"Lòng chẳng mắc tham..."
Với vốn kiến thức uyên bác, luôn tự đòi hỏi mình phải có sáng tạo
riêng, phải tìm kiếm điều mới lạ, sau nửa thế kỷ như là triền miên hành
xác, GS Nguyễn Huệ Chi đã làm nên cả một vệt công trình ông chắt lọc
từng giọt một, từ tim óc mà ra.
Đưa vào sách chưa hết, gọi tên là "Văn học cổ-cận đại Việt Nam từ góc
nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật", đã dầy hơn 1000 trang. Mất ba năm
chờ đợi vì lý do chẳng liên quan gì đến nội dung, sách đã được NXB Giáo
dục Việt Nam cho ra mắt bạn đọc gần đây.
Vị GS tóc bạc nửa đầu cả đời cực nhọc như người leo núi tìm kho báu
cho đời, mà vẫn nghèo, chức vị chỉ làng nhàng. Thế mà ông lúc nào cũng
thong dong tươi tỉnh như không. Hẳn là do ông cả đời nâng niu, gìn giữ,
đưa dẫn mọi người đến đền đài văn thơ của ông cha mà ngắm nghía để nhận
ra nhau và nhận ra mình, nên được ông cha ta hiển linh dậy bảo, nêu
gương, dìu đỡ mà vượt lên được chính mình, tránh xa cạm bẫy tục lụy, để
có tâm sáng, sức bền theo đuổi ước vọng mà làm ra công quả cho đời.
Lòng chẳng mắc tham là của báu
Người mà hết lụy ấy thần tiên!
(Nguyễn Trãi.Tự thán)
 |
| Ảnh: Kiên Trung |
Ngược thời gian, sống với vĩ nhân
Theo dẫn dắt của GS Nguyễn Huệ Chi, người đọc cứ thế thả mình theo
mênh mang dào dạt, lấp lánh muôn ngàn màu sắc, ngân rung vô vàn âm
điệu-dòng sông thơ văn của ông cha ta dằng dặc miên man mười thế kỷ. Có
cảm giác mình đang du hành ngược thời gian, sung sướng yên bình khó tả,
như là đang được sống với ông cha thời Đại Việt lừng lững cao ngang tầm
thời đại; rất đỗi nhân từ, khoan dung mà khí chất ngoan cường, bất
khuất; trí tuệ siêu việt mà con tim nghệ sĩ rất dễ rung ngân...
Các thế hệ ông cha thời ấy kế thừa cả truyền thống Việt nẩy nở từ
thời dựng nước, hun đúc trong suốt nghìn năm sau đó chống đô hộ và đồng
hóa cưỡng bức văn hóa của các đế chế Trung Hoa. Truyền thống Việt, như
các nhà nghiên cứu đã diễn giải, là tầng nền, cũng là bộ lọc mà ông cha
ta ở kỷ nguyên Đại Việt độc lập dùng để chắt lọc lấy các yếu tố tương
thích, từ các luồng tư tương, văn hóa đến từ Ấn Độ, Trung Hoa ... và
tích hợp với truyền thống thuần Việt mà thành công cụ tư tưởng Đại Việt
soi sáng cho kiến tạo mọi mặt văn minh: chính trị, luật pháp, đời sống
vật chất, đạo lý dân tộc, phong tục, văn thơ, nghệ thuật...Hệ giá trị
Việt đẹp đẽ, bền vững, được phục hưng và thêm mới mẻ.
Trước hết, về chính trị. Từ thời Khúc Thừa Dụ giành lại được chủ
quyền dân tộc, và các triều Đinh, Tiền Lê tiếp nối, chính trị đã "khoan
dung giản dị", cốt sao "Trăm dân đều được yên vui".(Cương mục). Hai
triều Lý, Trần trị nước khoan dung, chăm lo sức dân, nhẹ thuế khóa, hình
ngục; dân các tộc thiểu số cũng theo về.
Tư tưởng chính trị ấy, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, lúc lâm chung,
cô đúc thành lời dặn lại vua Trần Anh Tông: "Khoan thư sức dân để làm
kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách để giữ nước!"(Toàn thư). Thật lòng
trọng dân như gốc nước, nên giặc đến, vua và đông đảo quần thần có chí
kháng chiến rồi, vẫn mời bô lão đến điện Diên Hồng, như là dành cho dân
quyền "phúc quyết". Các bô lão đồng thanh hô:"Đánh!".
Đủ thấy, đó là một nền chính trị cốt lõi nhân văn, để làm phương tiện
kiến tạo mọi mặt đời sống sâu đậm tính nhân văn. Nhân văn thì hàm chứa
cả Đức, Nghĩa, Nhân. Nên Lê Lợi-Nguyễn Trãi cùng tướng sĩ, nhân dân Đại
Việt đã có thể "Lấy đại nghĩa thắng hung tàn. Đem chí nhân thay cường
bạo"(Bình Ngô đại cáo). Dứt binh đao, thì "mở lượng hiếu sinh", tha
mạng cho mấy vạn binh tướng quân Minh bại trận, cấp cho thuyền, ngựa,
lương thảo mà về xứ bắc.
Đem đối sánh chính trị Đại Việt với chính trị nhà Đường, vua Trần Thái Tông làm nổi bật khác biệt một trời một vực:
Đường, Việt mở triều, hai Thái Tông
Ngươi xưng Trịnh Quán, ta: Nguyên Phong
Kiến Thành ngươi giết, An Sinh sống
Miếu hiệu giống nhau, Đức bất đồng!
( Kiến Thành anh ruột Đường Thái Tông nổi loạn tranh ngôi, bị giết.
An Sinh Vương Trần Liễu-anh ruột Trần Thái Tông dấy binh tranh ngôi,
được dung tha). Hai nền chính trị hai láng giềng kề cận, bên nước nhỏ
thì Đức, Nghĩa, Nhân; bên nước lớn thì thất đức, tất sinh bất nghĩa, bất
nhân, cường bạo, lấy thịt đè người. Khác biệt như nước với lửa, làm sao
có thể tương đồng ? Quả nhiên ở thời Trần, quân dân Đại Việt đã phải
lấy binh đao mà dập tắt ba cơn binh lửa đến từ đế chế Nguyên-Mông.
Thứ đến văn thơ. Chính là tư tưởng Việt, đạo lý Việt làm nên hồn cốt
cho cả dòng chảy nghìn năm văn chương thơ phú. GS Nguyễn Huệ Chi và giới
nghiên cứu đã chứng nghiệm rằng, Tinh thần (chủ nghĩa) yêu nước và Tinh
thần (chủ nghĩa) nhân đạo là Tư tưởng thẩm mỹ cốt lõi của thơ văn
cổ-cận đại nước nhà. Yêu nước, nhân đạo là giá trị phổ quát của toàn
nhân loại. Ở nước ta thì nỗi niềm yêu nước, thương người trở thành âm
hưởng chủ đạo, bao trùm đời sống thơ văn phong phú, lắm vẻ cả loại, thể
lẫn phong cách, thi pháp riêng mỗi nghệ sĩ ngôn từ.
Thông điệp của Đức Phật hoàng
Kỷ nguyên Đại Việt đã hun đúc, đã kết lắng tinh hoa đỉnh cao chói
sáng nhất, hội tụ vào vĩ nhân hiếm lạ: vua Nhân Tông Trần Khâm
(1258-1308)-Nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà thiền học, nhà thơ.
Là nhà chính trị, khi làm vua, Người thành bậc quân vương nhân từ,
anh minh, thành Anh hùng dân tộc, hai lần xông pha trận mạc cùng quân
dân Đại Việt đại thắng quân xâm lược Nguyên-Mông.
Làm thơ, Người thành nhà thơ lớn, ở tầm một thi bá đương thời.
Là nhà thiền học, Người đã làm viên mãn một công quả lớn có tầm ảnh
hưởng đến vận mệnh quốc gia: Khai sinh Thiền phái Trúc Lâm cho Đại Việt,
được dân tôn là Phật hoàng.
Đường Thiền với Trần Nhân Tông, hiếm lạ thay, là đường thoát tục mà
không thoát tục-đó là đường trở về với dân với nước theo một phương
hướng khác: hướng tâm linh.
Người trút bỏ vinh hoa phú quí nhẹ như Người nói: trút bỏ đôi giầy
rách, lên non Yên Tử , lấy tên Thiền là Điều Ngự, làm một đầu đà đi xin
ăn mà tu tập. Nhưng nỗi niềm dân nước (như máu trong tim chỉ khi thân
thành cát bụi mới có thể coi là trút bỏ), thì lại ngăn Người trước nẻo
đường Thiền chật hẹp dẫn tới siêu thoát lấy một mình, để hướng Người trở
về dẫn dắt toàn dân Đại Việt cùng Người chọn đường lớn mà cùng đi tới
cõi Thiền.
Người đã tĩnh tâm tác tạo "cỗ xe Thiền" sao cho vừa vặn với "hình
thể" tâm thức-tâm linh người Việt, lại khai mở đường Thiền rộng rãi
thuận tiện cho dân Đại Việt dễ đi mà đến. Cỗ xe Thiền ấy cùng đường
Thiền ấy hội lại làm nên Thiền phái Trúc Lâm riêng cho xứ sở chúng ta.
Tôn chỉ Trúc Lâm, thì phải chăng, Đức Phật hoàng đã cô đúc thành bốn
chữ lấy làm tiêu đề bài phú của Người: "Cư trần lạc đạo". Dân Việt cứ
sinh sống làm ăn, sinh con đẻ cái dưới mái nhà mình, cần chi xuất gia tu
ở chùa chiền. Bởi chúng sinh đã sẵn mang Phật tính, là "Phật đang
thành", nên cứ tự nghiệm từ vạn vật vô thường (biến đổi luôn luôn) mà
suy, để ngộ ra cái đạo lý hằng thường (không biến đổi) vô ảnh vô hình mà
quyền năng vô biên, thế là đến bến bờ an lạc, thì sẽ thấy Phật luôn
luôn trước mắt.
Thiền phái Trúc Lâm vậy là không thoát tục, mà là Thiền nhập thế,
Thiền hành động, Thiền ở đời thường và cho đời thường dân chúng. Tu
Thiền khó đấy mà nào có khó gì.
Và để nêu gương cho chúng dân nhìn thấy mà tự nghiệm để dần dà giác
ngộ đạo Thiền Đại Việt, Người lấy tâm nhàn mà đem thân bôn ba vân du
khắp nơi thuyết giảng. Có lúc về kinh luận bàn quốc sự và Thiền. Có khi
viễn du tận phương nam phủ dụ vua Chiêm bỏ ngai vàng đưa dân Chiêm hòa
nhập cộng đồng Đại Việt...
Công quả lớn viên mãn, Người thành Tổ thứ nhất Thiền phái Trúc Lâm,
kịp thời khắc Người viên tịch nơi non xanh Yên Tử, giữa đêm sao sáng
rực, trong am Ngọa Vân thanh vắng, bên Người chỉ có một đệ tử mà thôi.
Đến lượt công quả ấy là nhân, sinh ra công quả lớn khác. Đường Thiền
Trúc Lâm kết nối nhân tâm cả nước với nhiều sắc tộc, tụ hội nơi thế giới
tâm linh Đại Việt, để cùng nhau giữ gìn và hưng thịnh quốc gia.
Thật khó tìm kiếm trong thư tịch, thông điệp thành văn cô đọng mà Đức
Phật hoàng để lại cho chúng sinh từ vua quan cho đến thứ dân. Chợt hiểu
ra: Tấm gương sống ở thế gian của Trần Nhân Tông, cao vòi vọi, như ngọc
trong ngời tỏa hào quang, mới là Thông điệp vẹn tròn của ông cha ta để
lại cho muôn đời.
Đó là Tấm gương linh diệu. Mọi chúng sinh có tâm hướng Thiện soi vào,
sẽ thấy tâm thêm sáng, thân thêm sinh khí, trí thêm mẫn tuệ.
Gương ấy cũng là Kính chiếu yêu.
Tiếng núi sông, tiếng sóng...
Trong mạch nguồn nghệ thuật thời đại Hùng Vương, thật ấn tượng, khi
ngắm pho tượng bán thân thiếu nữ Lạc Việt tóc tết đuôi sam, hay hình
khắc chìm chàng trai đóng khố cới trần, con trâu nghênh sừng ngồ ngộ,
rất giầu sức sống. Những hình tượng đẹp của đời sống thanh bình mộc mạc
và hồn nhiên ấy, thật lạ, lại đem trang trí trên vũ khí-làm cán dao
găm, khắc trên thân rìu chiến đồng thau. Chính là những hiện vật độc
đáo này "mã hóa" tài tình thông điệp của Tổ tiên ta. Đó là Tuyên ngôn
hòa bình và chiến trận. Rằng: dân Việt khao khát thanh bình để làm ăn
sinh sống, sinh nở giống nòi, sáng tạo văn minh, nghệ thuật, vui chơi...
trên xứ sở sinh tồn mà mình làm chủ. Nhưng một khi những giá trị thiêng
liêng ấy bị giặc ngoài xâm phạm, thì buộc phải cầm vũ khí đứng lên,
đánh đuổi! Còn các chiến cụ đồ đồng thời Chiến quốc bên Trung Quốc, thấy
trang trí mặt hổ phù hùng hổ hoặc sư tử nhe nanh dữ tợn, kích thích máu
hiếu chiến và hiếu sát.
Hùng tráng thay (nhưng cũng bất hạnh thay), sông núi Việt, dân tộc
Việt trong những nghìn năm sinh tồn sau thời dựng nước, đã lại phải lắm
phen cất lên vang động đất trời Tuyên ngôn hòa bình và chiến trận Tổ
tiên.
Hai Bà Trưng thề trước cờ nghĩa: Một xin rửa sạch quốc thù/
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng...
Lý Thường Kiệt tuyên ngôn đầy khí phách Nam quốc sơn hà...Và Cáo bình
Ngô của Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Và Quang Trung Nguyễn Huệ ra Hịch trong lễ
"thệ sư": Đánh cho để đen răng/ Đánh cho để dài tóc... /Đánh cho sở tri
Nam quốc anh hùng chi hữu chủ!
...
Trong âm vang hùng tráng của sông núi nghìn năm vọng vào tâm thức,
nay nghe ầm ì tiếng sóng Biển Đông ngày đêm dội về từ Hoàng Sa, Trường
Sa máu thịt của Tổ quốc chúng ta!
Theo tuanvietnam.vn