|
Chuyện
kể về hoạt động của các dòng họ ở khắp nơi
MÓN QUÀ TINH THẦN CÓ Ý NGHĨA
TRONG
NGÀY GIỖ HỌ
Đình Tuệ
(Hội Cựu Giáo chức TH)
Tôi
quen biết anh Hữu Minh (một cây viết thường xuyên của trang mạng
Họ
Đỗ Việt Nam)
đã lâu, vì vốn là đồng nghiệp. Nhưng từ sau khi nghỉ hưu thì tình bạn giữa
chúng tôi có vẻ như là càng gắn bó hơn trước, có lẽ vì hai chúng tôi cùng có
một nhu cầu tinh thần, một đam mê “bẩm sinh”, là cùng hướng về những hoạt động
tình nghĩa, tri ân với tổ tiên, gia đình và họ tộc. Tôi còn nhớ một kỷ niệm khó
quên của chúng tôi khi tham gia các hoạt động này trong hai năm trước đây. Đó
là dịp dòng họ Đỗ Hữu (gốc Hậu Lộc) của anh tiến hành tôn tạo lại Nhà Thờ Họ.
Ngoài những góp ý chung về những định hướng cho công việc, bằng những điều mà
tôi đã trải nghiệm trước anh, tôi đã đích thân cùng anh đi tham quan và gặp gỡ
các vị chủ trì dòng họ tại các Nhà Thờ Họ trên nhiều địa bàn khác nhau trong
tỉnh. Có lẽ nhờ vậy mà dòng họ của anh đã nhanh chóng hoàn thành được suôn sẻ, ít lúng
túng việc tôn tạo Nhà Thờ Họ, đúng với dự kiến, vừa đáp ứng được ý tưởng chung
của dòng họ, lại vừa hợp với khả năng tài chính của bà con. Rồi một năm sau đó,
nhân dịp Nhà Thờ Họ của anh khánh thành, tôi đã viết tặng dòng họ anh hai đôi
câu đối Hán nôm khá hay, hiện nay vẫn đang được treo hoặc lưu trữ tại Nhà Thờ đó.
Vừa rồi đây, nhân dịp dòng họ Đỗ Hữu của anh chuẩn bị làm giỗ (12/5 âm lịch),
anh có đưa cho tôi xem một tập các bài viết, bài thơ mà anh bảo là do chú cháu
anh sưu tầm và biên tập để dóng thành sách tặng bà con trong dịp Giỗ này.
Tập sách có tiêu đề GIA ĐÌNH BỀN VỮNG – DÒNG HỌ HƯNG THỊNH *. Nội dung tập sách gồm có 3 bài
viết và 2 bài thơ.
Ba
bài viết là : - Lại nói chuyện Văn Hóa Gia Đình (nhân ngày Gia đình
Việt Nam 28/6). Tác gỉả (Tg) : Hữu Minh.
- Cần nhìn lại để thay đổi cho tốt
hơn (Ý kiến của một dòng
họ về hoạt động
khuyến học). Tg
: Thùy Tao.
- Chuyện về một nữ Tiến sỹ họ Đỗ
(Tấm gương hiếu học
thành đạt trong cộng
đồng Họ Đỗ Việt Nam).
Tg : Lê Anh.
Hai
bài thơ là : - Đôi dép. Tg : Nguyễn Trung Kiên.
- Gửi con yêu dấu. (không
rõ tên tác giả)
Ba bài viết thì tôi đã đọc ít nhất 1 lần
với mỗi bài, trên trang mạng Họ Đỗ Việt Nam, riêng hai bài đầu thì đã đọc đến 2
lần trên cả 2 trang mạng TW Hội và Dân trí của Hội Khuyến học Việt Nam. Hai bài thơ thì quả là tôi mới
được đọc lần đầu. Nội dung các bài viết khá sâu sắc, vừa có lý luận, vừa có
thực tiễn (cả ở tầm vĩ mô), lập luận chặt chẽ, tất cả đềự hướng về chủ đề Xây
dựng gia đình bền vững, dòng họ hưng thịnh.
Trong bài “Lại nói chuyện Văn hóa gia đình” (nhân ngày GĐVN 28/6), ngoài những
tìm hiểu chung về khái niệm VHGĐ (định nghĩa, đặc điểm, nội dung, xu hướng biến
đổi,...), bài viết đã dành phần lớn nội dung cho việc nhận dạng nội dung của
VHGĐ Việt Nam và thực trạng về vấn nạn Khủng hoảng gia đình (KHGĐ) ở Việt Nam
hiện nay. Đọc bài viết, một lần nữa tôi được hiểu rõ hơn nội dung cốt lõi của VHGĐ Việt là Tình-Nghĩa,
và KHGĐ về bản chất là sự tha hóa của
VHGĐ, cũng bắt đầu và xoay quanh từ chính cái nội dung cốt lõi này. Tôi
cũng nhận thức rõ hơn : mất Tình – Nghĩa là mất cái gốc của VHGĐ, mất đi cái
tiền đề số 1 của sự phát triển GĐ và dòng họ, mất nó là sẽ mất tất cả ! Mọi hành vi phá hoại và
tự phá hoại sự bền vững của GĐ, sự cố kết của dòng họ đều nhằm vào cái nhân tố
gốc rễ này đó. Điều này cũng có nghĩa là xây dựng GĐ bền vững – Dòng họ hưng
thịnh thì trước hết và trọng tâm là phải coi trọng việc chăm lo cho cái nội
dung cốt lõi này của VHGĐ, chứ không phải chỉ chăm lo về kinh tế (KT). Mỗi GĐ
phải thật sự coi trọng chức năng giáo dục, đừng để chức năng này bị lấn át bởi
chức năng KT (đành rằng chức năng KT là rất quan trọng). Toàn dòng họ phải ra
sức bảo vệ VHGĐ, VH dòng họ, đặc biệt đề
cao Đạo Lý và Tình Nghĩa. Trước sự tàn phá ghê gớm từ vấn nạn KHGĐ thì thái
độ cần có của các dòng họ và từng GĐ là phải ra tay tự cứu lấy mình, thực sự vào cuộc ngay, coi đó là việc bức
xúc của chính mình, đừng ỷ lại quá nhiều vào các tác động XH. Nhưng mặt khác,
về phía các cơ quan chức năng quản lý XH, thì phải nhận thức rõ hơn trách nhiệm
của mình đối với sự bền vững và tiến bộ của từng GĐ và các dòng họ, vì đó là
các đơn vị tế bào, chân rết của XH, từ đó sẽ tạo nên sự phát triển hoặc là suy
thoái của cộng đồng XH. Trách nhiệm của quản lý vĩ mô là phải tìm cách bảo vệ và
phát huy sự trong sáng và tiến bộ của VHGĐ, ngăn chặn có hiệu quả sự tha hóa VHGĐ, hạn chế
tối đa sức tàn phá của vấn nạn KHGĐ cùng những hậu quả tiêu cực đi theo đó.
Trong bài “Cần nhìn lại để thay đổi cho tốt hơn” (Ý kiến của một dòng họ về
hoạt động Khuyến học - KH), tôi đã đọc được những lý giải rất mới và khác với cách nói lâu nay về KH. Tôi
thấy đó là một nội dung thú vị, có tính biện chứng và khoa học, có sức thuyết
phục nên rất cần phải suy ngẫm để tìm cách vận dụng. Nội dung bao trùm và cũng
là mục tiêu chủ yếu của bài viết là đưa ra một khuyến nghị quyết liệt : phải thay đổi cách làm KH ! Cụ thể
là : Phải từ bỏ cách làm KH theo kiểu phong trào, thiên về bề nổi nên thường mang
tính hình thức, để chuyển sang cách làm KH theo phong cách chuyên nghiệp, có
chiều sâu khoa học (mặc dù đó vẫn là một hoạt động XH), có hiệu quả thực chất. Phải chuyển dần nội dung các hoạt động KH, từ
chỗ coi công việc chính là hỗ trợ tài chính và khích lệ tinh thần hiếu học với người
học, sang công việc trọng tâm là tác động thường xuyên vào Nội lực của
GD&ĐT, Nội lực tự học của người học.
Cơ sở khoa học của khuyến nghị này là quan
điểm : Nội lực của người học, của
GD&ĐT mới là nhân tố quyết định chất
lượng của sự học, của GD
&ĐT.
Tác động từ hoạt động KH, dù là rất mạnh, cũng không thể thay thế cho nội lực
của chủ thể, bởi đó vẫn chỉ là Ngoại lực. Ngoại lực đó chỉ có giá trị khi nó biết tìm đến và biết cách tác động vào Nội lực của
chủ thể, cộng hưởng được với Nội lực của chủ thể, nhân lên được sức mạnh cho Nội
lực của chủ thể. Quan điểm này đã xuyên suốt bài viết, được vận dụng trực tiếp
để lý giải các nội dung khác trong bài.
Tôi cũng thấy bất ngờ nhưng lại thú vị (về
mặt tư duy) khi đọc tới những phân tích về những khiếm khuyết và hạn chế của cách làm KH như lâu nay : phiến diện,
nhất thời, không thường xuyên, không trực tiếp, luôn đi sau, mách vẽ sai đường,
hiệu quả thấp so với sự đầu tư to lớn của XH,... Tôi cho đây là một sự đánh giá
trung thực và thẳng thắn, có tính khoa học cao, đúng với thực trạng, không bị
ám ảnh bởi bệnh thành tích, và dám nói khác lối nói của cấp trên cũng như của giới
truyền thông ! Phải chấp nhận sự đánh giá trung thực này thì mới có thể đổi mới
!
Tôi rất tâm đắc với khuyến nghị chuyển hướng sắp
tới : hoạt động KH phải tìm cách tác động vào Nội lực của GD&ĐT,
mà then chốt là Nội lực tự học của người học. Trong bài viết có lý giải khái
niệm về Nội lực của GD&ĐT và Nội lực tự học của người học, tôi cho rằng sự
lý giải đó là tương đối đủ và chuẩn xác (hinh như từ trước đến nay chưa có tài
liệu nào giới thiệu chính thức và tường minh khái niệm này cả).
Có một nội dung của bài viết mà chắc các GĐ
và các dòng họ đều quan tâm, đó là phần nói về những thay đổi cần thiết trong
hoạt động KH ở các đơn vị tế bào, chân rết này. Trong đó nhấn mạnh đến vai trò
của Khoa học Tự học, của việc nuôi
dưỡng và chăm sóc Nội lực Tự học cho
các thành viên trẻ, vai trò và tấm gương tự
học của bố mẹ và người lớn nói chung, vai trò của Ban Khuyến học ở từng
dòng họ. Và từ đây chắc là những ai đó nếu đã được đọc bài viết như tôi, thì đều
tự rút ra được kết luận đương nhiên là : Muốn cho GĐ được bền vững – dòng họ được
hưng thịnh thì không thể không chăm lo cho hoạt động KH, mà trong đó cái đáng
quan tâm nhất hiện nay là chất lượng và hiệu quả của hoạt động. Phải làm cho
chất lượng ấy ngày càng tốt hơn, thực chất hơn, bắt đầu từ sự thay đổi cách làm
KH ngay từ các GĐ. Bởi suy cho cùng thì sự tăng trưởng về trí tuệ vừa là mục
tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển tiến bộ của mọi GĐ và dòng họ. Không có
sự dẫn dắt của trí tuệ thì KT cũng không thể đổi khác được, đời sống vật chất vẫn
mãi trong vòng túng thiếu và nghèo đói. Sự tăng trưởng này chỉ có được khi KH
luôn đồng hành với GD&ĐT, cùng Đổi mới thật sự với GD&ĐT.
Đọc bài viết “Chuyện về một nữ Tiến sỹ họ Đỗ”, tôi đã nhìn rõ hơn được lô gích của cuộc sống trong từng GĐ và dòng họ : Nâng
cao dân trí cho các thành viên là đòi hỏi sống còn của sự phát triển với từng đơn
vị tế bào này của XH, nhưng từ đó tất yếu lại dẫn đến hệ quả là làm xuất hiện
những mũi nhọn thành đạt trong mặt bằng chung đó. Mặt khác thì chính các mũi
nhọn thành đạt lại sẽ trở thành tác nhân quan trọng thúc đẩy mặt bằng dân trí,
và là một minh chứng cho sự chuyển biến của mặt bằng dân trí.
Tôi cũng tìm thấy ở đây, từ những bài học
thành đạt ban đầu trong học tập và nghiên cứu khoa học của TS Hà, những phẩm chất cơ bản và đáng quý của một
người học trò, một sinh viên, và cao hơn là của một người trí thức. Ngoài ý chí
và nghị lực cao, thì rất cần có các phẩm chất về trí tuệ : năng lực tự
học, phương pháp khoa học, năng lực tư duy độc lập và sáng tạo.
Tôi đánh giá cao kết quả phấn đấu của TS Hà,
dù đây mới chỉ là sự thành đạt bước đầu, khi nhìn vào hoàn cảnh sống và làm
việc của cô, từ lúc còn là học sinh phổ thông cho đến khi du học và hiện nay
trong hoạt động chuyên môn ở một trường Đại học, quả là khó khăn nhiều hơn
thuận lợi. Tấm gương đó rất đáng được biểu dương và đáng tham khảo cho các bạn
trẻ.
Đọc bài viết này, tôi càng thấu hiểu hơn niềm
khát khao vươn lên của dòng họ Đỗ Hữu (gốc Hậu Lộc). Sự trăn trở lớn nhất của
họ bấy lâu nay là làm sao để nhanh chóng thoát Nghèo, bắt đầu từ và đi cùng với
sự phấn đấu để thoát “Hèn” (hiểu theo nghĩa : dân trí còn thấp, ít người thành
đạt và thành danh, vị thế của dòng họ trong cộng đồng còn thấp kém, mờ nhạt).
Nhưng tôi tin ở quyết tâm và bản lĩnh của họ, và tôi luôn cầu chúc cho họ thành
công !
Còn về
hai bài thơ, tuy chưa phải là các bài thơ hay, chưa hề được nổi danh trên
thi đàn Việt Nam,
nhưng tôi cho đó là hai bài thơ đáng đọc
đối với những ai vẫn mang dòng máu Việt, vẫn gắn bó với GĐ và VHGĐ Việt. Lời
thơ thì mộc mạc, dung dị, gần gũi với đời thường, nhưng ý thơ thì sâu đậm Tình
Nghĩa, đặc biệt là các giá tri : tình thương yêu, sự thủy chung, lòng hiếu
thảo,... Tôi thực sự xúc động khi đọc hai bài thơ này, bởi chính nó đã góp thêm
một tiếng lòng cùng với những thao thức, ám ảnh, trăn trở của tôi, của mọi người chúng ta trước sự đe dọa của vấn
nạn KHGĐ..
Trên đây là những cảm nhận của cá nhân
tôi sau khi đọc nhiều lần, tập sách nhỏ này của chú cháu anh Hữu Minh ở dòng họ
Đỗ Hữu. Trước hết, tập sách này là rất có ý nghĩa và có giá trị đối với dòng họ
của anh khi mà họ đang phải đối mặt với đòi hỏi bức xúc trong việc xây dựng GĐ
bền vững – Dòng họ hưng thịnh. Nhưng đồng thời, tập sách này cũng rất có ý nghĩa
và có giá trị đối với cả các dòng họ khác trong cộng đồng các dòng họ Việt Nam
chúng ta, trước thực trạng và xu thế chung của các GĐ trên phạm vi cả nước. Từ
chuyện chỉ như là của riêng trong nội bộ một dòng họ, nhưng lại hóa ra là những
vấn đề lớn, nóng, và rất chung của cộng đồng ở tầm vĩ mô. Những nội dung này chắc
chắn sẽ có sức lan tỏa ngày càng rộng lớn, thu hút sự quan tâm của nhiều người
hơn. Tôi thật sự trân trọng tập sách, và thực lòng cảm ơn các tác giả, cảm ơn
chú cháu anh Hữu Minh, cảm ơn dòng họ Đỗ Hữu, cảm ơn trang mạng HĐVN. Nhân đây,
tôi xin đề nghị BLL Hội đồng các Dòng họ Đỗ Việt Nam hãy tìm cách lưu hành rộng
rãi tập sách này trong cộng đồng Họ Đỗ, và có thể gửi biếu tới các dòng họ khác
trong cả nước. Mong sẽ có nhiều người biết đến những nội dung đáng đọc này để
cùng đọc, cùng suy ngẫm, và... cùng hành động !...Mong sẽ có thêm nhiều món quà
tinh thần có ý nghĩa như thế từ các dòng họ khác trong cả nước !...
Tháng
6 năm 2013
Đ T
* Tôi gửi tập sách kèm theo để minh họa cho nội dung
bài viết.
Năm ngoái trong dịp dòng họ Đỗ Hữu khánh thành
Nhà Thờ Họ mới tôn tạo, anh Hữu Minh cũng đã làm một tập sách nhỏ có tên “QUÊ
HƯƠNG TRONG TÔI” để tặng bà con của dòng họ, và tôi cũng được biếu một tập. Món quà tinh thần đầu tiên này đến với bà con
quả cũng đã rất ấn tượng, vì những nội dung trong đó đều là những tâm sự nặng lòng với quê hương, với họ tộc, chứa đựng
những khắc khoải, những hoài niệm, những suy tưởng,... có chiều sâu và rất đáng
trân trọng. Tôi xin hẹn một dịp khác, sẽ được hân hạnh giới thiệu với bạn đọc
về tập sách nhỏ thứ nhất này.
Xin các bạn lưu ý thêm : Trong cả hai tập sách
này thì đa phần tác giả đều là con cháu của dòng họ Đỗ Hữu.
NHỮNG ĐỨA CON CỦA DÒNG HỌ ĐỖ HỮU
(quê gốc Tuy Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hóa)
GIA ĐÌNH BỀN VỮNG –
DÒNG HỌ HƯNG
THỊNH !
Kính
tặng Dòng họ và Quê hương thân yêu !
Tháng 6 năm 2013
GIA ĐÌNH BỀN VỮNG –
DÒNG HỌ HƯNG THỊNH !
Đó là mong muốn tha thiết của mọi gia đình
(GĐ), mọi
dòng họ chúng
ta, và cũng là đòi hỏi chung của đất nước.
Sự phát triển bền vững của mỗi GĐ, dòng họ
luôn bắt
nguồn từ sức
mạnh nội sinh. Sức mạnh ấy không chỉ là
sự phát triển tăng tiến, sự sung túc khá giả về kinh
tế,
mà quan trọng
hơn, quyết định hơn chính là sức mạnh
của Văn hóa,
đặc biệt là tác động chi phối, định hướng
của Văn hóa GĐ.
Nhân Ngày Giỗ Họ đầu tiên của dòng họ Đỗ Hữu
(12/5 âm lịch), và hướng tới Ngày Gia đình Việt Nam (28/ 6 dương
lịch), chúng tôi đã sưu tầm được một số bài
viết (và bài thơ) có nội dung liên quan tới
chủ đề trên, và biên tập lại thành tập sách nhỏ này
để biếu tặngbà con
trong họ tộc. Những bài này đã được đăng tải trên nhiều báo viết và
báo mạng, đặc biệt là các báo và trang mạng của Họ Đỗ Việt Nam, Hội Khuyến học Việt Nam,...
.
Xin
chân thành kính chúc bà con
sức khỏe và hạnh phúc !
Tháng 6/2013
Nhóm biên tập
1- Lại nói chuyện VĂN HÓA GIA
ĐÌNH............
(Hướng
tới Ngày Gia đình Việt Nam
28/6)
2- GỬI CON YÊU DẤU (thơ sưu tầm)..................
3- CẦN NHÌN LẠI ĐỂ THAY ĐỔI
CHO TỐT HƠN ! .........
(Ý
kiến của một dòng họ về hoạt động Khuyến học)
4- CHUYỆN VỀ MỘT NỮ TIẾN SỸ HỌ ĐỖ
(Những
tâm gương hiếu học và thành đạt trong cộng đồng Họ Đỗ Việt Nam)
Có kèm theo ảnh
5- ĐÔI
DÉP (thơ sưu tầm)
.............................................
Nhân Ngày Gia đình Việt Nam 28/6
Lại nói chuyện VĂN HÓA GIA
ĐÌNH !
Khủng hoảng gia đình (KHGĐ) đang là vấn đề
nóng của xã hội
Việt Nam và cần tìm cách hóa giải. KHGĐ
thường bắt đầu từ, và
luôn đi
cùng với sự tha hóa của văn hóa gia đình (VHGĐ).
Hữu Minh
(Dòng họ Đỗ Hữu – gốc Hậu Lộc, TH)
Người ta thường nói : Nhìn vào bộ mặt văn hóa (VH) của
một cộng đồng, mà rộng ra là một quốc gia, thì chúng ta có thể đoán định được chiều
hướng phát triển hưng hay vong của cộng đồng (quốc gia) đó. Trong bộ mặt VH của
cộng đồng thì có rất nhiều thành tố bộ phận, cả vô hình khó nhận ra ngay và cả
hữu hình có thể nhận diện được. Thông thường chúng ta có thể nhìn vào thực
trạng nếp sống VH thường ngày, trong đó thường trực nhất và dễ thấy nhất là văn
hóa gia đình (VHGĐ), thì có thể nhận ra diện mạo rất gần với trình độ thật
của nền VH cộng đồng (quốc gia). Bởi VHGĐ luôn được coi là nền tảng, là bộ phận
cốt lõi nhất của VH cộng đồng, đồng thời nó cũng là sự tiếp nhận trung thực,
trực tiếp nhất từ VH cộng đồng, là sự thu nhỏ của VH cộng đồng. Nhận thức này
xuất phát từ quan niệm đúng đắn : GĐ là một thứ XH vi mô, là một thể chế XH cơ bản, xuất phát của con
người, do đó nó là một thực thể VH.
Bài viết này muốn đề cập đến một thực
trạng đáng buồn và rất đáng lo ngại
về sự thay đổi theo chiều hướng tiêu cực của VHGĐ.
Nhưng trước hết, cũng nên cùng nhau tìm hiểu
về khái niệm VHGĐ.
Theo
cách hiểu nôm na, phổ thông thì VHGĐ vẫn
được coi là những chuẩn mực, những giá trị về đạo đức, về trí tuệ (chứ không chỉ về đạo đức) trong việc
xây dựng và phát triển GĐ của một cộng đồng (chứ không chỉ của một GĐ*), đã được mọi
người tự nguyện chấp nhận và tôn
trọng.
Cũng có người cho rằng : Nói một cách hình
tượng thì VHGĐ là phần “hồn” của trạng thái phát triển của GĐ, nó luôn đứng đàng
sau hoặc đi cùng, để định hướng cho mỗi bước phát triển của GĐ.
. Từ
thực tiễn trải nghiệm và qua nghiên cứu lý luận cũng như quan sát, khảo sát
thực tế, chúng tôi thấy cần lưu ý những đặc điểm sau đây của VHGĐ :
- Tính bền vững (tương đối), nghĩa là VHGĐ
phải tương đối ổn định trong một thời
gian không phải là ngắn, không thể chỉ thoảng qua, không chỉ là tạm thời, không
thể dễ thay đổi, dễ biến mất. Nhưng như vậy cũng không phải VHGĐ là bất biến,
mà nó có thể thay đổi (dưới tác động của môi trường kinh tế - xã hội (KT-XH) và các
dòng VH khác), và thực tế đã từng nhiều lần biến đổi (nhưng không biến mất hoàn
toàn, mà theo hướng giữ lại những phần tốt đẹp, tiếp nhận thêm những yếu tố
tiến bộ mới, bên cạnh đó vẫn có những phần hầu như vẫn giũ nguyên, được coi như
là bền vũng tuyệt đối), trong suốt chiều dài lịch sử phát triển của cộng đồng.
Và do vậy mà phải nói thêm một đặc điểm quan trọng khác của VHGĐ, là tính kế
thừa. Tất nhiên trường hợp VHGĐ bị tha hóa cũng là một sự biến đổi quan
trọng, nhưng theo hướng ngược lại, và lúc ấy thì nó không còn là VH nữa rồi.
- Có bản sắc tập thể, thể hiện những nét
tính cách chung của cả cộng đồng, bởi
nó luôn được và cần phải được số đông thấm nhuần và thực hiện. Nói khác đi thì
VHGĐ là những chuẩn mực, những giá trị không mang dấu ấn cá nhân, không phụ
thuộc vào nét tính cách riêng biệt của bất cứ cá nhân nào, GĐ nào, dù là nét
riêng nổi trội.
- VHGĐ có
chiều sâu trí tuệ và tình cảm,
đến mức đã biến thành Niềm tin của mọi người, biến thành Biểu tượng trong
mọi hoạt động của GĐ. Biểu hiện cao nhất là sự tự nguyện chấp nhận và
tôn trọng của mọi người (tự nguyện, chứ không phải là cưỡng bức như luật pháp).
- VHGĐ có nét bản sắc riêng vùng miền (tính
địa phương) khá rõ (lãnh thổ, vùng miền, chủng tộc, quốc gia,...), mà cao nhất
là bản sắc dân tộc, bởi nó chịu ảnh hưởng trực tiếp từ VH của cộng đồng mà GĐ
đang sinh sống. Chả vậy mà VHGĐ Việt Nam (và nhiều nước châu Á) có nhiều
nội dung không giống như VHGĐ ở các nước phương Tây. Tuy nhiên VHGĐ vẫn có
nhiều nội dung cơ bản là chung cho toàn
nhân loại. ...
Từ cách hiểu khái quát về khái niệm VHGĐ và sự
nhận diện mấy đặc điểm chính của VHGĐ vừa nêu trên, chúng ta hãy điểm qua về nội dung cơ bản của VHGĐ. Có thể nói
gọn, VHGĐ được hiểu như là tập hợp những chuẩn mực về đạo đức và trí tuệ gắn liền với đời sống GĐ và các mặt quan hệ
giữa GĐ với XH. Đó là những biểu hiện
VH liên quan đến nhũng mốc quan trọng nhất của một đời người trong khuôn khổ GĐ, từ lúc sinh ra, được nuôi dạy, trưởng
thành,...., kết hôn,...cho đến tuổi già và chết đi, tức là liên quan đến những chức năng thuần túy GĐ. Đồng thời đó
cũng là những biểu hiện VH liên quan đến chức
năng XH của GĐ, góp phần thúc đẩy XH và VH của XH phát triển. Về nội dung cơ bản của VHGĐ, có thể quy
về mấy phần sau :
- Phần cốt
lõi của VHGĐ là VH nhân bản, thể hiện tập trung ở chuẩn mực và giá trị về Tình và
Nghĩa, trong các mối quan hệ giữa các thành viên của GĐ : vợ - chông,
cha mẹ - con cái, anh chị – em (mà trong VHGĐ Việt Nam thường gọi đó là Đạo vợ chồng, Đạo cha con, Đạo anh
em,...). Cũng có thể hiểu phần cốt lõi này là sự kết hợp bền chặt giữa tình thương yêu (Tình) và trách nhiệm (Nghĩa), trên cơ sở của tình cảm huyết thống, tình cốt nhục mà
không thể có ở bất cứ đâu, ngoài GĐ.
- Bên cạnh đó là mặt lý trí (trí tuệ, dân trí)
của các mối quan hệ, thể hiện ra trong mọi mặt của đời sông GĐ. Nói khác đi,
VHGĐ còn bao gồm những biểu hiện VH được hình thành và tiếp nhận bằng con đường
nhận thức lý tính, qua tư duy khoa học, chứ không thể chỉ là những tín điều,
những nề nếp, lệ tục thuần túy về mặt tín ngưỡng và tâm linh (thậm chí là mê tín),
không có cơ sở khoa học, được tiếp nhận chỉ bằng cảm tính.
- VHGĐ còn bao gồm mặt ý thức thẩm mỹ, là lối
sống đẹp trong đời sống GĐ cũng như trong quan hệ XH của GĐ.
Trên cơ sở những nhận thức chung đó, soi rọi
vào VHGĐ Việt Nam,
chúng ta có thể nhận ra rất nhiều giá trị VH truyền thống, đan xen với
các
giá trị VH mới hình thành, chẳng hạn :
- Sự thủy chung trong quan hệ vợ chồng.
- Sự hiếu thảo của con cái với bố mẹ, sự tôn
kính ông bà, coi trọng và tri ân tổ tiên, ngưỡng vọng và không lãng quên quá
khứ,...
- Cha mẹ hết lòng vì con cái, biết hy sinh
cho con cái khi cần thiết. Anh chị em thương yêu, đùm bọc cho nhau trong sự gắn
kết Tình Nghĩa bền chặt.
- Không
khí sinh hoạt trong GĐ ngày càng thể hiện xu hướng dân chủ hóa, mà tiêu điểm là
sự bình đẳng nam nữ, là trả lại vị trí
xứng đáng của người phụ nữ trong GĐ.
- Coi trọng việc xây dựng GĐ thành một tổ
ấm, đặc biệt là mặt đạo lý (trước hết là Đạo
trong nhà). Bảo vệ và phát huy truyền thống GĐ, tôn trọng và giữ gìn gia phong.
Chăm lo để GĐ luôn hòa thuận, con cái chăm ngoan và không vướng vào tệ nạn XH. Sự
quan tâm số Một của toàn GĐ hầu như đều dồn hết ưu tiên cho việc học tập và rèn
luyện của cách thành viên trẻ, coi đó vừa là bổn phận của người lớn, vừa là
niềm hạnh phúc chung của GĐ.
- Mọi sinh hoạt đều có nề nếp khoa học và
tự giác, thể hiện nét VH tiến bộ, từ kế hoạch lao động sản xuất hàng ngày, việc
dạy dỗ con trẻ,...đến việc tổ chức sinh nhật, mừng thọ, khánh thành nhà mới,...,
và cho đến việc cưới xin, ma chay, giỗ chạp,...Đặc biệt coi trọng việc hình
thành và duy trì một nếp sống lành mạnh
đi cùng với các thói quen tự giác, như : ăn, mặc, ở luôn gọn gàng, ngăn
nắp, sạch sẽ; lao động và học hành đúng giờ giấc; chi tiêu có kế hoạch, có hạch toán; con trẻ được giáo dục
đúng phương pháp khoa học và thống nhất giữa bố và mẹ, không áp đặt, đề cao
được tính chủ động, sáng tạo của trẻ; mọi thành viên đều tự giác và cộng đồng
trách nhiệm đối với công việc chung của GĐ, trên cơ sở có phân công hợp lý;
người lớn luôn gương mẫu;....
- Coi trọng quan hệ họ hàng trong gia tộc,
coi trọng quan hệ với xóm giềng, làng xã, biết sống khiêm nhường và hòa đồng
với cộng đồng, biết sống tử tế, đàng hoàng với mọi người, biết sống “Đói cho
sạch, rách cho thơm”, “Tối lửa tắt đèn có nhau”,... ...
... ...vv... &
... vv...
Có những nghiên cứu khác về VHGĐ Việt Nam đã
nhấn mạnh thêm đặc điểm sau đây, mà ở VHGĐ của nhiều dân tộc khác không có hoặc
không rõ nét. Đó là VHGĐ Việt Nam được hình thành từ trong nền sản xuất nông
nghiệp lạc hậu, trì trệ kéo dài, độc canh, khép kín, ở đó GĐ là một đơn vị sản
xuất tự cung, tự cấp. Bởi vậy, VHGĐ Việt Nam
chịu ảnh hưởng khá sâu sắc từ Văn minh
nông nghiệp mang đặc thù Việt Nam.
Trình độ phát triển của Văn minh nông nghiệp đó qua hàng ngàn năm nay đã trực
tiếp chi phối đến trình độ phát triển của VHGĐ Việt Nam. Một mặt, nó đã tạo ra cho VHGĐ
Việt những triết lý VH rất đậm nét nhân bản, nhưng mặt khác nó cũng ràng buộc
rất nghiệt ngã mọi xu hướng phát triển tiến bộ, đổi mới, làm cho VHGĐ Viêt luôn
chứa đựng nhiều yếu tố bảo thủ. Chẳng hạn, thói gia trưởng sản sinh ra từ chế
độ phụ quyền bất bình đẳng là một nét đặc trưng cố hữu, đang trở nên một cản
trở lớn cho một VHGĐ tiến bộ. Nhưng lệ tục thờ cúng tổ tiên, bổn phận phụng
dưỡng bố mẹ già thì lại vẫn được coi là một giá trị vĩnh hằng, là đạo lý muôn
đời, không thể thay đổi, và vẫn là một nội dung cốt lõi của VHGĐ Việt Nam hiện
đại....
Có lẽ,
chính từ đặc điểm nói trên mà trong nhiều nghiên cứu về GĐ và VHGĐ Việt Nam, nhiều
tác giả đã lại một lần nữa cho rằng Đạo đức là một nội dung cốt lõi, thậm chí
là cốt lõi nhất, của VHGĐ Việt. Và vì vậy mà trong các nghiên cứu đó đều nhấn
mạnh các nội dung sau của VHGĐ Việt : duy tình, trọng nghĩa, hiếu thảo, thủy
chung, nhân hậu,...
Và cũng cần nói thêm một cách hiểu khác về
nội dung của VHGĐ Việt thể hiện trong các nghiên cứu nói trên. Như đã có tác
giả nêu, VHGĐ thường bao gồm các mặt : gia giáo, gia lễ, gia pháp, gia phong. Cách
diễn đạt này có vẻ gọn và dễ hiểu hơn, gần với cách nói dân gian, nhưng có lẽ
chưa đầy đủ và có thể có những nội hàm chồng chéo, không thật rõ ràng ?...
VHGĐ Việt Nam trong dòng chảy của VH dân tộc,
đã trải qua rất nhiều thăng trầm hàng ngàn năm, bắt đầu từ nên VH bản địa của
dân tộc Lạc Việt, và đã chịu ảnh hưởng của nhiều nền VH nước ngoài khác có liên
quan (Khổng giáo của Trung Quốc, Phật giáo của Ấn Độ, VH Pháp và phương Tây, VH
Xô viêt,...). Nhưng VHGĐ Việt Nam
(cũng như VH Việt Nam
nói chung) vẫn giữ được cốt cách riêng, bản sắc riêng, không bị pha tạp biến
chất mà còn chắt lọc thêm được, bổ sung thêm được những giá trị tốt đẹp khác
nữa. Những nội dung của VHGĐ Việt Nam ngày càng phát triển phong phú,
tiến bộ so với trước đây, với những giá trị truyền thống cũ được “nầng cấp” và
lại có thêm những giá trị mới. Những giá trị ấy, truyền thống ấy không những đã
luôn có mặt trong đời sống hiện hữu, mà còn luôn được nâng niu, gìn giữ trong đời
sống tâm linh của mọi người
Việt, mọi GĐ Việt, và chính nhờ thế mà tính bền vững và tính kế thừa của VHGĐ
Việt Nam càng được củng cố và phát huy tác dụng.
Trên đây là lô gích tất yếu của sự phát triển
VHGĐ
và cũng là điều mong muốn của chúng ta,
trước đòi hỏi của đất nước Đổi mới. Và đó cũng chính là sự khái quát những biểu
hiện điển hình của VHGĐ ở những điểm sáng Gia đình văn hóa (GĐVH)
tiêu biểu (và đích thực) mà chúng tôi đã được tiếp cận hoặc được nghiên cứu,
hay khảo sát thực tế. Nhưng đáng tiếc và đáng lo là những biểu hiện ấy không
phải là những nét phổ biến áp đảo, không phải là bộ mặt đại trà của VHGĐ hiện
nay ở nước ta. Thực trạng hiện nay là trong đời sống XH Việt Nam đang có hội chứng Khủng hoảng GĐ (KHGĐ). Đó là những
biểu hiện rất bất thường trong sự
phát triển của các GĐ, đảo lộn nếp sống êm ấm vốn có. Đó là hiện tượng mâu
thuẫn nội tại trong sự phát triển GĐ đã trở nên có tính đối nghịch, không thể
tự hóa giải được, và đã đến mức gay gắt. Đó là sự rối nhiễu nếp sống, sự đảo
lộn gia phong, các mối quan hệ đã bị rạn nứt khá căng thẳng, đã xuất hiện các
hành vi bạo lực dưới nhiều hình thức. Sự gay gắt, căng thẳng ấy càng ngày càng
tiến đến cao trào, trực tiếp đe dọa sự cố kết GĐ và dẫn đến kết cục tan vỡ
GĐ,...Suy cho cùng thì KHGĐ bắt nguồn trực tiếp từ sự tha hóa của VHGĐ, ở đó cái
được mang danh VHGĐ không còn là VH nữa, nên đã mất đi vai trò định hướng cho
sự phát triển tiến bộ của GĐ, mà nó vốn có.
Vấn
nạn này không chỉ trực tiếp đe dọa sự phát triển bền vững và an toàn của các GĐ
- đơn vị tế bào của XH, mà còn ảnh hưởng rất tiêu cực đến nền tảng VH của toàn
XH, đến bộ mặt VH và sự ổn định của XH và đất nước. Những biểu hiện tiêu cực,
tha hóa của VHGĐ, mà chúng ta gọi là KHGĐ, cũng rất đa dạng và phức tạp. Ngày
nay, ai cũng có thể kể ra hàng loạt những hiện tượng KHGĐ đã từng xảy ra ở bất
cứ đâu trên đất nước này, và chỉ cần nhắc lại một phần nhỏ trong đó thôi cũng
đã thấy rùng mình, ớn lạnh, lo buồn,.... ! Theo nhiều nghiên cứu XH học thì trong bức
tranh hỗn loạn ấy của KHGĐ, nổi lên các hiện tượng nhức nhối nhất là : Ngoại
tình, Ly hôn, Thường xuyên lục đục, Bạo lực GĐ, Người già cô đơn, Mại dâm, Ma
túy, Trẻ lang thang,... ... Và
kéo theo đó là không biết bao nhiêu hậu
quả dai dẳng về mặt XH ! Đánh giá
này là đúng với thực trạng, nhưng có lẽ chưa đủ, nên rất cần được thẩm định
lại, bằng những điều tra XH học đáng tin cậy hơn nữa, cả về mặt định tính và
định lượng.
Thực trạng đáng buồn nói trên của KHGĐ vẫn
đang tiếp tục phát triển theo chiều hướng ngày càng xấu đi, chưa có biện pháp
ngăn chặn hữu hiệu. Chúng ta cần phải thẳng thắn thừa nhận sự cảnh báo : KHGĐ ở
Việt Nam
đã phát triển đến mức độ nghiêm trọng ! Sự nghiêm trọng đã thể hiện ra ở những dấu
hiệu sau :
- Đây là sự KH toàn diện, trên hầu như tất cả nội dung cơ bản của VHGĐ, đặc
biệt là phần nội dung cốt lõi (Tình và Nghĩa), cả đạo lý, cả lối sống và nếp
sống thường ngày của GĐ.
- Diễn ra trên diện rộng, từ thành thị cho đến nông thôn, thậm chí lan cả đến vùng
sâu vùng xa (ma túy chẳng hạn).
- Tấn công vào tất cả các loại GĐ, vào
mọi tầng lớp dân cư : từ GĐ truyền thống nhiều thế hệ đến GĐ hạt nhân 2 thế
hệ, từ GĐ buôn bán đến GĐ nông dân, công nhân, từ GĐ dân thường đến GĐ quan
chức, từ các GĐ ít học đến GĐ trí thức,...từ GĐ giàu có đến GĐ nghèo, từ các
đối tượng có nguy cơ cao với các tệ nạn XH cho đến những đối tượng còn trong
trắng (thiếu niên, vị thành niên, ..), từ người ít tuổi cho đến cả người đã
từng trải,...
- Hậu
quả gây ra là rất nặng nề, cả
trước mắt và lâu dài. Trực tiếp trước mắt là làm cho đời sống rất nhiều GĐ bất ổn,
thậm chí dẫn đến tan vỡ hàng loạt, rất nhiều nạn nhân trở thành “người không
GĐ” !... Hậu quả lâu dài, dai dẳng là VHGĐ lại tiếp tục bị biến dạng méo mó, bị
tha hóa, gia phong bị đảo lộn,...Và nguy
hại nhất là các thành viên, nhất là thành viên trẻ, trong các GĐ đó sẽ không còn chỗ dựa GĐ, đánh mất dần niềm tin
vào cuộc sống, mất phương hướng định hình cho nhân cách,...và sẽ trở thành gánh
nặng cho GĐ, thành lực cản cho sự phát triển của XH,...Tổn thương ở tầm vĩ mô
là rất to lớn, bởi từ đó XH cứ tiếp tục theo đà mà tha hóa về nhiều mặt, và có
thể dẫn đến mất ổn định chính trị,...
Lý giải về nguyên nhân của vấn nạn
KHGĐ thì hầu như mọi người chúng ta đều nhìn rõ cả mặt chủ quan và khách quan.
-
Trước hết, về mặt chủ quan, những người trong cuộc, tức là mọi người dân chúng
ta (vì ai cũng đều là thành viên của các GĐ), đã thiếu sự chuẩn bị hành trang cần
thiết để vào cuộc, nhất là từ khi đất nước đi vào Đổi mới, được tiếp cận với KT
thị trường và hội nhập toàn cầu. Sự chuẩn bị này bao gồm cả Tâm và Trí, xoay
quanh cái vốn liếng về VHGĐ, nhìn chung là quá sơ sài và vội vã, nên khi vào
cuộc rất nhiều người đã tỏ ra không đủ
bản lĩnh để đi cùng với sự dịch chuyển VH. Những biến đổi VH do Đổi mới
mang đến quá nhanh và xô bồ so với sự thích ứng của khá nhiều người, về nhận
thức, về tình cảm,..., về nhân cách nói chung. Sự “lệch pha” này đã dẫn đến
lúng túng khi phải ứng xử với những biểu hiện tha hóa ban đầu về VHGĐ, để rồi
cứ thế liên tiếp dẫn đến các hiện tượng KHGĐ như đã nêu ở trên. Xét về bản chất, thì KHGĐ chính là sự rối
loạn trong việc thực thi các chức năng của GĐ (CN sinh sản, CN tái sản
xuất sức lao động, CN KT, CN giáo dục - GD, CN VH, ...), mà nổi rõ lên là chức
năng KT lấn át các chức năng
khác, nhất là chức năng GD. Nói rõ
hơn là, do lóa mắt trước mục tiêu Kiếm Tiền Làm Giàu mà rất nhiều GĐ chúng ta
đã coi rất nhẹ, thậm chí quên đi thiên
chức quan trọng nhất của GĐ là chăm
sóc quá trình Làm Người cho mọi thành viên của mình, nhất là với thành viên
trẻ, trong đó công việc bao trùm và xuyên suốt là nuôi dưỡng Nhân cách.
Tác nhân trực tiếp tạo ra KHGĐ chính là VHGĐ
đã bị suy thoái, biến chất.
- Về mặt khách quan, thì đích thị các
khuyết tật trong cơ chế lãnh đạo, quản lý XH (thường gọi là “lỗi hệ thống”) là tác nhân gây tội từ xa và ở tầm
vĩ mô, là nguồn gốc sâu xa của vấn nạn KHGĐ. Chính nó đã tạo ra môi trường
thuận lợi cho sự tha hóa VHGĐ (và VH nói chung) tự do phát triển. Chính môi
trường chưa được kiểm soát một cách có hiệu quả đó, đã dung dưỡng cho nhiều
thói xấu, nhiều tiêu cực trong đời sống KT - XH phát triển mạnh mẽ để dẫn đến
sự tha hóa toàn diện về VH, trong đó bộ phận bị lâm bệnh nặng nhất là VHGĐ. Bên
cạnh đó, sự hư hỏng của Người Lớn (mà vai trò “đầu têu” là bộ phận sâu
mọt trong giới quan chức, đảng viên) đã nêu những gương xấu, thúc đẩy nhanh hơn
quá trình tha hóa VH nói trên, trước tiên là VHGĐ. Sự du nhập lối sống của nước
ngoài (thực dụng, ích kỷ, cá nhân,...) vào nước ta (nhất là qua phim ảnh, mạng
internet), cũng là một tác nhân quan trọng của quá trình tha hóa VHGĐ, mà nhiều
người trong chúng ta vẫn lầm tưởng và coi thường.
- Ở đây cần phải nhấn mạnh nhiều hơn đến
nguyên nhân khách quan, đến “lỗi hệ thống”, phải coi đó là nguyên nhân chủ yếu và sâu xa, xuyên
suốt, là nguyên nhân gốc. Bởi GĐ luôn được coi là một XH vi mô, VHGĐ
là một bộ phận của VH cộng đồng XH vĩ mô, và đó lại là bộ phận nền tảng. Chính
những thiếu sót và yếu kém của môi trường KT – XH đã đè nặng và luôn có xu
hướng muốn nhấn chìm đi những yếu tố tiến bộ của VHGĐ, làm cho VHGĐ ngày càng lún
sâu xuống vũng bùn tha hóa, để rồi kéo theo là vấn nạn KHGĐ. Đó là lô gích tất yếu của thực tiễn đã diễn
ra, không thể nói khác được. Chỉ ra được nguyên nhân chủ yếu này, cũng có
nghĩa là chúng ta đã xác định được ai là
người phải chịu trách nhiệm trước hết và trên hết : các nhà lãnh đạo, quản
lý XH ở các cấp.
Trong nhiều nghiên cứu về các hiện tượng KHGĐ,
các nhà khoa học đã cảnh báo cho mọi người về nguy cơ ngày càng suy thoái trầm trọng của VHGĐ, và theo đó là một
tương lai u ám của hệ thống các GĐ Việt Nam, nếu không có biện pháp ngăn
chặn hữu hiệu. Chúng ta vô cùng lo lắng về vận mệnh của đất nước, về số phận
của lớp trẻ đang lớn lên, đàng sau sự sụp đổ đó về VH ! Mọi người hãy cùng ra
tay cứu vớt lấy VHGĐ, khi còn chưa quá muộn ! Đấy cũng là việc khẩn cấp
để tự cứu lấy mình, cứu lấy những ngôi Nhà - GĐ của mình !
Và trong cuộc chiến cam go này, các dòng
họ có một trách nhiệm rất nặng nề. Với vai trò không thể thay thế,
trong việc gắn kết các GĐ có cùng huyết thống họ tộc, các dòng họ đều đã nhìn rõ
vị trí đương nhiên của mình là bộ phận xung kích, đối mặt trực tiếp với vấn nạn
KHGĐ. Hơn ai hết, các dòng họ chúng ta nhận thức rất rõ nguy cơ của KHGĐ đối
với sự tồn vong của các GĐ thành viên và của chính sự cố kết dòng họ. Bởi trong
cuộc chiến này, GĐ luôn là đối tượng bị tổn thương trước nhất, nặng nhất, nhiều
nhất, và theo cùng đó là rất nhiều hậu quả tiêu cực cho XH, cho dòng họ, trực
tiếp làm suy yếu dòng họ. Bởi vậy, các dòng họ chúng ta không thể bàng quan, mà
phải coi đó là một việc bức xúc của chính mình, phải xông vào cuộc ngay, không
thể chần chừ, trông chờ. Dòng họ phải nắm sát tình hình của từng GĐ thành viên để
có sự hỗ trợ kịp thời, sát sao và cụ thể. Phải giành giật cho được từng GĐ
thành viên đang lâm nạn. Phải bảo vệ cho được sự trong sáng của VH và truyền
thống dòng họ, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của cộng đồng và đất
nước.
Nhân bàn thảo về chủ đề này, chúng ta cũng
tha thiết đề nghị hệ thống chính trị các cấp hãy tổ chức tốt hơn nữa, một cách
thực chất, phong trào xây dựng Gia đình văn hóa (GĐVH), (cùng với cuộc
vận động “Xây dựng đời sống VH ở khu dân
cư”), với tinh thần “Làm thật để có hiệu quả thật”, “Chống cách làm hình
thức của bệnh thành tích”. Phải lấy nội dung đích thực của VHGĐ mà soi rọi vào các tiêu chí của GĐVH và các
mục tiêu của phong trào. Cần phải tìm cách khai thác và phát huy tốt những tác
động lan tỏa và ảnh hưởng tích cực từ phong trào này đến cuộc chiến chống lại
vấn nạn KHGĐ đang rất cần sự tiếp sức rộng lớn và mạnh mẽ từ cộng đồng XH. Bởi
hai hoạt động này đều cùng một mục tiêu nhân văn, cùng một đối tượng tác động
là VHGĐ, cùng chung một nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền VH tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc.
Nếu
mọi người thực sự quan tâm và cùng nhau hành động, để quyết vực dậy cho được VHGĐ
đang xuống cấp, thì chắc chắn có thể hạn chế tối đa được những đau đớn và mất
mát từ vấn nạn KHGĐ ! Và chỉ có như vậy
thì mới tạo ra được nền tảng vững chắc cho nền VH Việt Nam phát triển và thăng hoa trong
thời kỳ mới của đất nước.
Ngày
30 tháng 4 năm 2013
H M
* Đành rằng mỗi GĐ đều có VHGĐ
riêng cho mình. Nhưng về mặt nghiên cứu khoa học thì thông thường chỉ đặt vấn
đề nghiên cứu VHGĐ của một cộng đồng, tức là trên bình diện rộng và ở tầm vĩ
mô, chứ không chỉ nghiên cứu VHGĐ riêng của một GĐ.
Thơ sưu
tầm
GỬI CON YÊU DẤU
Nếu một mai thấy Cha Mẹ già yếu
Hãy thương yêu và thấu hiểu song thân
Những lúc ăn Mẹ hay thường vung vãi
Hay tự Cha không mặc được áo quần
Hãy nhẫn nại nhớ lại thời thơ ấu
Mẹ đã chăm lo tã, áo, bế bồng
Bón cho con từng miếng ăn, hớp cháo
Cho con nằm trong nệm ấm, chăn bông.
Cũng có lúc con thường hay trách móc
Chuyện nhỏ thôi mà Mẹ nói trăm lần
Xưa kia trong nôi giờ con sắp ngủ
Chuyện thần tiên Mẹ kể mãi không ngưng.
Có những lúc Cha già không muốn tắm
Đừng giận Cha mà la mắng nặng lời
Ngày còn nhỏ con vẫn thường sợ nước
Từng van xin “đừng bắt tắm Mẹ ơi”
Những lúc Cha không quen xài máy móc
Chỉ cho Cha những hướng dẫn ban đầu
Cha đã dạy cho con trăm nghìn thứ
Có khi nào trách mắng con đâu ?
Một ngày nọ khi Mẹ Cha lú lẫn
Khiến cho con
mất hứng thú chuyện trò
Nếu không phải là niềm vui đối thoại
Xin đến gần và hãy lắng tai nghe
Có những lúc Mẹ không buồn cầm đũa
Đừng ép thêm, già có lúc biếng ăn
Con cần biết lúc nào Cha thấy đói
Lúc nào Cha thấy mệt muốn đi nằm
Khi già yếu phải nương nhờ gậy chống
Xin nhờ con đỡ Cha lấy một tay
Hãy nhớ lại những ngày con chập chững
Mẹ dìu con đi những bước đầu ngày.
Một ngày kia Cha Mẹ chán sống
Thì con ơi, đừng giận dữ làm gì
Bởi mai này, đến con sẽ hiểu
Ở tuổi này, sống nữa để làm chi ?
Dù Mẹ Cha cũng có khi lầm lỗi
Nhưng suốt đời đã làm tốt cho con
Muốn
cho con được nên người xứng đáng
Thì giờ đây con cũng chẳng nên buồn
Con tức giận, có khi còn xấu hổ
Vì Mẹ Cha giờ ăn đậu ở nhờ
Xin hãy hiểu và mong con nhớ lại
Những ngày xưa khi con tuổi ấu thơ
Hãy giúp Mẹ những bước dài mệt mỏi
Để người vui đi hết chặng đường đời
Với tình yêu và cuộc đời phẩm giá
Vẫn yêu con như biển rộng sông dài
Luôn có con, trong cuộc đời
Yêu con, có mấy lời cho con.
Ba Mẹ của con
(chưa rõ tên tác giả)
Q
C st
|