốt, nhưng nếu một thế hệ công dân mất gốc, mất ý thức về
dân tộc thì lấy gì để giữ được nước?
Hội thảo khoa học quốc gia Về dạy học
lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam, tổ chức tại Đà Nẵng vào tháng 8 năm
2012 dưới sự chủ trì của Thứ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Vinh
Hiển và Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam - GS.NGND Phan Huy Lê đã
quyết tâm đưa môn Lịch sử trở lại đúng vị thế vốn có trong nhà trường,
đã được giới Sử học và thầy cô giáo hết sức hoan nghênh, xã hội đặc biệt
quan tâm và tràn đầy hy vọng.
Đề xuất cho Định hướng phát triển giáo
dục phổ thông môn Lịch sử từ năm 2015, PGS.TS Nghiêm Đình Vỳ cho rằng:
“Thứ nhất, thiết kế chương trình và viết SGK phải coi môn Lịch sử là
một môn cơ bản, bắt buộc trong chương trình giáo dục phổ thông, có nhiệm
vụ chủ yếu giáo dục phẩm chất và năng lực con người Việt Nam đáp ứng
yêu cầu phát triển của đất nước” (tr.50).
Đại biểu là gần 500 thầy, cô giáo dạy môn Lịch sử ở trường phổ thông
khắp cả nước tham dự hội thảo này đã mang thông điệp về trao truyền cho
trường mình để cùng chia sẻ niềm vui về thành công của hội thảo. Đột
nhiên, năm đầu tiên sau hội thảo có ý nghĩa lịch sử này, Bộ Giáo dục và
Đào tạo tuyên bố không thi môn Lịch sử trong kỳ thi Tốt nghiệp THPT năm
học 2012-2013, làm những người tham gia hội thảo vào tháng 8 năm 2012
tại Đà Nẵng đều bàng hoàng, thất vọng và ngay sau đó xẩy ra “sự cố” học
sinh lớp 12 trường THTH Nguyễn Hiền xé đề cương ôn thi môn Lịch sử. Đó
là hậu quả của một nghịch lý sau khi trải qua nhiều nghịch lý kéo dài
nói trên.
Phát biểu chỉ đạo tại Hội thảo khoa
học quốc gia “Về dạy học Lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam”vào tháng 8
năm 2012 tại Đà Nẵng, Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho rằng: Ở trường
phổ thông đang đứng trước thời cơ và thách thức của một cuộc đổi mới dạy
học Lịch sử và Thứ trưởng đã lưu ý với hội nghị rằng:“ Trong toàn bộ
các nguyên nhân tác động qua lại dẫn đến chất lượng giáo dục lịch sử còn
hạn chế, chúng ta cần làm sáng tỏ những nguyên nhân quan trọng nhất” .
Trong nhiều nguyên nhân đã đưa đến hậu
quả đáng buồn của học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Hiền, tôi cho rằng
sách giáo khoa (SGK) là thủ phạm hàng đầu trong “sự cố lịch sử” này.
Tôi xin dẫn chứng một số đánh giá về
SGK môn Lịch sử ở trường phố thông hiện nay của các nhà Sử học, các thầy
cô giáo trong Hội thảo khoa học tại Đà Nẵng vừa qua đã được in trong
tập Kỷ yếu của hội thảo nói trên. GS. NGND Phan Huy Lê cho rằng: “ SGK
vẫn trình bày dàn trải, la liệt các sự kiện, rất nặng nề, nhàm chán”
(tr.8)... “ SGK Lịch sử phổ thông gần như tóm tắt sách sử của người lớn
để bắt học sinh học” (tr.10).
TS. Nguyễn Anh Dũng cũng có nhận xét:
“ Học sinh học chỉ để “hiểu biết” mà không trên cơ sở hiểu biết đó mà
vận dụng giải quyết những vấn đề trong học tập và cuộc sống” (tr. 34).
GS.TSKH Vũ Minh Giang đã đánh giá rất đúng thực trạng và hậu quả về SGK
môn Lịch sử hiện nay: “ Hầu như bất cứ một cuốn SGK Lịch sử nào cũng
ngồn ngộn sự kiện và đầy ắp những nhận định mà người học muốn được điểm
cao, không có cách nào khác là phải thuộc lòng” (tr.73), để rồi dẫn đến
nguyên nhân: “ khó lòng gây được sự ham thích của giới trẻ. Giỏi lắm là
khuyến khích thói học vẹt để có điểm cao. Thi xong thì quên hết”
(tr.70).
Về sự bất cập của SGK là điều ai cũng
nhận ra, nhưng đối với chương trình, thời lượng dành cho môn Lịch sử
cũng là vấn đề đáng bàn, GS.TS Đỗ Thanh Bình cho rằng: “ Một số bài
trong SGK, đặc biệt là phần Lịch sử Việt Nam có bài còn mang tính hàn
lâm, chưa hấp dẫn người dạy và người học, còn “nặng” dung lượng bài chưa
phù hợp với thời lượng dạy học” (tr.79).
GS.TS Nguyễn Quang Ngọc đã kịch liệt phê phán: “ Sự bố trí chương trình
trùng lặp là lý do dẫn đến sự nặng nề và nhàm chán cho cả người dạy lẫn
người học; dạy đi dạy lại, học tái học hồi, thế mà kết quả thu về chỉ là
một mớ kiến thức mông lung, hỗn độn và không có khả năng phân tích,
đánh giá, hệ thống, tổng hợp hay xử lý những vấn đề lịch sử cụ thể”
(tr.92)…
Và đây là ý kiến phản hồi của những
người đã thực hiện nhiệm vụ của mình qua SGK. Cô giáo Lê Thị Thu Hương
sau nhiều năm dạy môn Lịch sử lớp 12, trường Chu Văn An, Hà Nội cho
rằng: “ Chỉ riêng nhớ đầy đủ tên các hội nghị học sinh đã cảm thấy khó
khăn, huống chi ở mỗi hội nghị đó học sinh phải nắm được hoàn cảnh, nội
dung cơ bản và ý nghĩa của mỗi đại hội, hội nghị đó.
Trong thực tế hiện nay dạy học gắn với
thực tiễn, phải biết dùng kiến thức lịch sử của quá khứ để áp dụng vào
hiện tại nhằm xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn thì các kiến thức lịch
sử trong SGK chưa đáp ứng được với sự phát triển của xã hội hiện tại”
(tr. 402).
Thạc sĩ Tống Lê Mỹ Linh - Tổ trưởng tổ
bộ môn Lịch sử, trường THPT Chuyên Lam Sơn (thành phố Thanh Hóa), cho
biết: “Khi biết việc các em học sinh ở TP HCM xé tài liệu ôn tập môn Sử
sau khi Bộ GD-ĐT công bố 6 môn thi Tốt nghiệp THPT thì không chỉ riêng
tôi mà nhiều giáo viên khác đều cảm thấy buồn về sự việc trên”. Theo cô
giáo Mỹ Linh: “Do môn Sử có chương trình học rất lớn, nhiều kiến thức,
cũng như nhiều sự kiện cần phải học từ đó khiến các em học sinh không
mấy mặn mà với môn học này nên không thể học hết và có thể nhớ hết được
chương trình ” .
Giáo viên Lịch sử, Trường THPT chuyên
Phan Bội Châu (Nghệ An), Trần Trung Hiếu, người có kinh nghiệm 20 năm
dạy Sử và cũng ngần ấy thời gian trực tiếp bồi dưỡng học sinh thi tốt
nghiệp, thi đại học môn Lịch sử - cho biết:
"Thầy thật sự rất buồn trước thực trạng dạy học, thi cử môn Lịch sử
trong những năm gần đây. Thầy Hiếu cho rằng ngành giáo dục phải chịu
trách nhiệm chính về cái kiểu thi gì, học nấy, không học, không thi dẫn
đến tình trạng đáng buồn là học trò xé đề cương môn không phải thi tốt
nghiệp THPT. Từ đáy lòng mình, thầy giáo Trần Trung Hiếu thừa nhận một
thực tế đáng buồn trong nhà trường hiện nay: “ Tôi xin khẳng định lại
một lần nữa: Môn Sử vẫn là môn học bị xem thường nhất trong hệ thống
giáo dục phổ thông hiện nay" .
Sau “sự cố” học sinh xé đề cương ôn
tập môn Lịch sử vì không thi tốt nghiệp tại trường THPT Nguyễn Hiền,
GS.TS Đào Trọng Thi - Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Thanh niên, thiếu niên và
nhi đồng Quốc hội cho rằng làm như thế là phản cảm và cho rằng: “Riêng
với môn Sử thì đang là điểm nóng cần phải thay đổi về chương trình,
phương pháp, nội dung để hấp dẫn học sinh và có hiệu quả cung cấp kiến
thức với lối sống hiện đại. Không nhất thiết phải nhớ từng con số mà
phải giúp học sinh hiểu được ý nghĩa, đánh giá giá trị của sự kiện nào
đó” .
Việc biên soạn SGK môn Lịch sử đã quá
lạc hậu không những so với nhiều nước trên thế giới mà ngay đối với môn
Địa lý Việt Nam lớp 12 cũng là vấn đề đáng bàn.
Môn Lịch sử và Địa lý lớp 12 gần gũi
và tương thích với nhau, có thời lượng như nhau, nên Bộ chọn một trong
hai môn này để cho học sinh lớp 12 thi Tốt nghiệp (mà đúng ra là nên cho
học sinh tự chọn một trong hai môn nói trên) , nhưng so sánh 2 cuốn
sách giáo khoa thì quá chênh lệch .
Về hình thức, trình bày: Sách Lịch sử
dày 224 trang, sách Địa lý dày 208 trang, nếu chương trình 52 tiết/năm
học thì trung bình 1 tiết học phải tiếp nhận hơn 4 trang SGK môn Lịch sử
với chi chít chữ nghĩa là quá nặng nề. Sách Lịch sử chỉ có 2 màu đen và
xanh lá cây; trong khi sách Địa lý có 8 màu: đen, đỏ, vàng, hồng, nâu,
xanh đậm, xanh nhạt, xanh lá cây, xanh chuối.
Về minh hoạ trực quan, sách Lịch sử
chỉ có hai loại là bản đồ và ảnh, lại xấu và ít, hình ảnh bị mờ, nhoè,
không diễn đạt được nội dung, đem lại sự khó chịu, phản cảm cho người
đọc, còn lại là những trang chữ dày đặc ; trong khi sách Địa lý ngoài
bản đồ và ảnh còn có biểu đồ, sơ đồ, bảng biểu, mô hình…được chọn lọc
rất đặc trưng và màu sắc hấp dẫn .
Như vậy, ngay từ hình thức, SGK môn
Lịch sử đã thiếu hấp dẫn cả người dạy lẫn người học. Đây cũng là nguyên
nhân về sự phân hoá đối với học sinh lớp 12 trong việc chọn khối, ngành
và môn thi vào đại học và là sự phản ứng tức thời của học sinh lớp 12
sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định “bỏ” môn Lịch sử trong kỳ thi
tốt nghiệp năm nay (2013).
Về nội dung SGK Lịch sử cũng hết sức
nhàm chán, khô khan, nặng nề về sự kiện, nội dung vừa thừa vừa thiếu,
người soạn SGK và câu hỏi bài tập chỉ chú trọng đến bắt học sinh thuộc
bài hơn là tư duy, sáng tạo để vận dụng trong thực tiễn đã làm cho người
học chán nản, bỏ học. Em nào chịu khó học thì phải “đóng gông trí nhớ”
hết sức tội nghiệp mới có thể đạt được điểm cao. Tôi xin dẫn ra một số
nhận xét về nội dung SGK để thấy rõ hơn.
GS. NGND Phan Huy Lê cho rằng: “Phần
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XIX (lớp 6-7 và 10), ngoài
các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, mục tình hình kinh tế, xã hội, văn
hoá cứ lặp lại thời kỳ này đến thời kỳ khác theo lối dàn trải mà không
nêu bật lên được những thành tựu, tiến bộ tiêu biểu của mỗi thời kỳ.
Phần Lịch sử Việt Nam từ giữa thế kỷ
XIX đến năm 1975 (lớp 8-9 và 11-12) lại nặng về kháng chiến chống Pháp,
phong trào yêu nước, phong trào cách mạng, hai cuộc kháng chiến
(1945-1975) cùng một số chuyển biến kinh tế-xã hội nhất định, còn những
biến đổi về tư tưởng, phát triển văn hoá rất mờ nhat. Từ năm 1975 đến
năm 2000 thì trình bày theo các kế hoạch 5 năm, không nêu bật những nét
tiêu biểu “ (tr. 10).
Lịch sử là một dòng chảy không ngừng,
nếu cắt đoạn lịch sử ra từng 5 năm theo nhiệm kỳ đại hội thì không còn
lịch sử nữa và cuốn SGK này không còn là SGK của lịch sử. Vì lịch sử có
quá trình vận động theo quy luật của nó, có thời gian, không gian, con
người, sự kiện. SGK này đã không thể hiện đúng là một SGK lịch sử với
tiêu chí của nó"
.
GS.TS Đỗ Thanh Bình đã mạnh dạn đề
nghị: “ Lược bỏ đi những chi tiết phức tạp hay những nội dung lịch sử
“khó” và “khô” khi phải dạy chi tiết các kế hoạch 5 năm, hay nội dung
các Đại hội Đảng lớp 12 nặng về chính trị. Chẳng trò nào hứng thú nhớ
được những chi tiết này, thành thử các em “sợ” học Sử”.
Cô giáo Lê Thị Thu Hương khi soạn bài
giảng cho học sinh lớp 12 dựa trên SGK hiện hành cũng nghiệm ra rằng: “
Cách viết như hiện nay khiến người đọc có cảm giác mang nặng tính lý
luận, có nhiều vấn đề cả người dạy và người học có cảm nhận như đang dạy
và học lịch sử Đảng (mặc dù Đảng và dân tộc không tách rời nhau)”
(tr.401).
Việc biến lịch sử Việt Nam hiện đại
thành một sản phẩm chủ quan của người soạn thảo chương trình, người soạn
SGK và nặng nề về số liệu không thể tiêu hoá được là nguyên nhân dẫn
đến sự “kinh sợ” của người học Sử và đọc Sử hiện nay.
Trong chương trình phổ thông có nhiều “môn phụ” bị học sinh “coi
thường”, nhưng “môn phụ” làm cho học sinh đáng sợ nhất khi bắt buộc phải
học và thi đó là môn Lịch sử, chính là do SGK của môn này. Nếu như tăng
giờ học môn Lịch sử hoặc Sử trở thành môn cơ bản, bắt buộc trong nhà
trường mà với bộ SGK đang có, thì tôi cho rằng: Môn Lịch sử không còn
mấy ai yêu thích nữa, sẽ dẫn đến sự xa lánh lịch sử là một thảm hoạ của
đất nước.
Nhận thức đúng đắn về môn Lịch sử
trong nhà trường để có chủ trương thích hơp cùng với đổi mới chương
trình và SGK, hiện đại hoá về công cụ trao truyền môn Lịch sử sẽ làm
người dạy hứng thú, sáng tạo và người học sẽ yêu thích, đam mê. Môn Lịch
sử không cần ai trợ giúp, tự nó sẽ có chỗ đứng đàng hoàng, tự tin trong
nhà trường và xã hội.