|
Nhớ
ngày Bác Hồ gửi thư lần cuối cho ngành Giáo dục
(ngày 15 tháng 10 năm 1968)
Một vài suy nghĩ về
TRIẾT
LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM
QUA NHỮNG Ý KIẾN CỦA BÁC HỒ VỀ
GIÁO DỤC
Thùy
Tao
(Hội viên CGC Thanh Hóa, Thành viên
dòng họ Đỗ Hữu – gốc Hậu Lộc, TH)
Bác Hồ lúc sinh thời rất quan tâm đến Giáo dục (GD).
Bác đã có những chỉ bảo rất cụ thể và sát đúng với thực tiễn GD nước nhà. Những
chỉ bảo ấy cụ thể mà không vụn vặt, bởi thường là những vấn đề quan trọng, căn
cốt nhất của sự nghiệp GD. Bác thường hay nói nôm na nên dễ hiểu, chứ không hay
nói chữ như chúng ta bây giờ. Ngày nay khi chúng ta đọc lại những chỉ bảo đó,
và diễn đạt bằng thuật ngữ khoa học chuyên ngành, thì đó chính là các vấn đè :
mục đích GD, mục tiêu đào tạo của GD, nội dung GD, phương pháp GD,... và khái
quát lên chính là sự thể hiện quan niệm của Bác về Triết Lý Giáo dục (TLGD) Việt
Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh (HCM) về GD nói chung và những ý tưởng về
TLGD nói riêng đã được bộc lộ ra ở rất nhiều bài viết, bài nói của Người, trong
đó có các bức thư mà Bác đã viết gửi cho ngành GD từ năm 1945 đến cuối năm
1968, trước khi Bác mất gần một năm. Những ý kiến chỉ bảo của Bác tuy đã phát
ra từ nửa thế kỷ trước đây, nhưng đến nay hầu như vẫn còn nguyên giá trị, cả về
lý luận và thực tiễn.
Hiện nay, khi mà toàn ngành GD&ĐT đang
tập trung tâm sức để thực hiện yêu cầu Đổi mới căn bản và toàn diện đối vói sự
nghiệp, và toàn xã hội (XH) đang trông chờ và kỳ vọng ở sự chuyển biến thật sự
đó, thì thiết tưởng việc chúng ta ôn lại những chỉ bảo của Bác là vô cùng cần
thiết và rất đáng làm. Nhưng cần phải có thái độ nghiêm túc trong việc làm này
: ôn lại để hiểu đúng hơn những việc đang và sẽ thực hiện trong GD&ĐT, phải
suy ngẫm, đánh giá lại thực trạng một cách trung thực và khoa học, tìm cho ra
cách thực hiện đúng hướng hơn, sáng tạo hơn nhằm mang lại hiệu quả thực chất. Và
trên tinh thần khoa học, chúng ta xin phép được đối xử với những ý kiến của Bác
cũng khách quan, thẳng thắn như với các cách tiếp cận khác. Chúng tôi xin được
góp một tiếng nói vào Diễn đàn chung này của ngành.
Đã có nhiều hội thảo khoa học, và nhiều bài
viết, thậm chí có cả một cuốn sách dày bàn về TLGD Việt Nam và thế giới. Nhưng
qua những ý kiến mà chúng tôi được đọc hoặc nghe lại về vấn đề TLGD từ nhũng
nơi đó, thì chúng tôi thấy chưa thực sự an tâm với những lý giải rất đa dạng,
đa chiều về nội dung, do đó chắc là cũng chưa thể thuyết phục được số đông bạn
đọc chúng ta. Mặt khác, chúng ta cũng chưa được nghe ai chỉ ra, là khi luận về TLGD
thì phải nêu điều gì trong đó ? Và hình như, cho đến nay vẫn chưa có một phát
ngôn danh chính nào thật tường minh về TLGD có tính chính thống, có giá trị về
mặt học thuật và có hiệu lực về mặt chỉ đạo cả ? Hơn nữa, chính vấn đề này cũng
đã được xác định là một tiêu điểm, một trọng điểm, một yêu cầu cốt lõi của cuộc
bàn thảo ở cấp quốc gia về “Đổi mới căn bản và toàn diện với GD&ĐT”.
Có
lẽ, trước hết chúng ta hãy thống nhất về cách hiểu khái niệm TLGD. Dựa theo Từ
điển Tiếng Viêt định nghĩa từ TL (ứng với tiếng Pháp là từ philosophie, và
tiếng Anh là từ philosophy đều có nghĩa là TL hoặc Triết học) và một số bài
viết về vấn đề TLGD, chúng tôi xin thử đưa ra một cách hiểu sau đây về khái
niệm này, để chúng ta cùng nhau trao đổi tiếp.
Nói một cách chung nhất, thì TLGD là
những tư tưởng nền tảng để xây
dựng và phát triển GD. Nói rõ hơn, thì đó là hệ thống lý luận mang tính triết
học định hướng cho sự phát triển
của GD.
Bởi thế TLGD phải chỉ rõ được :
- Bản
chất của GD (GD là gì ? sản phẩm của GD là gì ?, tức là mục đích của GD
và mục tiêu đào tạo của GD, cùng các tính chất của nó).
- Các
quy
luật vận động của GD (động lực phát triển GD, các yếu tố chi phối GD, phương
pháp GD, phương thức vận hành nền GD,..).
Như
vậy có nghĩa là : TLGD chính là những đòi hỏi khách quan và rất bản chất của GD.
Muốn xây dựng một nền GD mới hoặc cải biến một nền GD cũ thì đều phải bắt đầu
từ TLGD, và trong thực tiễn điều hành, muốn thúc đẩy sự phát triên tiến bộ cho
GD thì cũng phải dựa vào TLGD. Việc xác định và hoàn thiện TLGD là một quá
trình tư duy khoa học và không thể chủ quan duy ý chí, phải dựa trên những căn
cứ lý luận và thực tiễn chuẩn xác và khách quan. Công việc này thông thường hình
như là do lực lượng lãnh đạo, quản lý XH chủ động đề xuất ban đầu, có tham khảo
ý kiến của các bậc trí giả. Nhưng có lẽ phải kể đến phần đóng góp chủ yếu nhất,
quan trọng và thường xuyên nhất là của các chủ thể GD và toàn dân qua các hình
thức phản biện XH, và nhất là qua các hoạt động thực tiễn, nhằm hiện thực hóa
TLGD.
TLGD luôn đi cùng với quá trình phát triển
GD, luôn thể hiện ra ngay trong các hoạt động GD. Sự tồn tại TLGD trong thực
tiễn GD của một quốc gia (hay một khu vực, một cơ sở GD&ĐT,…) là hoàn toàn
khách quan, là tự thân của thực tiễn GD. Việc nhận diện ra TLGD từ thực tiễn GD
tuy không đơn giản, nhưng cũng không quá khó, nếu chúng ta có cách tiếp cận thật
sự khoa học, biết tìm đến những dấu hiệu đặc trưng của TLGD thể hiện qua hoạt
động thực tiễn của GD. Và ngược lại, cũng không ai có thể dễ dàng áp đặt một ý
tưởng không chuẩn nào đó, hoàn toàn chủ quan duy ý chí, xuất phát từ lợi ích riêng
(cá nhân, nhóm), bằng ngụy biện tinh vi, nhằm chi phối thực tiễn GD, làm cho nhiều người có thể ngộ
nhận đó là TLGD.
Trong một nền GD thường là chỉ tồn tại một
TLGD chính thống, nhưng vẫn có thể đan xen những TL không chính thống, thậm chí
là lệch lạc, xuất phát từ một bộ phận các chủ thể GD hoặc nhóm cư dân nào đó,
chưa thông suốt TLGD chính thống, với nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do
cơ hội vì lợi ích riêng. Chẳng hạn : thực
tế ở đâu đó chúng ta đã thấy TL của GD lại có nét giống với TL của Thương mại (mua
bán, lợi nhuận), TL của GD Việt Nam lại muốn bắt chước một số khía cạnh như TL
của GD Hoa Kỳ (kỹ trị, thực dụng, vị kỷ,...), TL của GD trong nền KT tri thức lại
vẫn còn vương vấn, lưu luyến TLGD chỉ thích ứng với nền KT nông nghiệp xưa cũ
(ứng thí, sách vở, phụ thuộc,...).
Khi thực tiễn KT-XH biến đổi thì TLGD cũng
phải được thay đổi một cách tương thích. Thực tiễn GD ở mọi thời kỳ luôn chứa
đựng trong nó một TLGD tương ứng, TL đó hàng ngày hàng giờ vẫn chi phối mọi
hoạt động GD – thông qua sự vận dụng của con người. Vấn đề là chúng ta đã biết
được TL đó chưa, đã hiểu nó đến đâu, và đã vận dụng nó như thế nào trong quá
trình làm GD ? Lý luận và thực tiễn GD đã chỉ rõ vai trò quan trọng và cốt tử
của TLGD đối với mọi nền GD của các quốc gia. Bởi nó là “linh hồn” của nền GD,
nó định hướng cho sự phát triển của GD. Chính vì nhận thức được vai trò của
TLGD nên con người (chủ thể của GD và lực lượng quản lý XH) muốn can thiệp vào
sự phát triển của thực tiễn GD thì phải thông qua TLGD và bắt đầu từ TLGD. Đối với
những nền GD vì dân, như nền GD của chúng ta, thì nếu thực tiễn GD luôn bám sát
TL tất sẽ phát triển đúng hướng và tiến bộ, còn nếu xa rời TL thì sẽ có hậu quả
ngược lại. Nền GD Việt Nam
qua các thời kỳ lịch sử khác nhau đều luôn mang trong mình nó một TLGD tương ứng.
Và hiện nay cũng là như vậy, TLGD ấy vẫn đang tồn tại, nhưng mỗi người nhận
diện nó còn khác nhau. Thực trạng GD&ĐT hiện nay đang đặt ra câu hỏi : hoặc
là chúng ta đang làm sai TL mà nó đang có và cần phải có, hoặc là chúng ta đang
ngộ nhận một TL khác và cố làm theo đó ? Chắc hẳn là như thế rồi, nên thực
trạng nền GD của chúng ta hiện nay mới vô cùng ngổn ngang những bất cập, yếu
kém (1), và thậm chí là luẩn quẩn và sai
lầm (nếu không muốn nói là nó cũng đang khủng hoảng, giống như thực trạng KT-XH).
Do vậy, chúng ta rất cần phải xác đinh lại cho GD&ĐT Việt Nam cái TL đích thực là của nó, một
TL chuẩn xác, rõ ràng và thật sự khách quan, tương thích với bối cảnh mới của
đất nước là phát triển KT thị trường, hội nhập quốc tế, bảo vệ chủ quyền. Nếu
hiểu thống nhất được như vậy về khái niệm TLGD, thì chúng ta lại sẽ cùng nhau
ôn lại, phân tích lại những chỉ bảo của Bác Hồ về vấn đề này một cách thấu đáo.
Đương nhiên là để nhìn cho ra TLGD thì chúng
ta cần làm rõ được hai nội dung then chốt
nói trên. Và muốn thực hiện được yêu
cầu này thì chúng ta phải dựa vào lý
luận khoa học (Tâm lý học, GD học, XH học) để phân tích, lý giải, kết hợp tham
khảo những bài học phù hợp của GD các nước phát triển và các nước trong khu
vực. Đặc biệt ở đây, chúng ta phải biết khai
thác tối đa những chỉ bảo xác đáng của Bác Hồ, và đồng thời phải luôn đối
chiếu với thực tiễn GD Việt Nam.
1-
Về
bản chất của GD.
Bản chất của GD được thể hiện ra ở mục đích của GD, ở mục tiêu đào tạo của GD, cũng như ở các tính chất của nền GD.
1.1-
Về mục
đích của nền GD Việt Nam,
Bác Hồ đã nói rõ, nói nhiều lần. Chẳng hạn trong các bức thư Bác gửi cho ngành
GD, Bác vẫn luôn khẳng định :
- .........là
một nền GD sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích
cho nước Việt
Nam, một nền GD làm phát triển hoàn toàn những năng lực s
sẵn có của
các em.... (Thư gửi học sinh phổ thông – 9/1945),
- .......GD cần nhằm vào mục đích là thật thà phụng
sự nhân dân,...với nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc,...(Thư
gửi sinh viên Dự bị đại học – 4/1952),
- Trong thời gian ở đây các cháu phải hăng hái
học tập để đến ngày nước nhà thống nhất sẽ trở về phục vụ quê hương,... (Thư
gửi học sinh miền Nam – 6/1955),...
-
...Ở Liên Xô cũng phải luôn luôn nhớ đến
hoàn cảnh khó khăn ở trong nước, ....cần nhận rõ mình học cốt để sau này phục
vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Học ngành nào cũng phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ
quốc, của nhân dân mà chọn,... (Thư gửi lưu học sinh ở Matscơva –
7/1955),
-
...đều nhằm mục đích làm cho các em mai
sau trở nên những công dân tốt, những cán bộ tốt, những người chủ tốt của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Thư
gửi học sinh phổ thông – 10/1955),
- GD nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp
cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta,... (Thư gửi toàn ngành GD
đầu năm học 1968 – 1969, tháng 10/1968),...vv.....&.....vv..
Và còn nhiều chỉ bảo tương tự trong các bài
nói và bài viết khác nữa.
Như
vậy, một cách khái quát thì có thể nói mục đích của GD là đào tạo nguồn lực Con Người
(nguồn nhân lực) cho XH, trước hết là để phục vụ cho nhu cầu lao động trong các
lĩnh vực của đời sống KT – XH, cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong
bôi cảnh của đất nước ở thời kỳ lịch sử mà Bác sống và làm việc cùng với sự
nghiệp GD còn non trẻ, thì những chỉ bảo ấy là rất đúng đắn. Những chỉ bảo ấy
của Bác cũng đã được quán triệt trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà
nước về GD, góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu của nền GD trong mấy chục năm qua.
Gần đây, khi bàn thảo về “Đổi mới căn bản
và toàn diện với GD&ĐT”, đã có nhiều ý kiến đề nghị Việt Nam cũng nên hướng mục đích của GD
theo 4 trụ cột như UNESCO nêu chung cho GD toàn cầu : Học để Biết, Học để Làm, Học để Làm Người, Học để Chung sống. Theo
chúng tôi thì đây là một định hướng đúng, nhưng xin phép sẽ bàn sâu hơn ở phần
Mục tiêu đào tạo của GD, ngay sau đây.
2.1-
Về mục
tiêu đào tạo của nền GD Việt Nam.
GD đào
tạo ra những con người thì phải hướng tới mục tiêu là để họ được sống tốt hơn
và làm việc tốt hơn, phục vụ đất nước tốt hơn, so với nếu như họ không được
học. Để có thể sống và làm việc tốt, thì nguồn nhân lực do GD đào tạo ra phải
đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của sự phát triển KT-XH, cho từng ngành nghề, tương
thích với từng giai đoạn lịch sử của đất nước. Yếu tố cơ bản bảo đảm chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chính là phẩm
cấp của nhân cách mà người học được hấp thụ, được tạo dựng qua quá
trình GD. Do đó vấn đề đặt ra cho mọi nền GD là phải xác định đúng được nội
dung của nhân cách mà GD cần tạo dựng cho người học. Những nội dung này của
nhân cách phải được nêu rõ ràng và khoa học trong một diễn đạt chuẩn tắc mà lý
luận GD gọi là Mục tiêu đào tạo (MTĐT - chung cho nền GD, và cụ thể cho từng
ngành/bậc/cấp học). Và đây cũng là một nội dung then chốt cần làm rõ trong
TLGD. Đến đây thì chúng ta lại phải quay về với việc tiếp tục tìm hiểu khái
niệm, mà khái niệm tiếp theo là Nhân cách.
Nhân cách được hiểu là những phẩm chất, những thuộc tính tâm lý, mà nhờ đó, con
người trở thành chính họ, thành chủ thể của hoạt động, giao lưu,...Đó là
mặt XH của con người, là bộ mặt tinh thần của con người, là tính Người của con người,...nói lên giá
trị của con người trong XH. Nhờ có nhân cách mà từ con người sinh học trở thành
con người XH, hội đủ cả 3 mặt là sinh học, XH và tâm lý của một con người hoàn
thiện đúng nghĩa. Nhân cách cũng được hiểu như là toàn bộ những đặc điểm tâm lý đã ổn định, bền vững, của cá nhân, tạo nên phẩm giá của cá nhân đó.
Lý luận của các khoa học Tâm lý học, GD
học, XH học đã nêu khá cụ thể các phẩm chất tâm lý cơ bản sau đây (tức nội
dung) của nhân cách :
-
Xu hướng (nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, nhân sinh quan, niềm tin,...).
-
Tính cách (thái độ cùng nhũng biểu hiện như hành vi, cử chỉ, cách cư xử, lời ăn
tiếng nói,....).
-
Khí chất (trạng thái biểu hiện cường độ của các hoạt động tâm lý như sự năng
nổ, hoạt bát, tính nóng nảy, sự trầm tĩnh,...)
-
Năng lực (NL tái tạo, NL sáng tạo - với 3 cấp độ : năng lực, tài năng. nhân
tài).....
Cũng có ý kiến nêu gọn hơn, nhân cách bao
gồm những phẩm chất đạo đức và những phẩm chất trí tuệ. Bác Hồ cũng ưa cách
nói gọn theo hướng này để dễ hiểu cho mọi người, mà theo chúng tôi thì vẫn bảo
đảm được tính chuẩn xác, khoa học (ở mức độ tương đối). Người nói đại ý (trong
các bài viết và bài nói) như sau (2) :
Nhân cách bao gồm Đức và Tài, Đức là gốc, Tài là quan trọng,
Đức phải có trước Tài,..Đạo đức phải đi đôi với Tài năng, Đạo đức mà không có
tài năng thì vô dụng,...
GD phải đào tạo ra những con
người vừa “hồng” vừa “chuyên”, hồng là linh hồn, chuyên là cái xác, chuyên mà
không có hồng thì chỉ còn là cái xác không hồn,...
Con người ta có 4 đức là Cần,
Kiệm, Liêm, Chính, thiếu 1 trong 4 đức đó thì Đạo Đức chưa hoàn thiện,...(3)
Đức phải tu dưỡng mới có. Đức
phải thể hiện ra hành động, không chỉ có trong lời nói,..
Bởi vậy một nền GD tốt là
phải rất coi trọng việc GD đạo đức và tư tưởng - chính trị,...
Bác Hồ còn nói rõ thêm :
Đạo đức thường thể hiện ra ở
thái độ : nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường, tận trung với Nước, tận hiếu
với Dân,...
Người quân tử coi trọng Tài -
Đức, còn kẻ tiểu nhân thì chỉ coi trọng
đất đai, của cải,...
Bác Hồ cũng đã nói rất nhiều về vai trò và nội dung của đức
Liêm, 1 trong 4 đức mà Bác đã nêu,...
Nghiên cứu những chỉ bảo trên của Bác, chúng
ta càng hiểu rõ là Nhân cách phải do GD
mới có. Do đó cũng đã có ý kiến cho rằng : GD đẻ ra nhân cách, sản phẩm của GD chính là Nhân cách,
chính GD đã làm được việc XH hóa con người
sinh học, hoàn thiện nhân cách cho mọi người được GD. Thật vậy, lý luận khoa học (GD, Tâm lý, XH) đã
chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng (thậm chí chi phối) đến sự phát triển của nhân
cách là : GD, môi trường XH và gia đình, hoạt động, quan hệ giao tiếp, tư chất
di truyền,..., trong đó nhấn mạnh vai trò
chủ đạo là của GD. (Khái niệm nền GD trong bài viết này luôn được hiểu theo
nghĩa mới và đúng đắn nhất : một nền GD mở,
tức là GD suốt đời và cho mọi người , không phải chỉ trong khung khổ nhà
trường truyền thống, không cứ phải cắp sách đi học – như quan niệm của Bác Hồ
ngay từ những ngày đầu cách mạng).
Bây giờ chúng ta cần tìm hiểu thêm về những đòi hỏi đối với nguồn nhân lực trong bối
cảnh mới của đất nước, mà nét mới cần chú ý là nước ta đang hướng mạnh tới một nền
KT tri thức, để từ đấy nhìn rõ được những yêu cầu về nhân cách mà GD
phải đáp ứng.
Khi
nghiên cứu về nguồn nhân lực trong nền KT
tri thức, chúng tôi thấy nổi lên mấy điểm sau đây :
-
Từ lao động chân tay chuyển sang lao động trí tuệ, lực lượng lao động chân tay,
phổ thông ngày càng thu hẹp (Ví dụ ở Mỹ, ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước,
số công nhân áo trắng đã nhiều hơn số công nhân áo xanh). Chất lượng nguồn nhân
lực là ở trí tuệ, mà nét chủ đạo là năng
lực tự học và năng lực sáng tạo. Thị trường lao động có biến đổi căn
bản so với trước (về chất lượng, về cơ cấu, về không gian thị trường,...).
-
Từ sản xuất hàng hóa vật chất, chuyển sang sản xuất và phân phối hàng hóa phi
vật chất (tri thức) là chủ yếu. Tri thức và thông tin trở thành đòn bẩy của
tăng trưởng KT, dịch vụ tri thức đóng góp ngày càng nhiều vào GDP.
-
Tri thức khoa học và công nghệ phát triển vô cùng nhanh, theo tốc độ cấp số
nhân, trí tuệ con người không thể thu nhận chỉ bằng khả năng ghi nhớ, không chỉ
học một lần là đủ.
-
Không chỉ có tri thức khoa học và công nghệ
biến đổi nhanh, mà các mặt khác (KT, chính trị, XH, môi trường sinh
thái, văn hóa, đạo đức,...) cũng có những thay đổi lớn, thậm chí có thể là tiêu
cực, bất thường, khó lường. Do vậy mà con người phải có năng lực thích ứng
nhanh trong mọi tình huống, phải có bản lĩnh để biết sống phù hợp và sống tử
tế.
-
Nền KT từ khép kín trong từng nước, rộng hơn là trong khu vực, chuyển sang có tính Mở ngày càng cao, ra phạm vi toàn
cầu. Thông tin và tri thức lưu thông toàn cầu, mở rộng vô tận. Kết cấu hạ tầng
của nền KT có quy mô toàn cầu với dịch vụ chất lượng ngày càng cao. Mọi mặt của
đời sống XH cũng đều hướng tới tính toàn
cầu, lệ thuộc và liên kết, liên thông với nhau. Do đó con người phải có tầm
nhìn rộng và xa, biết cách chung sống, biết cách học hỏi, hiểu được quyền và
nghĩa vụ của con người toàn cầu.
- Quản
lý tổ chức và vận hành KT-XH có chuyển biến rất cơ bản, dựa trên công nghệ
thông tin : Chính phủ điện tử, thương mại điện tử,...thậm chí có cả thư viện
ảo, trường học ảo (dạy học trực tuyến),...
-
Cơ cấu nguồn nhân lực cũng khác nhiều so với các nền KT trước đó (KT nông nghiệp,
KT công nghiệp). Trong nguồn nhân lực mới phải có thêm bộ phận nhân lực của các
lĩnh vực kinh doanh, lãnh đạo, quản lý. Tuy vẫn duy trì 3 tầng trình độ đào tạo
(sơ cấp, trung cấp và đại học trở lên), nhưng bậc đại học thì chủ yếu là đào
tạo ra lao động tri thức, tức là lực lượng lao động có tri thức và tay nghề cao
để tham gia trực tiếp vào sản xuất (chứ không phải là tầng lớp trí thức như ở
ta lâu nay),...
Từ những điều phân tích trên về nền KT tri
thức, chúng ta thử hình dung ra xem nguồn nhân lực của nó cần có những phẩm
chất gì trong nhân cách ?
Ở các bài viết mà chúng tôi đã đọc, thì những
ý kiến luận giải về câu hỏi này chưa thật rõ ràng, còn chung chung, còn phiến
diện,..., tuy không sai.
Chẳng hạn đã có các ý kiến như sau về nội
dung của nhân cách (mới) :
- Phải
bao gồm Tinh thần khoa học và những giá trị nhân văn cao cả.
Hoặc :
-
Phải có năng lực tự học và khả năng thích nghi để tồn tại trong điều kiện luôn
thay đổi. Hoặc đã chỉ ra các đặc trưng cụ thể như :
- Khám
phá, tiến thủ, coi trọng thực tế.
-
Tôn trọng giới tự nhiên, yêu quý môi trường.
-
Không ngừng hoàn thiện bản thân.
-
Đoàn kết, sống khoan dung với người khác, biết hợp tác,...
Cũng có bài viết đã liệt kê ra những phẩm
chất đạo đức, và những phẩm chất trí tuệ để luận giải về nội dung của nhân cách,
đáp ứng với đòi hỏi của nền KT tri thức. Có bài viết lại nêu theo hai nội dung
Đức và Tài, như quan niệm của Bác Hồ (có khác với cách nêu vừa kể trên),...
Trong khi lý giải về nội dung nhân cách mới,
ứng với nền KT tri thức, một số bài viết đã lưu ý chúng ta cần phải biết cảnh
giác để tìm cách ngăn ngừa với những hạn chế của nhân cách cũ (ứng với các nền
KT nông nghiệp, KT công nghiệp), mà nhất định chúng sẽ còn đeo bám dai dẳng. Chẳng
hạn, trong nền KT nông nghiệp thì thường gặp loại nhân cách phụ thuộc (vì con người ở đây luôn phải
sống phụ thuộc vào thiên nhiên, vào quần thể làng xã,...), dễ hẹp hòi, cục bộ,
hạn chế tầm nhìn,...Trong nền KT công nghiệp lại thường gặp loại nhân cách vị kỷ, cá nhân, vụ lợi,...và loại nhân
cách đơn điệu, giống nhau hàng
loạt,...
Qua rất nhiều ý kiến luận giải về nội dung
nhân cách mới của nguồn nhân lực, chúng tôi thấy nổi lên những phẩm chất quan
trọng sau đây cần lưu ý nhiều hơn, so với nhận thức cũ trước đây :
Năng lực tự học suốt đời, Năng lực sáng tạo,
Năng lực thích ứng, Có bản lĩnh vững vàng, Biết chung sống, biết hợp tác,..
Trên cơ sở những hiểu biết “nguyên liệu” vừa
nêu, chúng ta bàn tiếp đến vấn đề cốt lõi hơn : MTĐT của GD Việt Nam
là gì ?
Theo thiển nghĩ của chúng tôi thì MTĐT của GD
không chỉ là một sự liệt kê giản đơn, mang tính cơ học, những biểu hiện của Đức
và Tài, tức nội dung của nhân cách, như vừa nói ở trên, mà phải chỉ rõ được 2
điều :
a/
Điều 1: GD đào tạo ra những con người để
đáp ứng cho cái gì ? (gần như là mục đích của GD).
b/
Điều 2 : Những đòi hỏi về nhân cách đối
với những con người được đào tạo là gì ? (tức nội dung của nhân cách).
Rõ ràng là điều thứ 1 chi phối, quy định nội
dung của điều thứ 2. Do đó chúng ta hãy luận bàn trước về điều thứ 1.
Lâu nay hình như chúng ta không mấy lưu tâm
đến điều thứ 1, vì coi đó là điều hiển nhiên rồi : GD phải nhằm đáp ứng nhu cầu
XH, tức là giúp cho con người qua đào tạo thực hiện được nghĩa vụ XH của mình.
Chúng ta chưa thấy (hoặc cố tình không thừa nhận) mặt thứ hai của vấn đề : GD
còn nhằm giúp cho con người được phát triển toàn diện, đảm bảo sự phát
triển Tự do của mỗi cá nhân (để
con người thật sự được giải phóng triệt để, như mục tiêu của rất nhiều cuộc
cách mạng tư sản, cách mạng XH chủ nghĩa,..đã đề ra). Trong bối cảnh lịch sử
của đất nước ta, ở thời kỳ đầu của cuộc Cách mạng và trong hai cuộc kháng
chiến, việc nhấn mạnh nhu cầu XH là cần thiết và có thể coi là hợp lý, là nhân
văn, nên có thể chấp nhận. Nhưng đến bây giờ, để đất nước ta hội nhập tốt và để
bước vào nền KT tri thức, mà vẫn như cũ thì không được nữa rồi, vì trái quy luật,
trái với xu hướng chung của thời đại, và nhất định sẽ kìm hãm sự phát triển.
Chính ở đây cũng hàm chứa một nội dung triết học mà chúng ta đã bỏ qua khi tư
duy và luận bàn về MTĐT cũng như về TLGD. Vấn đề này liên quan đến hai khuynh
hướng triết học đang có ảnh hưởng đến việc đào tạo con người, trên phạm vi toàn
cầu : thuyết Bản vị XH và thuyết Bản vị
cá nhân. Một bên lấy việc đáp ứng nhu cầu XH làm MTGD. Một bên lấy việc
phải đáp ứng sự phát triển Tự do của cá nhân làm MTGD (với luận cứ : Con người luôn được coi là
trung tâm trong mọi hoạt động của đời sống KT-XH, Con người luôn được coi là
mục tiêu, là động lực của mọi cải biến XH,…). Ở những nền GD có khuynh hướng
bảo thủ thì vẫn cố tình đi theo thuyết bản vị XH. Ở nhiều nền GD theo khuynh
hướng cấp tiến thì lại thường nhấn mạnh mục tiêu phát triển Tự do cá nhân. Và ở
cả hai khuynh hướng này đều có những biểu hiện thái quá, thậm chí đến mức cực
đoan. Còn ở Việt Nam
chúng ta thì đã đến lúc không thể tiếp tục coi mục tiêu GD chủ yếu chỉ là nhằm
đáp ứng nhu cầu XH như trước đây được nữa.
Theo một số nhà khoa học và chuyên gia GD thì
MTĐT của GD Việt Nam là phải kết
hợp hài hòa sự phát triển Tự do của cá nhân với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực
cho XH, kết hợp giữa mục đích phục vụ Tổ quốc, nhân dân với mục đích phát triển
đa dạng cá tính, nhân cách, năng lực sáng tạo cho mỗi người,... Sự kết
hợp này vừa bảo đảm mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với XH, giữa chất lượng
con người với đòi hỏi của sự phát triển XH, lại vừa phù hợp với thực tiễn GD
Việt Nam và xu hướng của GD thế giới. Đừng để cho 2 đòi hỏi này mâu thuẫn với
nhau, thậm chí phủ định nhau. Về điều thứ 1 này rất cần phải trao đổi cho thấu
đáo để thay đổi hiện trạng. Ở đây chúng ta cần khai thác thêm những chỉ bảo xác đáng của Bác Hồ. Trong nhiều bài
nói, bài viết về GD, nhất là trong các bức thư gửi cho ngành GD, nếu không tinh
ý, chỉ đọc lướt qua, thì chúng ta có thể ngộ nhận là hình như Bác chỉ nhấn mạnh
sự đáp ứng nhu cầu XH khi nói đến mục đích và mục tiêu GD. Trong bối cảnh đất
nước có chiến tranh, ở những thời điểm nóng nào đó, Bác có thể nhấn mạnh như
vậy cũng là điều dễ hiểu, là hợp lẽ, là cần thiết. Nhưng sự thật thì không hẳn
là như vậy, bàn về mục tiêu lâu dài của GD, cũng đã có lúc Bác đề cập đến mục
tiêu phát triển con người, và có cả sự kết hợp giữa hai mục tiêu nữa.
Chúng ta hãy đọc lại ngay bức thư đầu tiên
Bác gửi cho các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa : ....Ngày nay các em được cái
may mắn hơn cha anh mình là được hấp thụ một nền GD của một nước độc lập, một
nền GD nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam,
một nền GD làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em. ...
Ở một dịp khác, Bác lại nói đại ý :
...Học để làm việc, để làm người, để phụng sự
đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân,
Tổ quốc và nhân loại,...
Và cũng ở một cơ hội khác nữa, Bác nói :
....GD nhằm giải phóng con người thoát
khỏi tối tăm, lạc hậu, đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc văn minh, tiến
bộ,...
Còn về điều thứ 2 (nội dung nhân cách mà XH
đòi hỏi) thì cũng đã rõ, hầu hết các bài viết đều nêu lên những phẩm chất cơ
bản nhất về Đức và Tài, ứng với 2 đòi hỏi :
- để cá nhân được sống tốt hơn, được thực
sự làm Người (tức là được phát triển toàn diện, nhất là được phát triển Tự do
của cá nhân).
- để cá nhân được làm việc tốt hơn, được
phục vụ đất nước tốt hơn (tức là đủ Tài và Đức để làm việc theo nghề).
Cũng có ý kiến nêu tách bạch theo từng nội
dung, nên dễ hiểu và dễ theo dõi, nhưng người đọc cần lưu ý rằng sự phân biệt
giữa Đức và Tài chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì có những phẩm chất của nội
dung này lại vừa là của nội dung kia, và giữa chúng luôn có sự tiếp nối và
chuyển hóa. Và cũng có ý kiến nêu chung, không tách bạch giữa Đức và Tài, tuy
cũng dễ hiểu, nhưng đôi chỗ cũng có thể bị hiểu lẫn lộn, chồng chéo, trùng lặp
về nội hàm.
Chúng tôi xin phép nêu ra một vài dạng tư
duy về MTĐT của GD Việt Nam
sau đây để chúng ta đối chiếu, tham khảo và rộng đường trao đổi.
+ MTĐT của GD Việt Nam được ghi trong Luật GD như sau
:
Mục tiêu GD là đào tạo con người
Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề
nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình
thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ MTĐT của GD Việt Nam được nhà văn Nguyên Ngọc đề
xuất như sau :
Đào tạo những con người tự do, có
năng lực tư duy độc lập, giàu khả năng và ý chí sáng tạo, dám và biết tự tìm
chân lý, sống và làm việc theo chân lý đã chọn, và chịu trách nhiệm vè sự lựa
chọn đó.
+ Rất nhiều ý kiến khác, muốn MTĐT của GD
Việt Nam
nên đi theo hướng của UNESCO đã chỉ ra về
4 trụ cột của GD : Học để Biết, học để Làm, học để Làm Người, học để
Chung Sống (có cụ thể hóa cho từng trụ cột). (4)
+ Một tác giả khác nêu : MTĐT của GD
Việt Nam là đào tạo ra những con người khỏe về thể chất, sáng về trí tuệ, độc
lập về tư duy, giàu lòng nhân ái, đẹp về ước mơ, mạnh về ý chí, nghị lực, thật
sự năng động, sáng tạo,…
3.1-
Về các tính chất của nền GD Việt Nam.
Có nhiều bài viết về TLGD đã đề cập thêm về
những tính chất cơ bản của nền GD Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các
tính chất : dân chủ, thực học, công bằng,..
Theo chúng tôi thì đây cũng chính là hệ quả từ 2 phần trên (1.1 và 2.1), nên
xin để một dịp khác chúng ta sẽ bàn sâu về vấn đề này.
Như vậy, có
thể nói gộp lại : Bản chất của GD là hoạt động đào luyện con người, đó
là quá trình tạo dựng nhân cách, bao
gồm hai việc chủ yếu là rèn Đức và luyện Tài. Bản chất của
GD là một hoạt động khoa học, có nội dung
nhân văn cao cả. Hoạt động GD không chỉ nhằm phục vụ cho nhu cầu trước mắt,
mà còn là sự chăm lo cho tương lai lâu dài (Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng
người – Bác Hồ), không chỉ nhằm đáp
ứng cho đòi hỏi của XH, mà còn đáp ứng cho khát vọng Tự do – Hạnh phúc cho mỗi
cá nhân, góp phần quan trọng giải phóng con người một cách triệt để.....
2-
Về
quy luật phát triển của GD Việt Nam.
Cũng giống như TLGD, các quy luật của GD cũng
luôn tồn tại khách quan, ẩn chứa ở ngay bên trong mỗi hoạt động GD, với vai trò
là công cụ điều khiển sự vận hành của GD. Quy luật phát triển GD luôn gắn liền
với bản chất của GD. Hiểu đúng được bản chất của GD thì chúng ta cũng dễ nhận
ra các quy luật của nó. Nhìn một cách bao quát, chúng ta phải xét xem bản chất
GD là loại hoạt động gì, để nhận ra quy luật tương ứng của nó trong 3 loại quy
luật (tự nhiên, XH, hay tư duy). Chẳng hạn, nếu coi GD là hoạt động đào luyện con người, nhằm tạo
dựng nhân cách cho mỗi người, trong đó có việc rất quan trọng là nâng cao nhận
thức và trình độ tư duy cho đối tượng, thì hẳn nhiên là GD phải chịu sự chi
phối của các quy luật nhận thức, tư duy.
Hoặc nếu nhìn vào chức năng của nó là đào tạo nguồn nhân lực và sản sinh ra tri
thức khoa học và công nghệ cho sự phát triển KT-XH, thì GD lại là một loại hoạt
động KT-XH, do đó nó đồng thời cũng bị chi phối bởi các quy luật XH (bao gồm cả quy luật KT),…Và đương nhiên, một trong các quy luật bao trùm nhất và phổ biến
của mọi sự phát triển mà chúng ta phải xem xét trước hết, là quy luật về nguồn
gốc của sự phát triển : nguồn gốc
của sự phát triển là do nội lực tự
thân của đối tượng quyết định.
Nghiên cứu TLGD thì đương nhiên phải tìm hiểu
được các quy luật của GD, để điều chỉnh lại sự vận hành các quy luật, nhằm cải
biến hiện trạng GD đang có nhiều bất cập, yếu kém do làm sai quy luật, tức cũng
là phản lại TL.
Theo thiển nghĩ của chúng tôi, thì phải
chăng quy luật phát triển của GD Việt Nam phải là sự kết hợp chặt chẽ, hữu cơ giữa 3
loại quy luật sau đây :
1.2- Trước hết, đó là quy luật của Sự Học của con người (một loại quy luật tư
duy, tâm lý), bởi GD&ĐT chính là Sự
Học của toàn XH. Sự Học ở đây được hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất, không đơn thuần
chỉ là học chữ, và như phần trên vừa phân tích : đó là sự tôi rèn Nhân cách (Đức và Tài). Sự Học có nhiều quy luật, nhưng quy
luật quan trọng nhất, bao trùm và xuyên suốt là Sự Học
phải được vận hành bằng Nội lực tự học,
tự GD ở mỗi người học. Nội lực tự học (5) của người học là nhân tố quyết định chất lượng và hiệu quả của sự học
ở từng người học. Sự học của mỗi người có chất lượng và hiệu quả thực sự chỉ
khi người đó có ý chí, có tinh thần tự học, và có năng lực tự học. Không hề có
ngoại lệ cho bất cứ ai !
Đây vừa là sự thể hiện quy luật chung, phổ biến
của mọi sự phát triển, như vừa nêu ở trên, nhưng cũng vừa là quy luật đặc thù của
Sự học.
GD là sự học của cộng đồng XH, chất lượng và
hiệu quả của GD hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng và hiệu quả của sự học ở mọi
người học. Do dó quy luật phát triển của GD phải gắn liền với, phải dựa vào quy
luật của sự học của con người. Chúng ta coi quy luật của sự học là quy luật gốc của quy luật GD là vì vậy.
Chính nội lực tự học, tự GD của đông đảo người
học đã tạo nên động lực mạnh mẽ để phát triển GD&ĐT, chứ không phải là các ngoại
lực khác, dù rất mạnh. Và cũng chỉ nhờ có nó mới tạo nên được nội lực của nền GD.
Một nền GD mà vắng bóng nội lực tự học, tự GD của người học thì không bao giờ
có được nội lực để phát triển tiến bộ. Nội lực của một nền GD bao giờ cũng bắt
nguồn từ nội lực tự học, tự GD của đông đảo người học, vì đó là nhân tố cốt lõi
nhất, tinh túy nhất và bản chất nhất.
Hiểu
được quy luật này thì trong GD&ĐT cần tạo điều kiện để mọi người học biết biến quá trình GD thành tự GD, quá trình
đào tạo (ĐT) thành tự ĐT. Ở tất cả các loại hình trường lớp và trong mỗi gia
đình phải rất coi trọng việc xây dựng Nội lực tự học cho người học, giúp họ
biết vận dụng và phát huy nội lực tự học đó trong mọi khâu của quá trình học
tập, rèn luyện. Phải chuyển mạnh, chuyển
ngay cách học (và dạy) từ chủ yếu là học (và dạy) kiến thức sang học (và dạy) cách tự học. Đòi hỏi này
càng đặt ra gay gắt hơn trong bối cảnh của hội nhập toàn cầu và nền KT tri
thức. Phải mạnh dạn thực hiện cách dạy
học dân chủ (như Bác Hồ đã từng chỉ bảo), cách dạy học tích cực, giúp người học được làm chủ quá trình nhận
thức của mình, được chủ động và sáng tạo trong cách học, …
Mặt khác, cần cân nhắc thận trọng việc sử dụng các ngoại lực tác động vào sự học,
sao cho đúng hướng, nghĩa là ngoại lực đó phải cộng hưởng được với nội lực tự
học, tăng thêm sức mạnh cho nội lực tự học, chứ không thể lấn át nội lực tự
học, làm yếu nội lực tự học, muốn thay thế vai trò của nội lực tự học,....dẫn
đến hậu quả là nội lực tự học cứ thui chột dần, suy giảm dần, thậm chí mất dần ở
số đông người học. Đó chính là tác nhân số 1 có thể tàn phá chất lượng GD, làm
cho nền GD tha hóa, yếu kém triền miên, tuột dốc ngày càng nặng nề. Vì vậy phải
chấn chỉnh triệt để các hiện tượng làm
trái với quy luật này. Chẳng hạn như :
Hiện nay trong GD phổ thông (và cả đại học)
cách dạy phổ biến là áp đặt, một chiều, người học luôn ở thế bị động, luôn phụ
thuộc vào thầy, vào sách,…
Trong GD phổ thông cho học thêm tùy tiện theo
phong trào, luyện thi ồ ạt, xô bồ,...
Hoặc trong cả phổ thông và đại học đều quá
chuộng trường ngoại, mê du học,...nhưng lại không thực sự chăm lo cho trường
nội, không chăm lo cho nội lực tự học, kể cả với người du học,…
Hoặc
trong hoạt động khuyến học chỉ chú ý việc hỗ trợ tài chính và vinh danh những
học trò đỗ đạt cao, mà không hề để ý đến việc tác động vào nội lực tự học của
số đông người học,...
Hoặc những chuyện học thuê, thi thuê, mua bán
điểm, mua bán luận văn, mua bán bằng,..trong GD đại học và sau đại học (và kể
cả trong GD phổ thông),..vẫn cứ phát triển !...
Quán
triệt quy luật này cũng có nghĩa là chúng ta phải thật sự chăm lo việc học (tự học) của người học, phải coi người học là nhân vật trung tâm trong GD&ĐT, phải coi việc
học (và dạy) là hoạt động trung tâm trong các hoạt động ở các cơ sở GD&ĐT,..
Nội lực của GD&ĐT là động lực chủ yếu
thúc đẩy GD phát triển. Ngoại lực dù rất mạnh, cũng không thể thay thế để xoay
chuyển chất lượng GD. Nội lực này phải bắt nguồn từ Nội lực tự học, tự GD của
người học.
2.2-
Thứ hai là quy luật về quan hệ biện chứng
giữa Thượng tầng kiến trúc và Hạ tầng cơ sở KT-XH. Bởi vì một trong các
sứ mệnh quan trọng của GD&ĐT là xây dựng nền Văn hóa và Con Người Việt Nam, nên GD&ĐT đương nhiên là một bộ
phận quan yếu của Thượng tầng kiến trúc (bộ phận tư tưởng - văn hóa). Điểm mấu
chốt trong quy luật này phải luôn nhớ, là hạ tầng cơ sở KT-XH bao giờ cũng giữ vai trò quyết định trong mối
quan hệ hai chiều đó. Hiểu được quy luật này thì chúng ta cần :
+ Một mặt phải tạo điều kiện để cơ sở hạ tầng
KT-XH luôn phát huy tác dụng tích cực đến GD&ĐT, một mặt phải hạn chế tối
đa được những ảnh hưởng tiêu cực từ những yếu kém của KT-XH đến GD&ĐT, phải
rốt ráo cải biến KT-XH cho tốt lên,...
+ Bản thân GD&ĐT phải nỗ lực hết mình trong
việc thực hiện sứ mệnh đào tạo con người mới và xây dựng nền văn hóa mới nhằm
góp phần tích cực cải biến cơ sở hạ tầng KT-XH. Bản thân GD&ĐT không được
có thái độ ngồi chờ, đổ lỗi cho khách quan, mà phải chủ động vượt lên,...
+ Không thể đòi hỏi GD&ĐT phải đổi mới quyết
liệt, trong khi KT-XH vẫn trì trệ và suy thoái nặng nề. Không bắt GD&ĐT
phải làm những việc quá sức, đừng kỳ vọng GD&ĐT đạt được những mục tiêu quá
tầm tay, không vượt qua được sự ràng buộc của KT-XH,.. Chẳng hạn :
- KT-XH khủng
hoảng thì GD&ĐT không thể phát triển ổn định, và còn kéo theo nhiều rối
nhiễu, sụt giảm khác nữa,…
- KT-XH ngày càng có khoảng cách giàu – nghèo
tăng nhanh thì GD&ĐT khó lòng tạo được mặt bằng phát triển tương đối đồng
đều, khó lòng có được công bằng trong GD&ĐT,…
- Quan
hệ trong đời sống KT-XH đều là quan hệ mua bán, mọi thứ giá trị đều có thể mua
được bằng tiền, rất nhiều sự thăng tiến đều nhờ Tiền chứ đâu phải dựa vào Tài
năng,...thi làm sao người học có được nội lực tự học đúng đắn và mạnh mẽ để phát
triển tài năng,...
- Văn hóa và đạo đức của đời sống KT-XH đang
xuống cấp nghiêm trọng thì làm sao có được chất lượng tốt trong việc GD tư
tưởng – chính trị, đạo đức và lối sống cho người học,..
- Thực tiễn KT-XH đang đầy rẫy gian dối, lừa
lọc thì GD&ĐT không thể có được sự trung thực đúng nghĩa, không thể có được
sự thân thiện thực chất,...
3.2- Thứ ba là quy luật của Thị trường
(giá trị, cạnh tranh, cung-cầu, lợi nh
nhuận,...). Bởi GD&ĐT cũng đang gánh một sứ mệnh
rất quan trọng khác n
nũa
là đào tạo ra nguồn nhân lực, một
thành tố chủ yếu của lực lượng sản xuất mới, để phục vụ trực tiếp cho sự phát
triển của KT-XH. Trong bối cảnh mới của đất nước là phát triển nền KT thị
trường và hội nhập quốc tế thì GD&ĐT không chỉ còn đơn thuần là một hoạt
động tư tưởng - văn hóa, hay là một phúc lợi XH, một dịch vụ công,...như chúng
ta vẫn hiểu trước đây, mà nó đã và đang thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của nền KT thị trường. Hơn nữa, GD&ĐT
không chỉ cung cấp nguồn nhân lực, mà còn là nơi sản sinh ra tri thức khoa học
và công nghệ. Những sản phẩm của GD&ĐT trong nền KT thị trường cũng đều
được coi là hàng hóa, loại hàng hóa đặc biệt, đã luôn có mặt trên các thị
trường (TT) lao động, TT khoa học & công nghệ, và cả TT hàng hóa khác nữa,...
Thế nên GD&ĐT đang trở thành một loại dịch vụ sinh lợi nhuận đặc biệt.
Trong nền KT thị trường thì GD&ĐT cũng phải cạnh tranh, sản phẩm của
GD&ĐT cũng cần có thương hiệu. Do đó trong các hoạt động đào tạo và nghiên
cứu khoa học thì tất yếu GD&ĐT phải tuân theo các quy luật của thị trường
mới có thể duy trì và phát triển được các hoạt động này. Cái khó ở đây là làm
sao để các quy luật thị trường không thể lấn át được, không thể làm vô hiệu hóa
được quy luật cơ bản của GD, không làm mất đi bản chất của GD là đào luyện con
người. Dứt khoát GD&ĐT không thể bị thương mại hóa, không thể bị biến thành
một hoạt động có bản chất khác hẳn (như bản chất kinh doanh, mua bán, chẳng hạn).
Bác Hồ chưa có phát biểu chính thức về quy
luật GD, nhưng Bác đã rất nhiều lần nói về nguyên
tắc GD, phương pháp GD, phương châm phát triển GD,..với GD phổ thông, GD
chuyên nghiệp, và với cả công tác huấn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên. Xét
về mặt khoa học thì đây chính là những hệ quả, những biểu hiện về sự vận dụng
quy luật GD. Ngày nay khi nghiên cứu những chỉ bảo của Bác, thì chúng ta lại đã
tổng hợp khái quát lên, nhò đó mà nhìn rõ hơn các quy luật GD. Thật vậy, khi
đọc lại những chỉ bảo của Bác, chúng ta thấy Bác đã chú ý nhiều đến các vấn đề
: học đi đôi với hành, học kết hợp với
lao động sản xuất, lý luận liên hệ với thực tế, kết hợp GD nhà trường – gia
đình – XH, phương pháp nêu gương, phương pháp dạy học dân chủ, phương pháp tự
học,…
Đặc biệt, Bác rất quan tâm đến
vấn đề tự học, vấn đề độc lập suy nghĩ. Bác nói đại ý : Về cách học, phải lấy tự học làm cốt. Phải xác định rõ mục đích học tập, phải kiên
trì, bên bỉ. Phải có kế hoạch, biết sắp xếp thời gian hợp lý, phải tận dụng mọi
hoàn cảnh để tự học, phải tự tạo ra điều kiện để tự học. Trong tự học thì phải
biết suy nghĩ độc lập, học đến đâu phải thực hành, luyện tập đến đó. Học ở mọi
nơi, mọi lúc, học suốt đời, học không biết chán, học không bao giờ đủ, còn sống
thì còn phải học, . ,…
Ngày nay, bối cảnh KT-XH đã khác trước, GD
nước nhà cũng đang được đổi mới theo hướng hiện đại hóa, việc dạy và học đang
và sẽ khác nhiều so với trước đây nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, nhưng không
phải vì thế mà những chỉ bảo của Bác trở nên không còn phù hợp. Trong điều kiện
mới tốt hơn, nhưng bản chất của GD vẫn không thay đổi, con người vẫn là chủ thể
của GD, người học vẫn giữ vai trò trung tâm trong hoạt động GD.
Ngoài ra, cũng phải nói thêm diều này về các quy luật GD : chúng tôi
nhận thấy cũng còn một vài khía cạnh chưa được làm rõ qua bàn thảo :
- GD&ĐT
có vai trò kép (vừa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, lại
vừa
là một thiết chế quan trọng của hạ tầng cơ sở KT-XH) thì sẽ chịu chi phối bởi quy
luật nào là chính ?
- Trong
3 loại quy luật trên thì quy luật nào được coi là cơ bản nhất, tức là
giữ vai trò chủ đạo, xuyên suốt ? và mối quan hệ giũa chúng như thế nào ?
Hiểu đúng từng quy luật và biết kết hợp một
cách khoa học khi vận dụng thì các quy luật này mới thực sự thực hiện được vai
trò là công cụ điều hành, thực sự tạo nên động lực mạnh mẽ để phát triển
GD&ĐT, nhằm hiện thực hóa TLGD. Còn nếu không thì sẽ có kết quả ngược lại,
GD sẽ rối tung lên, sẽ tiếp tục trì trệ và suy thoái, tức cũng là phản lại TLGD
!
Một
nền GD tốt phải là một nền GD có TLGD rõ ràng, đúng đắn, vừa có tính khoa học
cao, vừa có tính nhân văn sâu sắc. Chúng ta đang đi tìm lại, xác định lại TL đó
cho nền GD Việt Nam,
để mong từ đó mà chúng ta sẽ thực hiện được thắng lợi các yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền GD của
nước nhà.
Trong nhiệm vụ khó khăn này, rất may mắn là
chúng ta đã được thừa hưởng những chỉ bảo rất xác đáng của Chủ tịch HCM, tuy
rằng Người chưa hề dùng đến từ TLGD.
Ngoài những chỉ bảo về những điều cốt lõi nhất của TLGD như phân tich ở các
phần trên, thì Bác cũng đã nhiều lần nêu lên các ý tưởng lớn cho GD Việt Nam,
mà ngày nay khi đọc lại chúng ta bỗng nhận ra đó chính là một số định hướng
quan trọng cho GD Việt Nam, trong đó ẩn chứa những TL rất sâu xa về GD. Chẳng
hạn, Bác từng nói : Phải chống chính sách
ngu dân, nhồi sọ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì lợi ích trăm năm thì
phải trồng người. Một nền GD sẽ làm phát triển hoàn toàn các năng lực sẵn có
của các em. GD làm người. Trọng dụng nhân tài. Dù khó khăn đến đâu cũng phải ra
sức thi đua dạy thật tốt, học thật tốt. Xây dựng một nền GD của một nước độc lập,... ...
Qua cuộc
bàn thảo rộng rãi về TLGD, đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết và sâu sắc. Những ý kiến này ít hay nhiều đều có
sự gặp gỡ với những quan niệm của HCM, ít hay nhiều đều là kết quả tiếp thu một
cách khoa học những chỉ bảo xác đáng của Người. Trong nhiều ý kiến bàn thảo mà
chúng tôi được đọc, nổi lên là cụm ý kiến hướng về TL : phải xây dựng một nền GD thực học,
một nền GD nhân văn, một nền GD lấy giá trị bản thân làm hạt nhân,
phải phát triển GD như một quốc sách,…
Chúng ta hy vọng về một TLGD đích thực và
chuẩn xác của Việt Nam
trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và bước vào nền
KT tri thức ! Nhưng mọi người phải luôn nhớ đến một lời nhắc nhở thẳng thắn và
tâm huyết : Tìm được TLGD rồi thì phải làm theo nó, đừng bàn xong rồi để đấy,
hoặc chỉ để trưng ra như một đồ trang sức !
Mặc dù chúng ta biết rất rõ là thực tiễn GD
nước nhà đang ở tình trạng trì trệ và yếu kém nặng nề, khó lòng thay đổi được,
chuyển biến được trong “một sớm, một chiều”. Nhưng với những tấm lòng trong
sáng, nhiệt thành “Vì đất nước, vì thế hệ trẻ”, chúng ta vẫn tin tưởng là sẽ
hoàn thành được trách nhiệm này, để góp phần vào công cuộc chấn hưng GD và đất
nước.
Chúng
tôi, những người chấp bút bài viết này, rất mong được trao đổi những ý kiến nêu
trên với đông đảo các đồng nghiệp và bạn đọc !
Tháng
8 năm 2013
T T
(1) Sự lạc
hậu và yếu kém của GD&ĐT Việt Nam thì có rất rất nhiều biểu hiện, và
cũng rất căn bản và toàn diện, thực trạng này đang ở mức độ trầm trọng,
rất khó được thực tiễn KT-XH chấp nhận và chịu đựng, chờ đợi lâu hơn được nữa !
Xin được nêu lại một
cách cô đọng vài nét như sau :
1- Nhìn vào chất lượng và hiệu quả : Chất
lượng thấp so với chuẩn đào tạo ở mọi
ngành/bậc/cấp học, và nhất là so
với nhu cầu của KT-XH.
- Với GD phổ
thông thì chất lượng phân loại và tốt nghiệp hàng năm được công bố chỉ là con
số ảo, cách xa, thậm chí rất xa, con số chất lượng đích thực qua những đánh giá
nghiêm túc. Với cái nền phổ thông như vậy thì đương nhiên không thể có chất
lượng ĐT nghề nghiệp và đại học tốt được, và do đó các sứ mệnh dân trí, nhân
lực, nhân tài, xây dựng nền văn hóa và con người,...cũng đều thực sự đang ở
ngoài tầm tay !
- Với chất lượng của GD đại học thì nhìn chung
là không đáp ứng được yêu cầu của nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH, thị
trường lao động đều lắc đầu chê bai và không chấp nhận, đa số SV ra trường đều
khó tìm được việc làm ngay và phù hợp, làm tăng thêm con số lao động thất
nghiệp hàng năm (đặc biệt là với các hình thức ĐT tại chức, từ xa, liên kết,
liên thông,...). Trình độ ĐT của đại học VN còn một khoảng cách xa so với khu
vực, và chưa được thế giới công nhận một cách rộng rãi và chính thức.
- Với chất
lượng của GD sau đại học thì cũng là một mảng tối, nhất là gần đây, khi nhu cầu
của trình độ ĐT này tăng lên (trong đó có cả nhu cầu thật và nhu cầu giả, cho
các trường đại học, các ngành KT,...và cho cả các quy hoạch cán bộ lãnh đạo và
quản lý). Thực tế đang có xu hướng là coi trọng số lượng hơn chất lượng, là
thương mại hóa, là không cần học thật,..., nhất là đối với ĐT trong nước. Chất
lượng ĐT sau đại học vủa VN cũng còn một khoảng cách xa so với thế giới (Như chính
chúng ta đã tự thừa nhận, coi TS trong nước chỉ ngang với PTS của nước ngoài đó
sao ! Nên có người nói vui rằng : TS của Việt Nam chỉ là TS, chứ không được là Tiến
sỹ khoa học TSKH, tức là Tiến sỹ không có khoa học !)...
2- Nhìn vào một số yếu kém và
bất cập khác :
- Phân luồng học sinh phổ thông không làm từ
sau THCS, dẫn đến phát triển THPT quá nhiều, đào tạo nghề quá ít so với nhu
cầu.
-
Phát triển CĐ và ĐH quá bừa và nhảm, quy hoạch phát triển vô lối, thiếu cơ sở
khoa học và thực tiễn. Phát triển bát nháo và quản lý vô trách nhiệm các hình
thức đào tạo không chính quy, không tập trung, đặc biệt là các hình thức ĐT từ
xa, tại chức, liên kết, liên thông,...
-
Buông lỏng quản lý chất lượng dạy và học ở cả phổ thông và CĐ, ĐH, dẫn đến chất
lượng thực chất thì thấp và phải đánh giá chất lượng ảo bằng toàn những con số “trên trời” !
- Để
tồn tại quá lâu tình trạng phát triển chênh lệch về GD giữa các vùng miền, còn
coi nhẹ GD vùng dân tộc thiểu số, chưa quan tâm đúng mức việc học của con em
nghèo.
của kiểu GD ứng thí, thiên về dạy chữ, còn
coi nhẹ GD đạo đức và lối sống.
-
Định hướng sai lệch trong công tác xây dựng đội ngũ, vừa chưa coi trọng năng
lực thực chất, vừa coi nhẹ tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Chuyển biến quá chậm
về chất lượng đội ngũ (cả giáo viên và cán bộ quản lý),...
- Quản lý trường học
và quản lý ngành nhìn chung còn rất yếu kém, thể hiện ra ở năng lực và phẩm
chất của cán bộ quản lý, và ở cơ chế quản lý. Có một nguyên nhân sâu xa, gốc rễ
là trong ngành chưa có được văn hóa quản
lý chuẩn xác và trong sáng, bệnh thành tích và thói gian dối còn rất nặng
nề, trong nhiều mảng của hoạt động đang bị nhiễm bẩn nặng bởi xu hướng thương
mại hóa, còn thiếu dân chủ và minh bạch !... ...
3- Xem xét đến nguyên nhân : Nguyên
nhân bao trùm và cốt lõi nhất là toàn bộ hoạt động GD&ĐT chưa quán triệt đúng Triết lý GD, nên GD&ĐT
không được phát triển theo đúng quy luật. Biểu hiện tập trung của sai lệch cốt
tử đó là ở chỗ : Mơ hồ về mục tiêu đào
tạo (mục tiêu chung và mục tiêu từng ngành/bậc/cấp học), Quá coi nhẹ và coi thường Nội lực, nhất
là nội lực tự học ở mỗi người học, Bị khuynh đảo bởi mục đích Lợi nhuận. Và
nhìn khái quát trên bình diện tổng thể thì có thể nói Tư duy GD&ĐT Việt Nam
vẫn như đang bị “cầm tù” trong cái “cái vòng kim cô” méo mó, bệnh hoạn của một thứ
triết lý GD ứng thí, chỉ nhằm đến mục tiêu “dạy chữ”, coi trang bị tri thức là chủ yếu. Và với tư duy đó thì đương nhiên
GD&ĐT Việt Nam chưa dám và chưa thể bứt phá lên để chuyển mạnh sang yêu cầu
chủ đạo là Rèn luyện năng lực sáng tạo,
tư duy độc lập, kỹ năng tự đào tạo cho người học, theo đúng đòi hỏi của
thực tiễn !
Mặc
dù không thể phủ nhận hoặc quên đi những điểm sáng về một vài mặt nào đó, ở đâu
đó, thi thoảng lóe lên, nhưng rõ ràng là những đốm sáng đó không thể đủ sức làm
bừng hửng lại cái diện mạo GD lâu nay đã bị che phủ bởi một màu tối xám ! Những
đốm sáng đó chưa thể nói lên bản chất của xu hướng phát triển tốt lên của nền
GD Việt Nam
!
(2) Những đoạn in nghiêng với cỡ chữ thường
(không nhỏ) và có ghi kèm là ý kiến của Bác thì đều được trích ra từ các bức
thư mà Bác gửi cho ngành GD, hoặc lược ghi trong các tư liệu đáng tin cậy có
nguồn gốc từ “HCM tuyển tập”.
(3) Luận về Đức trong Nhân cách, Bác Hồ nói :
Trời có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa thì
không thành Trời
Thiếu một phương thì không thành Đất
Thiếu một đức thì không thành Người !
(4) Gần đây UNESCO có điều chỉnh tên gọi và
nội dung của 4 trụ cột GD toàn cầu : đưa trụ cột “học để Sáng Tạo” thay thế cho
1 trong 4 trụ cột cũ. Chúng tôi chưa tìm được nguồn thông tin đầy đủ và chính
xác về sự thay đổi này. Xin cứ nêu ra đây các ý kiên còn khác nhau để mọi người
cùng tra cứu và tìm hiểu thêm cho sáng tỏ :
- GS Nguyễn Cảnh Toàn nói trụ cột
“học để Sáng Tạo” thay thế cho trụ cột “học để Làm Người”, với cái lý là trong nền KT tri thức thì yêu cầu Sáng Tạo trùm lên
yêu cầu Làm Người.
- Một tác giả khác nói trụ cột “học để Sáng
Tạo” thay thế cho trụ cột “học để Làm”, với cái lý là trong nền KT tri thức thì
yêu cầu Làm phải là Sáng Tạo, chứ không chỉ là tái tạo, là bắt chước, tức là
loại năng lực phẩm cấp cao. Sự thay thế như vậy càng nhấn mạnh được đòi hỏi đặc
trưng này của nền KT tri thức, đó là một sự thay thế hợp lý. Yêu cầu này thường
được hiểu là Tài, trong khi yêu cầu Làm Người lại thường được hiểu là Đức,
nghĩa là Sáng Tạo không thể thay thế cho Làm Người.
(5) Nội lực tự học của con người thường được
hiểu như là một phẩm chất của nhân cách, nó vừa là Đức và cũng vừa là Tài. Ở
đây Học được hiểu là sự tôi rèn nhân cách (rèn Đức, luyện Tài). Nội lực tự học
thường bao gồm hai nhóm thành tố chính sau đây :
- Nhóm thành tố về tinh thần tự
học : ý chí vươn lên, lòng say mê, ham học, khát vọng học để làm Người, ý thức
tự lực, chủ động sáng tạo, không ỷ lại ngoại lực,…
- Nhóm thành tố về năng lực tự
học : biết phương pháp tự học trong tất cả các khâu của quá trình học trên lớp
cũng như học ở nhà, học văn hóa, chuyên môn cũng như tu dưỡng đạo đức, biết kế hoạch hóa việc học, biết cách
khai thác các yếu tố hõ trợ,…Những sự biết này đạt đến mức kỹ năng thành thạo,…
|