Thứ ba, 23/06/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Một vài suy nghĩ về TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM E-mail
04/10/2013

Nhớ ngày Bác Hồ gửi thư lần cuối cho ngành Giáo dục                          

 (ngày 15 tháng 10 năm 1968)    

    Một vài suy nghĩ về

TRIẾT LÝ GIÁO DỤC VIỆT NAM

QUA NHỮNG Ý KIẾN CỦA BÁC HỒ VỀ GIÁO DỤC

                                     

                                                                        Thùy Tao

(Hội viên CGC Thanh Hóa, Thành viên dòng họ Đỗ Hữu – gốc Hậu Lộc, TH)

          Bác Hồ lúc sinh thời rất quan tâm đến Giáo dục (GD). Bác đã có những chỉ bảo rất cụ thể và sát đúng với thực tiễn GD nước nhà. Những chỉ bảo ấy cụ thể mà không vụn vặt, bởi thường là những vấn đề quan trọng, căn cốt nhất của sự nghiệp GD. Bác thường hay nói nôm na nên dễ hiểu, chứ không hay nói chữ như chúng ta bây giờ. Ngày nay khi chúng ta đọc lại những chỉ bảo đó, và diễn đạt bằng thuật ngữ khoa học chuyên ngành, thì đó chính là các vấn đè : mục đích GD, mục tiêu đào tạo của GD, nội dung GD, phương pháp GD,... và khái quát lên chính là sự thể hiện quan niệm của Bác về Triết Lý Giáo dục (TLGD) Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh (HCM) về GD nói chung và những ý tưởng về TLGD nói riêng đã được bộc lộ ra ở rất nhiều bài viết, bài nói của Người, trong đó có các bức thư mà Bác đã viết gửi cho ngành GD từ năm 1945 đến cuối năm 1968, trước khi Bác mất gần một năm. Những ý kiến chỉ bảo của Bác tuy đã phát ra từ nửa thế kỷ trước đây, nhưng đến nay hầu như vẫn còn nguyên giá trị, cả về lý luận và thực tiễn.

    Hiện nay, khi mà toàn ngành GD&ĐT đang tập trung tâm sức để thực hiện yêu cầu Đổi mới căn bản và toàn diện đối vói sự nghiệp, và toàn xã hội (XH) đang trông chờ và kỳ vọng ở sự chuyển biến thật sự đó, thì thiết tưởng việc chúng ta ôn lại những chỉ bảo của Bác là vô cùng cần thiết và rất đáng làm. Nhưng cần phải có thái độ nghiêm túc trong việc làm này : ôn lại để hiểu đúng hơn những việc đang và sẽ thực hiện trong GD&ĐT, phải suy ngẫm, đánh giá lại thực trạng một cách trung thực và khoa học, tìm cho ra cách thực hiện đúng hướng hơn, sáng tạo hơn nhằm mang lại hiệu quả thực chất. Và trên tinh thần khoa học, chúng ta xin phép được đối xử với những ý kiến của Bác cũng khách quan, thẳng thắn như với các cách tiếp cận khác. Chúng tôi xin được góp một tiếng nói vào Diễn đàn chung này của ngành.

    Đã có nhiều hội thảo khoa học, và nhiều bài viết, thậm chí có cả một cuốn sách dày bàn về TLGD Việt Nam và thế giới. Nhưng qua những ý kiến mà chúng tôi được đọc hoặc nghe lại về vấn đề TLGD từ nhũng nơi đó, thì chúng tôi thấy chưa thực sự an tâm với những lý giải rất đa dạng, đa chiều về nội dung, do đó chắc là cũng chưa thể thuyết phục được số đông bạn đọc chúng ta. Mặt khác, chúng ta cũng chưa được nghe ai chỉ ra, là khi luận về TLGD thì phải nêu điều gì trong đó ? Và hình như, cho đến nay vẫn chưa có một phát ngôn danh chính nào thật tường minh về TLGD có tính chính thống, có giá trị về mặt học thuật và có hiệu lực về mặt chỉ đạo cả ? Hơn nữa, chính vấn đề này cũng đã được xác định là một tiêu điểm, một trọng điểm, một yêu cầu cốt lõi của cuộc bàn thảo ở cấp quốc gia về “Đổi mới căn bản và toàn diện với GD&ĐT”. 

    Có lẽ, trước hết chúng ta hãy thống nhất về cách hiểu khái niệm TLGD. Dựa theo Từ điển Tiếng Viêt định nghĩa từ TL (ứng với tiếng Pháp là từ philosophie, và tiếng Anh là từ philosophy đều có nghĩa là TL hoặc Triết học) và một số bài viết về vấn đề TLGD, chúng tôi xin thử đưa ra một cách hiểu sau đây về khái niệm này, để chúng ta cùng nhau trao đổi tiếp.

  Nói một cách chung nhất, thì TLGD là những tư tưởng nền tảng để xây dựng và phát triển GD. Nói rõ hơn, thì đó là hệ thống lý luận mang tính triết học định hướng cho sự phát triển của GD.

      Bởi thế TLGD phải chỉ rõ được :

- Bản chất của GD (GD là gì ? sản phẩm của GD là gì ?, tức là mục đích của GD và mục tiêu đào tạo của GD, cùng các tính chất của nó).

- Các quy luật vận động của GD (động lực phát triển GD, các yếu tố chi phối GD, phương pháp GD, phương thức vận hành nền GD,..).

        Như vậy có nghĩa là : TLGD chính là những đòi hỏi khách quan và rất bản chất của GD. Muốn xây dựng một nền GD mới hoặc cải biến một nền GD cũ thì đều phải bắt đầu từ TLGD, và trong thực tiễn điều hành, muốn thúc đẩy sự phát triên tiến bộ cho GD thì cũng phải dựa vào TLGD. Việc xác định và hoàn thiện TLGD là một quá trình tư duy khoa học và không thể chủ quan duy ý chí, phải dựa trên những căn cứ lý luận và thực tiễn chuẩn xác và khách quan. Công việc này thông thường hình như là do lực lượng lãnh đạo, quản lý XH chủ động đề xuất ban đầu, có tham khảo ý kiến của các bậc trí giả. Nhưng có lẽ phải kể đến phần đóng góp chủ yếu nhất, quan trọng và thường xuyên nhất là của các chủ thể GD và toàn dân qua các hình thức phản biện XH, và nhất là qua các hoạt động thực tiễn, nhằm hiện thực hóa TLGD.

  TLGD luôn đi cùng với quá trình phát triển GD, luôn thể hiện ra ngay trong các hoạt động GD. Sự tồn tại TLGD trong thực tiễn GD của một quốc gia (hay một khu vực, một cơ sở GD&ĐT,…) là hoàn toàn khách quan, là tự thân của thực tiễn GD. Việc nhận diện ra TLGD từ thực tiễn GD tuy không đơn giản, nhưng cũng không quá khó, nếu chúng ta có cách tiếp cận thật sự khoa học, biết tìm đến những dấu hiệu đặc trưng của TLGD thể hiện qua hoạt động thực tiễn của GD. Và ngược lại, cũng không ai có thể dễ dàng áp đặt một ý tưởng không chuẩn nào đó, hoàn toàn chủ quan duy ý chí, xuất phát từ lợi ích riêng (cá nhân, nhóm), bằng ngụy biện tinh vi, nhằm chi phối  thực tiễn GD, làm cho nhiều người có thể ngộ nhận đó là TLGD.

  Trong một nền GD thường là chỉ tồn tại một TLGD chính thống, nhưng vẫn có thể đan xen những TL không chính thống, thậm chí là lệch lạc, xuất phát từ một bộ phận các chủ thể GD hoặc nhóm cư dân nào đó, chưa thông suốt TLGD chính thống, với nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do cơ hội vì lợi ích riêng.  Chẳng hạn : thực tế ở đâu đó chúng ta đã thấy TL của GD lại có nét giống với TL của Thương mại (mua bán, lợi nhuận), TL của GD Việt Nam lại muốn bắt chước một số khía cạnh như TL của GD Hoa Kỳ (kỹ trị, thực dụng, vị kỷ,...), TL của GD trong nền KT tri thức lại vẫn còn vương vấn, lưu luyến TLGD chỉ thích ứng với nền KT nông nghiệp xưa cũ (ứng thí, sách vở, phụ thuộc,...).

   Khi thực tiễn KT-XH biến đổi thì TLGD cũng phải được thay đổi một cách tương thích. Thực tiễn GD ở mọi thời kỳ luôn chứa đựng trong nó một TLGD tương ứng, TL đó hàng ngày hàng giờ vẫn chi phối mọi hoạt động GD – thông qua sự vận dụng của con người. Vấn đề là chúng ta đã biết được TL đó chưa, đã hiểu nó đến đâu, và đã vận dụng nó như thế nào trong quá trình làm GD ? Lý luận và thực tiễn GD đã chỉ rõ vai trò quan trọng và cốt tử của TLGD đối với mọi nền GD của các quốc gia. Bởi nó là “linh hồn” của nền GD, nó định hướng cho sự phát triển của GD. Chính vì nhận thức được vai trò của TLGD nên con người (chủ thể của GD và lực lượng quản lý XH) muốn can thiệp vào sự phát triển của thực tiễn GD thì phải thông qua TLGD và bắt đầu từ TLGD. Đối với những nền GD vì dân, như nền GD của chúng ta, thì nếu thực tiễn GD luôn bám sát TL tất sẽ phát triển đúng hướng và tiến bộ, còn nếu xa rời TL thì sẽ có hậu quả ngược lại. Nền GD Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau đều luôn mang trong mình nó một TLGD tương ứng. Và hiện nay cũng là như vậy, TLGD ấy vẫn đang tồn tại, nhưng mỗi người nhận diện nó còn khác nhau. Thực trạng GD&ĐT hiện nay đang đặt ra câu hỏi : hoặc là chúng ta đang làm sai TL mà nó đang có và cần phải có, hoặc là chúng ta đang ngộ nhận một TL khác và cố làm theo đó ? Chắc hẳn là như thế rồi, nên thực trạng nền GD của chúng ta hiện nay mới vô cùng ngổn ngang những bất cập, yếu kém (1), và thậm chí là luẩn quẩn và sai lầm (nếu không muốn nói là nó cũng đang khủng hoảng, giống như thực trạng KT-XH). Do vậy, chúng ta rất cần phải xác đinh lại cho GD&ĐT Việt Nam cái TL đích thực là của nó, một TL chuẩn xác, rõ ràng và thật sự khách quan, tương thích với bối cảnh mới của đất nước là phát triển KT thị trường, hội nhập quốc tế, bảo vệ chủ quyền. Nếu hiểu thống nhất được như vậy về khái niệm TLGD, thì chúng ta lại sẽ cùng nhau ôn lại, phân tích lại những chỉ bảo của Bác Hồ về vấn đề này một cách thấu đáo.

  Đương nhiên là để nhìn cho ra TLGD thì chúng ta cần làm rõ được hai nội dung then chốt  nói trên. Và muốn thực hiện được yêu cầu này thì chúng ta  phải dựa vào lý luận khoa học (Tâm lý học, GD học, XH học) để phân tích, lý giải, kết hợp tham khảo những bài học phù hợp của GD các nước phát triển và các nước trong khu vực. Đặc biệt ở đây, chúng ta phải biết khai thác tối đa những chỉ bảo xác đáng của Bác Hồ, và đồng thời phải luôn đối chiếu với thực tiễn GD Việt Nam.

1- Về bản chất của GD.

   Bản chất của GD được thể hiện ra ở mục đích của GD, ở mục tiêu đào tạo của GD, cũng như ở các tính chất của nền GD.

1.1- Về mục đích của nền GD Việt Nam, Bác Hồ đã nói rõ, nói nhiều lần. Chẳng hạn trong các bức thư Bác gửi cho ngành GD, Bác vẫn luôn khẳng định :

- .........là một nền GD sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích

cho nước Việt Nam, một nền GD làm phát triển hoàn toàn những năng lực s

sẵn có của các em.... (Thư gửi học sinh phổ thông – 9/1945),

- .......GD cần nhằm vào mục đích là thật thà phụng sự nhân dân,...với nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho dân tộc,...(Thư gửi sinh viên Dự bị đại học – 4/1952),

- Trong thời gian ở đây các cháu phải hăng hái học tập để đến ngày nước nhà thống nhất sẽ trở về phục vụ quê hương,... (Thư gửi học sinh miền Nam – 6/1955),...

- ...Ở Liên Xô cũng phải luôn luôn nhớ đến hoàn cảnh khó khăn ở trong nước, ....cần nhận rõ mình học cốt để sau này phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Học ngành nào cũng phải căn cứ vào nhu cầu của Tổ quốc, của nhân dân mà chọn,... (Thư gửi lưu học sinh ở Matscơva – 7/1955),

- ...đều nhằm mục đích làm cho các em mai sau trở nên những công dân tốt, những cán bộ tốt, những người chủ tốt của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Thư gửi học sinh phổ thông – 10/1955),

- GD nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta,... (Thư gửi toàn ngành GD đầu năm học 1968 – 1969, tháng 10/1968),...vv.....&.....vv..

            Và còn nhiều chỉ bảo tương tự trong các bài nói và bài viết khác nữa.

      Như vậy, một cách khái quát thì có thể nói mục đích của GD là đào tạo nguồn lực Con Người (nguồn nhân lực) cho XH, trước hết là để phục vụ cho nhu cầu lao động trong các lĩnh vực của đời sống KT – XH, cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong bôi cảnh của đất nước ở thời kỳ lịch sử mà Bác sống và làm việc cùng với sự nghiệp GD còn non trẻ, thì những chỉ bảo ấy là rất đúng đắn. Những chỉ bảo ấy của Bác cũng đã được quán triệt trong các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Nhà nước về GD, góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu của nền GD trong  mấy chục năm qua.

     Gần đây, khi bàn thảo về “Đổi mới căn bản và toàn diện với GD&ĐT”, đã có nhiều ý kiến đề nghị Việt Nam cũng nên hướng mục đích của GD theo 4 trụ cột như UNESCO nêu chung cho GD toàn cầu : Học để Biết, Học để Làm, Học để Làm Người, Học để Chung sống. Theo chúng tôi thì đây là một định hướng đúng, nhưng xin phép sẽ bàn sâu hơn ở phần Mục tiêu đào tạo của GD, ngay sau đây.

2.1- Về mục tiêu đào tạo của nền GD Việt Nam.  

     GD đào tạo ra những con người thì phải hướng tới mục tiêu là để họ được sống tốt hơn và làm việc tốt hơn, phục vụ đất nước tốt hơn, so với nếu như họ không được học. Để có thể sống và làm việc tốt, thì nguồn nhân lực do GD đào tạo ra phải đảm bảo chất lượng theo yêu cầu của sự phát triển KT-XH, cho từng ngành nghề, tương thích với từng giai đoạn lịch sử của đất nước. Yếu tố cơ bản bảo đảm chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chính là phẩm cấp của nhân cách mà người học được hấp thụ, được tạo dựng qua quá trình GD. Do đó vấn đề đặt ra cho mọi nền GD là phải xác định đúng được nội dung của nhân cách mà GD cần tạo dựng cho người học. Những nội dung này của nhân cách phải được nêu rõ ràng và khoa học trong một diễn đạt chuẩn tắc mà lý luận GD gọi là Mục tiêu đào tạo (MTĐT - chung cho nền GD, và cụ thể cho từng ngành/bậc/cấp học). Và đây cũng là một nội dung then chốt cần làm rõ trong TLGD. Đến đây thì chúng ta lại phải quay về với việc tiếp tục tìm hiểu khái niệm, mà khái niệm tiếp theo là Nhân cách.

  Nhân cách được hiểu là những phẩm chất, những thuộc tính tâm lý, mà nhờ đó, con người trở thành chính họ, thành chủ thể của hoạt động, giao lưu,...Đó là mặt XH của con người, là bộ mặt tinh thần của con người, là tính Người của con người,...nói lên giá trị của con người trong XH. Nhờ có nhân cách mà từ con người sinh học trở thành con người XH, hội đủ cả 3 mặt là sinh học, XH và tâm lý của một con người hoàn thiện đúng nghĩa. Nhân cách cũng được hiểu như là toàn bộ những đặc điểm tâm lý đã ổn định, bền vững, của cá nhân, tạo nên phẩm giá của cá nhân đó.

     Lý luận của các khoa học Tâm lý học, GD học, XH học đã nêu khá cụ thể các phẩm chất tâm lý cơ bản sau đây (tức nội dung) của nhân cách :

- Xu hướng (nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, nhân sinh quan, niềm tin,...).

- Tính cách (thái độ cùng nhũng biểu hiện như hành vi, cử chỉ, cách cư xử, lời ăn tiếng nói,....).

- Khí chất (trạng thái biểu hiện cường độ của các hoạt động tâm lý như sự năng nổ, hoạt bát, tính nóng nảy, sự trầm tĩnh,...)

- Năng lực (NL tái tạo, NL sáng tạo - với 3 cấp độ : năng lực, tài năng. nhân tài).....

     Cũng có ý kiến nêu gọn hơn, nhân cách bao gồm những phẩm chất đạo đức và những phẩm chất trí tuệ. Bác Hồ cũng ưa cách nói gọn theo hướng này để dễ hiểu cho mọi người, mà theo chúng tôi thì vẫn bảo đảm được tính chuẩn xác, khoa học (ở mức độ tương đối). Người nói đại ý (trong các bài viết và bài nói) như sau (2) :

                   Nhân cách bao gồm Đức Tài, Đức là gốc, Tài là quan trọng, Đức phải có trước Tài,..Đạo đức phải đi đôi với Tài năng, Đạo đức mà không có tài năng thì vô dụng,...

                  GD phải đào tạo ra những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”, hồng là linh hồn, chuyên là cái xác, chuyên mà không có hồng thì chỉ còn là cái xác không hồn,...

                  Con người ta có 4 đức là Cần, Kiệm, Liêm, Chính, thiếu 1 trong 4 đức đó thì Đạo Đức chưa hoàn thiện,...(3)

                  Đức phải tu dưỡng mới có. Đức phải thể hiện ra hành động, không chỉ có trong lời nói,..

                  Bởi vậy một nền GD tốt là phải rất coi trọng việc GD đạo đức và tư tưởng - chính trị,...

  Bác Hồ còn nói rõ thêm :  

                  Đạo đức thường thể hiện ra ở thái độ : nhận rõ phải trái, giữ vững lập trường, tận trung với Nước, tận hiếu với Dân,...

                  Người quân tử coi trọng Tài - Đức, còn kẻ tiểu nhân thì chỉ  coi trọng đất đai, của cải,...

    Bác Hồ cũng đã nói rất nhiều về vai trò và nội dung của đức Liêm, 1 trong 4 đức mà Bác đã nêu,...

   Nghiên cứu những chỉ bảo trên của Bác, chúng ta càng hiểu rõ là Nhân cách phải do GD mới có. Do đó cũng đã có ý kiến cho rằng : GD đẻ ra nhân cách, sản phẩm của GD chính là Nhân cách, chính GD đã làm được việc XH hóa con người sinh học, hoàn thiện nhân cách cho mọi người được GD.  Thật vậy, lý luận khoa học (GD, Tâm lý, XH) đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng (thậm chí chi phối) đến sự phát triển của nhân cách là : GD, môi trường XH và gia đình, hoạt động, quan hệ giao tiếp, tư chất di truyền,..., trong đó nhấn mạnh vai trò chủ đạo là của GD. (Khái niệm nền GD trong bài viết này luôn được hiểu theo nghĩa mới và đúng đắn nhất : một nền GD mở, tức là GD suốt đời và cho mọi người , không phải chỉ trong khung khổ nhà trường truyền thống, không cứ phải cắp sách đi học – như quan niệm của Bác Hồ ngay từ những ngày đầu cách mạng).

   Bây giờ chúng ta cần tìm hiểu thêm về những đòi hỏi đối với nguồn nhân lực trong bối cảnh mới của đất nước, mà nét mới cần chú ý là nước ta đang hướng mạnh tới một nền KT tri thức, để từ đấy nhìn rõ được những yêu cầu về nhân cách mà GD phải đáp ứng.

   Khi nghiên cứu về nguồn nhân lực trong nền KT tri thức, chúng tôi thấy nổi lên mấy điểm sau đây :

- Từ lao động chân tay chuyển sang lao động trí tuệ, lực lượng lao động chân tay, phổ thông ngày càng thu hẹp (Ví dụ ở Mỹ, ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, số công nhân áo trắng đã nhiều hơn số công nhân áo xanh). Chất lượng nguồn nhân lực là ở trí tuệ, mà nét chủ đạo là năng lực tự học và năng lực sáng tạo. Thị trường lao động có biến đổi căn bản so với trước (về chất lượng, về cơ cấu, về không gian thị trường,...).

- Từ sản xuất hàng hóa vật chất, chuyển sang sản xuất và phân phối hàng hóa phi vật chất (tri thức) là chủ yếu. Tri thức và thông tin trở thành đòn bẩy của tăng trưởng KT, dịch vụ tri thức đóng góp ngày càng nhiều vào GDP.

- Tri thức khoa học và công nghệ phát triển vô cùng nhanh, theo tốc độ cấp số nhân, trí tuệ con người không thể thu nhận chỉ bằng khả năng ghi nhớ, không chỉ học một lần là đủ.

- Không chỉ có tri thức khoa học và công nghệ  biến đổi nhanh, mà các mặt khác (KT, chính trị, XH, môi trường sinh thái, văn hóa, đạo đức,...) cũng có những thay đổi lớn, thậm chí có thể là tiêu cực, bất thường, khó lường. Do vậy mà con người phải có năng lực thích ứng nhanh trong mọi tình huống, phải có bản lĩnh để biết sống phù hợp và sống tử tế.

- Nền KT từ khép kín trong từng nước, rộng hơn là trong khu vực, chuyển sang có tính Mở ngày càng cao, ra phạm vi toàn cầu. Thông tin và tri thức lưu thông toàn cầu, mở rộng vô tận. Kết cấu hạ tầng của nền KT có quy mô toàn cầu với dịch vụ chất lượng ngày càng cao. Mọi mặt của đời sống XH cũng đều hướng tới tính toàn cầu, lệ thuộc và liên kết, liên thông với nhau. Do đó con người phải có tầm nhìn rộng và xa, biết cách chung sống, biết cách học hỏi, hiểu được quyền và nghĩa vụ của con người toàn cầu.

- Quản lý tổ chức và vận hành KT-XH có chuyển biến rất cơ bản, dựa trên công nghệ thông tin : Chính phủ điện tử, thương mại điện tử,...thậm chí có cả thư viện ảo, trường học ảo (dạy học trực tuyến),...

- Cơ cấu nguồn nhân lực cũng khác nhiều so với các nền KT trước đó (KT nông nghiệp, KT công nghiệp). Trong nguồn nhân lực mới phải có thêm bộ phận nhân lực của các lĩnh vực kinh doanh, lãnh đạo, quản lý. Tuy vẫn duy trì 3 tầng trình độ đào tạo (sơ cấp, trung cấp và đại học trở lên), nhưng bậc đại học thì chủ yếu là đào tạo ra lao động tri thức, tức là lực lượng lao động có tri thức và tay nghề cao để tham gia trực tiếp vào sản xuất (chứ không phải là tầng lớp trí thức như ở ta lâu nay),...

  Từ những điều phân tích trên về nền KT tri thức, chúng ta thử hình dung ra xem nguồn nhân lực của nó cần có những phẩm chất gì trong nhân cách ?

  Ở các bài viết mà chúng tôi đã đọc, thì những ý kiến luận giải về câu hỏi này chưa thật rõ ràng, còn chung chung, còn phiến diện,..., tuy không sai.

      Chẳng hạn đã có các ý kiến như sau về nội dung của nhân cách (mới) :

- Phải bao gồm Tinh thần khoa học và những giá trị nhân văn cao cả.

                                          Hoặc :

- Phải có năng lực tự học và khả năng thích nghi để tồn tại trong điều kiện luôn thay đổi.                   Hoặc đã chỉ ra các đặc trưng cụ thể như :

- Khám phá, tiến thủ, coi trọng thực tế.

- Tôn trọng giới tự nhiên, yêu quý môi trường.

- Không ngừng hoàn thiện bản thân.

- Đoàn kết, sống khoan dung với người khác, biết hợp tác,...

      Cũng có bài viết đã liệt kê ra những phẩm chất đạo đức, và những phẩm chất trí tuệ để luận giải về nội dung của nhân cách, đáp ứng với đòi hỏi của nền KT tri thức. Có bài viết lại nêu theo hai nội dung Đức và Tài, như quan niệm của Bác Hồ (có khác với cách nêu vừa kể trên),...

   Trong khi lý giải về nội dung nhân cách mới, ứng với nền KT tri thức, một số bài viết đã lưu ý chúng ta cần phải biết cảnh giác để tìm cách ngăn ngừa với những hạn chế của nhân cách cũ (ứng với các nền KT nông nghiệp, KT công nghiệp), mà nhất định chúng sẽ còn đeo bám dai dẳng. Chẳng hạn, trong nền KT nông nghiệp thì thường gặp loại nhân cách phụ thuộc (vì con người ở đây luôn phải sống phụ thuộc vào thiên nhiên, vào quần thể làng xã,...), dễ hẹp hòi, cục bộ, hạn chế tầm nhìn,...Trong nền KT công nghiệp lại thường gặp loại nhân cách vị kỷ, cá nhân, vụ lợi,...và loại nhân cách đơn điệu, giống nhau hàng loạt,... 

  Qua rất nhiều ý kiến luận giải về nội dung nhân cách mới của nguồn nhân lực, chúng tôi thấy nổi lên những phẩm chất quan trọng sau đây cần lưu ý nhiều hơn, so với nhận thức cũ trước đây :

  Năng lực tự học suốt đời, Năng lực sáng tạo, Năng lực thích ứng, Có bản lĩnh vững vàng, Biết chung sống, biết hợp tác,..

    Trên cơ sở những hiểu biết “nguyên liệu” vừa nêu, chúng ta bàn tiếp đến vấn đề cốt lõi hơn : MTĐT của GD Việt Nam là gì ?

  Theo thiển nghĩ của chúng tôi thì MTĐT của GD không chỉ là một sự liệt kê giản đơn, mang tính cơ học, những biểu hiện của Đức và Tài, tức nội dung của nhân cách, như vừa nói ở trên, mà phải chỉ rõ được 2 điều :

a/ Điều 1: GD đào tạo ra những con người để đáp ứng cho cái gì ? (gần như là mục đích của GD).

b/ Điều 2 : Những đòi hỏi về nhân cách đối với những con người được đào tạo là gì ? (tức nội dung của nhân cách).

   Rõ ràng là điều thứ 1 chi phối, quy định nội dung của điều thứ 2. Do đó chúng ta hãy luận bàn trước về điều thứ 1.

    Lâu nay hình như chúng ta không mấy lưu tâm đến điều thứ 1, vì coi đó là điều hiển nhiên rồi : GD phải nhằm đáp ứng nhu cầu XH, tức là giúp cho con người qua đào tạo thực hiện được nghĩa vụ XH của mình. Chúng ta chưa thấy (hoặc cố tình không thừa nhận) mặt thứ hai của vấn đề : GD còn nhằm giúp cho con người được phát triển toàn diện, đảm bảo sự phát triển Tự do của mỗi cá nhân (để con người thật sự được giải phóng triệt để, như mục tiêu của rất nhiều cuộc cách mạng tư sản, cách mạng XH chủ nghĩa,..đã đề ra). Trong bối cảnh lịch sử của đất nước ta, ở thời kỳ đầu của cuộc Cách mạng và trong hai cuộc kháng chiến, việc nhấn mạnh nhu cầu XH là cần thiết và có thể coi là hợp lý, là nhân văn, nên có thể chấp nhận. Nhưng đến bây giờ, để đất nước ta hội nhập tốt và để bước vào nền KT tri thức, mà vẫn như cũ thì không được nữa rồi, vì trái quy luật, trái với xu hướng chung của thời đại, và nhất định sẽ kìm hãm sự phát triển. Chính ở đây cũng hàm chứa một nội dung triết học mà chúng ta đã bỏ qua khi tư duy và luận bàn về MTĐT cũng như về TLGD. Vấn đề này liên quan đến hai khuynh hướng triết học đang có ảnh hưởng đến việc đào tạo con người, trên phạm vi toàn cầu : thuyết Bản vị XH và thuyết Bản vị cá nhân. Một bên lấy việc đáp ứng nhu cầu XH làm MTGD. Một bên lấy việc phải đáp ứng sự phát triển Tự do của cá nhân làm MTGD  (với luận cứ : Con người luôn được coi là trung tâm trong mọi hoạt động của đời sống KT-XH, Con người luôn được coi là mục tiêu, là động lực của mọi cải biến XH,…). Ở những nền GD có khuynh hướng bảo thủ thì vẫn cố tình đi theo thuyết bản vị XH. Ở nhiều nền GD theo khuynh hướng cấp tiến thì lại thường nhấn mạnh mục tiêu phát triển Tự do cá nhân. Và ở cả hai khuynh hướng này đều có những biểu hiện thái quá, thậm chí đến mức cực đoan. Còn ở Việt Nam chúng ta thì đã đến lúc không thể tiếp tục coi mục tiêu GD chủ yếu chỉ là nhằm đáp ứng nhu cầu XH như trước đây được nữa.

    Theo một số nhà khoa học và chuyên gia GD thì MTĐT của GD Việt Nam là phải kết hợp hài hòa sự phát triển Tự do của cá nhân với sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực cho XH, kết hợp giữa mục đích phục vụ Tổ quốc, nhân dân với mục đích phát triển đa dạng cá tính, nhân cách, năng lực sáng tạo cho mỗi người,... Sự kết hợp này vừa bảo đảm mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân với XH, giữa chất lượng con người với đòi hỏi của sự phát triển XH, lại vừa phù hợp với thực tiễn GD Việt Nam và xu hướng của GD thế giới. Đừng để cho 2 đòi hỏi này mâu thuẫn với nhau, thậm chí phủ định nhau. Về điều thứ 1 này rất cần phải trao đổi cho thấu đáo để thay đổi hiện trạng. Ở đây chúng ta cần khai thác thêm những chỉ bảo xác đáng của Bác Hồ. Trong nhiều bài nói, bài viết về GD, nhất là trong các bức thư gửi cho ngành GD, nếu không tinh ý, chỉ đọc lướt qua, thì chúng ta có thể ngộ nhận là hình như Bác chỉ nhấn mạnh sự đáp ứng nhu cầu XH khi nói đến mục đích và mục tiêu GD. Trong bối cảnh đất nước có chiến tranh, ở những thời điểm nóng nào đó, Bác có thể nhấn mạnh như vậy cũng là điều dễ hiểu, là hợp lẽ, là cần thiết. Nhưng sự thật thì không hẳn là như vậy, bàn về mục tiêu lâu dài của GD, cũng đã có lúc Bác đề cập đến mục tiêu phát triển con người, và có cả sự kết hợp giữa hai mục tiêu nữa.

    Chúng ta hãy đọc lại ngay bức thư đầu tiên Bác gửi cho các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa : ....Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh mình là được hấp thụ một nền GD của một nước độc lập, một nền GD nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền GD làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em. ...

  Ở một dịp khác, Bác lại nói đại ý :

...Học để làm việc, để làm người, để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp  và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại,...

    Và cũng ở một cơ hội khác nữa, Bác nói :

....GD nhằm giải phóng con người thoát khỏi tối tăm, lạc hậu, đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc văn minh, tiến bộ,...

  Còn về điều thứ 2 (nội dung nhân cách mà XH đòi hỏi) thì cũng đã rõ, hầu hết các bài viết đều nêu lên những phẩm chất cơ bản nhất về Đức và Tài, ứng với 2 đòi hỏi :

     - để cá nhân được sống tốt hơn, được thực sự làm Người (tức là được phát triển toàn diện, nhất là được phát triển Tự do của cá nhân).

     - để cá nhân được làm việc tốt hơn, được phục vụ đất nước tốt hơn (tức là đủ Tài và Đức để làm việc theo nghề).

   Cũng có ý kiến nêu tách bạch theo từng nội dung, nên dễ hiểu và dễ theo dõi, nhưng người đọc cần lưu ý rằng sự phân biệt giữa Đức và Tài chỉ có ý nghĩa tương đối, bởi vì có những phẩm chất của nội dung này lại vừa là của nội dung kia, và giữa chúng luôn có sự tiếp nối và chuyển hóa. Và cũng có ý kiến nêu chung, không tách bạch giữa Đức và Tài, tuy cũng dễ hiểu, nhưng đôi chỗ cũng có thể bị hiểu lẫn lộn, chồng chéo, trùng lặp về nội hàm.

   Chúng tôi xin phép nêu ra một vài dạng tư duy về MTĐT của GD Việt Nam sau đây để chúng ta đối chiếu, tham khảo và rộng đường trao đổi.

   + MTĐT của GD Việt Nam được ghi trong Luật GD như sau :

Mục tiêu GD là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

   + MTĐT của GD Việt Nam được nhà văn Nguyên Ngọc đề xuất như sau :

Đào tạo những con người tự do, có năng lực tư duy độc lập, giàu khả năng và ý chí sáng tạo, dám và biết tự tìm chân lý, sống và làm việc theo chân lý đã chọn, và chịu trách nhiệm vè sự lựa chọn đó.    

   + Rất nhiều ý kiến khác, muốn MTĐT của GD Việt Nam nên đi theo hướng của UNESCO đã chỉ ra về 4 trụ cột của GD : Học để Biết, học để Làm, học để Làm Người, học để Chung Sống (có cụ thể hóa cho từng trụ cột). (4)

   + Một tác giả khác nêu : MTĐT của GD Việt Nam là đào tạo ra những con người khỏe về thể chất, sáng về trí tuệ, độc lập về tư duy, giàu lòng nhân ái, đẹp về ước mơ, mạnh về ý chí, nghị lực, thật sự năng động, sáng tạo,…

3.1- Về các tính chất của nền GD Việt Nam.

    Có nhiều bài viết về TLGD đã đề cập thêm về những tính chất cơ bản của nền GD Việt Nam, trong đó đặc biệt nhấn mạnh các tính chất : dân chủ, thực học, công bằng,.. Theo chúng tôi thì đây cũng chính là hệ quả từ 2 phần trên (1.1 và 2.1), nên xin để một dịp khác chúng ta sẽ bàn sâu về vấn đề này.

    Như vậy, có thể nói gộp lại : Bản chất của GD là hoạt động đào luyện con người, đó là quá trình tạo dựng nhân cách, bao gồm hai việc chủ yếu là rèn Đức và luyện Tài. Bản chất của GD là một hoạt động khoa học, có nội dung nhân văn cao cả. Hoạt động GD không chỉ nhằm phục vụ cho nhu cầu trước mắt, mà còn là sự chăm lo cho tương lai lâu dài (Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người – Bác Hồ), không chỉ nhằm đáp ứng cho đòi hỏi của XH, mà còn đáp ứng cho khát vọng Tự do – Hạnh phúc cho mỗi cá nhân, góp phần quan trọng giải phóng con người một cách triệt để.....

2- Về quy luật phát triển của GD Việt Nam.  

  Cũng giống như TLGD, các quy luật của GD cũng luôn tồn tại khách quan, ẩn chứa ở ngay bên trong mỗi hoạt động GD, với vai trò là công cụ điều khiển sự vận hành của GD. Quy luật phát triển GD luôn gắn liền với bản chất của GD. Hiểu đúng được bản chất của GD thì chúng ta cũng dễ nhận ra các quy luật của nó. Nhìn một cách bao quát, chúng ta phải xét xem bản chất GD là loại hoạt động gì, để nhận ra quy luật tương ứng của nó trong 3 loại quy luật (tự nhiên, XH, hay tư duy). Chẳng hạn, nếu coi  GD là hoạt động đào luyện con người, nhằm tạo dựng nhân cách cho mỗi người, trong đó có việc rất quan trọng là nâng cao nhận thức và trình độ tư duy cho đối tượng, thì hẳn nhiên là GD phải chịu sự chi phối của các quy luật nhận thức, tư duy. Hoặc nếu nhìn vào chức năng của nó là đào tạo nguồn nhân lực và sản sinh ra tri thức khoa học và công nghệ cho sự phát triển KT-XH, thì GD lại là một loại hoạt động KT-XH, do đó nó đồng thời cũng bị chi phối bởi các quy luật XH (bao gồm cả quy luật KT),Và đương nhiên, một trong các quy luật bao trùm nhất và phổ biến của mọi sự phát triển mà chúng ta phải xem xét trước hết, là quy luật về nguồn gốc của sự phát triển : nguồn gốc của sự phát triển là do nội lực tự thân của đối tượng quyết định.

  Nghiên cứu TLGD thì đương nhiên phải tìm hiểu được các quy luật của GD, để điều chỉnh lại sự vận hành các quy luật, nhằm cải biến hiện trạng GD đang có nhiều bất cập, yếu kém do làm sai quy luật, tức cũng là phản lại TL.   

   Theo thiển nghĩ của chúng tôi, thì phải chăng quy luật phát triển của GD Việt Nam phải là sự kết hợp chặt chẽ, hữu cơ giữa 3 loại quy luật sau đây : 

 1.2- Trước hết, đó là quy luật của Sự Học của con người (một loại quy luật tư duy, tâm lý), bởi GD&ĐT chính  là Sự Học của toàn XH. Sự Học ở đây được hiểu theo nghĩa đầy đủ nhất, không đơn thuần chỉ là học chữ, và như phần trên vừa phân tích : đó là sự tôi rèn Nhân cách (Đức và Tài). Sự Học có nhiều quy luật, nhưng quy luật quan trọng nhất, bao trùm và xuyên suốt là  Sự Học phải được vận hành bằng Nội lực tự học, tự GD ở mỗi người học. Nội lực tự học (5) của người học là nhân tố quyết định chất lượng và hiệu quả của sự học ở từng người học. Sự học của mỗi người có chất lượng và hiệu quả thực sự chỉ khi người đó có ý chí, có tinh thần tự học, và có năng lực tự học. Không hề có ngoại lệ  cho bất cứ ai !

  Đây vừa là sự thể hiện quy luật chung, phổ biến của mọi sự phát triển, như vừa nêu ở trên, nhưng cũng vừa là quy luật đặc thù của Sự học.

  GD là sự học của cộng đồng XH, chất lượng và hiệu quả của GD hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng và hiệu quả của sự học ở mọi người học. Do dó quy luật phát triển của GD phải gắn liền với, phải dựa vào quy luật của sự học của con người. Chúng ta coi quy luật của sự học là quy luật gốc của quy luật GD là vì vậy.

 Chính nội lực tự học, tự GD của đông đảo người học đã tạo nên động lực mạnh mẽ để phát triển GD&ĐT, chứ không phải là các ngoại lực khác, dù rất mạnh. Và cũng chỉ nhờ có nó mới tạo nên được nội lực của nền GD. Một nền GD mà vắng bóng nội lực tự học, tự GD của người học thì không bao giờ có được nội lực để phát triển tiến bộ. Nội lực của một nền GD bao giờ cũng bắt nguồn từ nội lực tự học, tự GD của đông đảo người học, vì đó là nhân tố cốt lõi nhất, tinh túy nhất và bản chất nhất.

     Hiểu được quy luật này thì trong GD&ĐT cần tạo điều kiện để mọi người học biết biến quá trình GD thành tự GD, quá trình đào tạo (ĐT) thành tự ĐT. Ở tất cả các loại hình trường lớp và trong mỗi gia đình phải rất coi trọng việc xây dựng Nội lực tự học cho người học, giúp họ biết vận dụng và phát huy nội lực tự học đó trong mọi khâu của quá trình học tập, rèn luyện. Phải chuyển mạnh, chuyển ngay cách học (và dạy) từ chủ yếu là học (và dạy) kiến thức sang học (và dạy) cách tự học.  Đòi hỏi này càng đặt ra gay gắt hơn trong bối cảnh của hội nhập toàn cầu và nền KT tri thức. Phải mạnh dạn thực hiện cách dạy học dân chủ (như Bác Hồ đã từng chỉ bảo), cách dạy học tích cực, giúp người học được làm chủ quá trình nhận thức của mình, được chủ động và sáng tạo trong cách học, …

   Mặt khác, cần cân nhắc thận trọng việc sử dụng các ngoại lực tác động vào sự học, sao cho đúng hướng, nghĩa là ngoại lực đó phải cộng hưởng được với nội lực tự học, tăng thêm sức mạnh cho nội lực tự học, chứ không thể lấn át nội lực tự học, làm yếu nội lực tự học, muốn thay thế vai trò của nội lực tự học,....dẫn đến hậu quả là nội lực tự học cứ thui chột dần, suy giảm dần, thậm chí mất dần ở số đông người học. Đó chính là tác nhân số 1 có thể tàn phá chất lượng GD, làm cho nền GD tha hóa, yếu kém triền miên, tuột dốc ngày càng nặng nề. Vì vậy phải chấn chỉnh triệt để các hiện tượng       làm trái với quy luật này. Chẳng hạn như :

  Hiện nay trong GD phổ thông (và cả đại học) cách dạy phổ biến là áp đặt, một chiều, người học luôn ở thế bị động, luôn phụ thuộc vào thầy, vào sách,…

 Trong GD phổ thông cho học thêm tùy tiện theo phong trào, luyện thi ồ ạt, xô bồ,...

 Hoặc trong cả phổ thông và đại học đều quá chuộng trường ngoại, mê du học,...nhưng lại không thực sự chăm lo cho trường nội, không chăm lo cho nội lực tự học, kể cả với người du học,…

  Hoặc trong hoạt động khuyến học chỉ chú ý việc hỗ trợ tài chính và vinh danh những học trò đỗ đạt cao, mà không hề để ý đến việc tác động vào nội lực tự học của số đông người học,...

  Hoặc những chuyện học thuê, thi thuê, mua bán điểm, mua bán luận văn, mua bán bằng,..trong GD đại học và sau đại học (và kể cả trong GD phổ thông),..vẫn cứ phát triển !...

   Quán triệt quy luật này cũng có nghĩa là chúng ta phải thật sự chăm lo việc học (tự học) của người học, phải coi người học là nhân vật trung tâm trong GD&ĐT, phải coi việc học (và dạy) là hoạt động trung tâm trong các hoạt động  ở các cơ sở GD&ĐT,..

  Nội lực của GD&ĐT là động lực chủ yếu thúc đẩy GD phát triển. Ngoại lực dù rất mạnh, cũng không thể thay thế để xoay chuyển chất lượng GD. Nội lực này phải bắt nguồn từ Nội lực tự học, tự GD của người học.

2.2-  Thứ hai là quy luật về quan hệ biện chứng giữa Thượng tầng kiến trúc và Hạ tầng cơ sở KT-XH. Bởi vì một trong các sứ mệnh quan trọng của GD&ĐT là xây dựng nền Văn hóa và Con Người Việt Nam, nên GD&ĐT đương nhiên là một bộ phận quan yếu của Thượng tầng kiến trúc (bộ phận tư tưởng - văn hóa). Điểm mấu chốt trong quy luật này phải luôn nhớ, là hạ tầng cơ sở KT-XH bao giờ cũng giữ vai trò quyết định trong mối quan hệ hai chiều đó.                  Hiểu được quy luật này thì chúng ta cần :

+  Một mặt phải tạo điều kiện để cơ sở hạ tầng KT-XH luôn phát huy tác dụng tích cực đến GD&ĐT, một mặt phải hạn chế tối đa được những ảnh hưởng tiêu cực từ những yếu kém của KT-XH đến GD&ĐT, phải rốt ráo cải biến KT-XH cho tốt lên,...

+  Bản thân GD&ĐT phải nỗ lực hết mình trong việc thực hiện sứ mệnh đào tạo con người mới và xây dựng nền văn hóa mới nhằm góp phần tích cực cải biến cơ sở hạ tầng KT-XH. Bản thân GD&ĐT không được có thái độ ngồi chờ, đổ lỗi cho khách quan, mà phải chủ động vượt lên,...

+  Không thể đòi hỏi GD&ĐT phải đổi mới quyết liệt, trong khi KT-XH vẫn trì trệ và suy thoái nặng nề. Không bắt GD&ĐT phải làm những việc quá sức, đừng kỳ vọng GD&ĐT đạt được những mục tiêu quá tầm tay, không vượt qua được sự ràng buộc của KT-XH,.. Chẳng hạn :

 - KT-XH khủng hoảng thì GD&ĐT không thể phát triển ổn định, và còn kéo theo nhiều rối nhiễu, sụt giảm khác nữa,…

 - KT-XH ngày càng có khoảng cách giàu – nghèo tăng nhanh thì GD&ĐT khó lòng tạo được mặt bằng phát triển tương đối đồng đều, khó lòng có được công bằng trong GD&ĐT,…

 -  Quan hệ trong đời sống KT-XH đều là quan hệ mua bán, mọi thứ giá trị đều có thể mua được bằng tiền, rất nhiều sự thăng tiến đều nhờ Tiền chứ đâu phải dựa vào Tài năng,...thi làm sao người học có được nội lực tự học đúng đắn và mạnh mẽ để phát triển tài năng,...

 - Văn hóa và đạo đức của đời sống KT-XH đang xuống cấp nghiêm trọng thì làm sao có được chất lượng tốt trong việc GD tư tưởng – chính trị, đạo đức và lối sống cho người học,..

 - Thực tiễn KT-XH đang đầy rẫy gian dối, lừa lọc thì GD&ĐT không thể có được sự trung thực đúng nghĩa, không thể có được sự thân thiện thực chất,...

 3.2- Thứ ba là quy luật của Thị trường (giá trị, cạnh tranh, cung-cầu, lợi nh

nhuận,...). Bởi GD&ĐT cũng đang gánh một sứ mệnh rất quan trọng khác n

nũa là đào tạo ra nguồn nhân lực, một thành tố chủ yếu của lực lượng sản xuất mới, để phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của KT-XH. Trong bối cảnh mới của đất nước là phát triển nền KT thị trường và hội nhập quốc tế thì GD&ĐT không chỉ còn đơn thuần là một hoạt động tư tưởng - văn hóa, hay là một phúc lợi XH, một dịch vụ công,...như chúng ta vẫn hiểu trước đây, mà nó đã và đang thực sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp của nền KT thị trường. Hơn nữa, GD&ĐT không chỉ cung cấp nguồn nhân lực, mà còn là nơi sản sinh ra tri thức khoa học và công nghệ. Những sản phẩm của GD&ĐT trong nền KT thị trường cũng đều được coi là hàng hóa, loại hàng hóa đặc biệt, đã luôn có mặt trên các thị trường (TT) lao động, TT khoa học & công nghệ, và cả TT hàng hóa khác nữa,... Thế nên GD&ĐT đang trở thành một loại dịch vụ sinh lợi nhuận đặc biệt. Trong nền KT thị trường thì GD&ĐT cũng phải cạnh tranh, sản phẩm của GD&ĐT cũng cần có thương hiệu. Do đó trong các hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học thì tất yếu GD&ĐT phải tuân theo các quy luật của thị trường mới có thể duy trì và phát triển được các hoạt động này. Cái khó ở đây là làm sao để các quy luật thị trường không thể lấn át được, không thể làm vô hiệu hóa được quy luật cơ bản của GD, không làm mất đi bản chất của GD là đào luyện con người. Dứt khoát GD&ĐT không thể bị thương mại hóa, không thể bị biến thành một hoạt động có bản chất khác hẳn (như bản chất kinh doanh, mua bán, chẳng hạn).

  Bác Hồ chưa có phát biểu chính thức về quy luật GD, nhưng Bác đã rất nhiều lần nói về nguyên tắc GD, phương pháp GD, phương châm phát triển GD,..với GD phổ thông, GD chuyên nghiệp, và với cả công tác huấn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên. Xét về mặt khoa học thì đây chính là những hệ quả, những biểu hiện về sự vận dụng quy luật GD. Ngày nay khi nghiên cứu những chỉ bảo của Bác, thì chúng ta lại đã tổng hợp khái quát lên, nhò đó mà nhìn rõ hơn các quy luật GD. Thật vậy, khi đọc lại những chỉ bảo của Bác, chúng ta thấy Bác đã chú ý nhiều đến các vấn đề : học đi đôi với hành, học kết hợp với lao động sản xuất, lý luận liên hệ với thực tế, kết hợp GD nhà trường – gia đình – XH, phương pháp nêu gương, phương pháp dạy học dân chủ, phương pháp tự học,…

   Đặc biệt, Bác rất quan tâm đến vấn đề tự học, vấn đề độc lập suy nghĩ. Bác nói đại ý : Về cách học, phải lấy tự học làm cốt. Phải xác định rõ mục đích học tập, phải kiên trì, bên bỉ. Phải có kế hoạch, biết sắp xếp thời gian hợp lý, phải tận dụng mọi hoàn cảnh để tự học, phải tự tạo ra điều kiện để tự học. Trong tự học thì phải biết suy nghĩ độc lập, học đến đâu phải thực hành, luyện tập đến đó. Học ở mọi nơi, mọi lúc, học suốt đời, học không biết chán, học không bao giờ đủ, còn sống thì còn phải học, . ,

    Ngày nay, bối cảnh KT-XH đã khác trước, GD nước nhà cũng đang được đổi mới theo hướng hiện đại hóa, việc dạy và học đang và sẽ khác nhiều so với trước đây nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, nhưng không phải vì thế mà những chỉ bảo của Bác trở nên không còn phù hợp. Trong điều kiện mới tốt hơn, nhưng bản chất của GD vẫn không thay đổi, con người vẫn là chủ thể của GD, người học vẫn giữ vai trò trung tâm trong hoạt động GD.

      Ngoài ra, cũng phải nói thêm diều này về các quy luật GD : chúng tôi nhận thấy cũng còn một vài khía cạnh chưa được làm rõ qua bàn thảo :

- GD&ĐT có vai trò kép (vừa là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng, lại

vừa là một thiết chế quan trọng của hạ tầng cơ sở KT-XH) thì sẽ chịu chi phối bởi quy luật nào là chính ?

- Trong 3 loại quy luật trên thì quy luật nào được coi là cơ bản nhất, tức là

 giữ vai trò chủ đạo, xuyên suốt  ? và mối quan hệ giũa chúng như thế nào ?  

    Hiểu đúng từng quy luật và biết kết hợp một cách khoa học khi vận dụng thì các quy luật này mới thực sự thực hiện được vai trò là công cụ điều hành, thực sự tạo nên động lực mạnh mẽ để phát triển GD&ĐT, nhằm hiện thực hóa TLGD. Còn nếu không thì sẽ có kết quả ngược lại, GD sẽ rối tung lên, sẽ tiếp tục trì trệ và suy thoái, tức cũng là phản lại TLGD !

 

        Một nền GD tốt phải là một nền GD có TLGD rõ ràng, đúng đắn, vừa có tính khoa học cao, vừa có tính nhân văn sâu sắc. Chúng ta đang đi tìm lại, xác định lại TL đó cho nền GD Việt Nam, để mong từ đó mà chúng ta sẽ thực hiện được thắng lợi các yêu  cầu đổi mới căn bản và toàn diện nền GD của nước nhà.

  Trong nhiệm vụ khó khăn này, rất may mắn là chúng ta đã được thừa hưởng những chỉ bảo rất xác đáng của Chủ tịch HCM, tuy rằng Người chưa  hề dùng đến từ TLGD. Ngoài những chỉ bảo về những điều cốt lõi nhất của TLGD như phân tich ở các phần trên, thì Bác cũng đã nhiều lần nêu lên các ý tưởng lớn cho GD Việt Nam, mà ngày nay khi đọc lại chúng ta bỗng nhận ra đó chính là một số định hướng quan trọng cho GD Việt Nam, trong đó ẩn chứa những TL rất sâu xa về GD. Chẳng hạn, Bác từng nói : Phải chống chính sách ngu dân, nhồi sọ. Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Một nền GD sẽ làm phát triển hoàn toàn các năng lực sẵn có của các em. GD làm người. Trọng dụng nhân tài. Dù khó khăn đến đâu cũng phải ra sức thi đua dạy thật tốt, học thật tốt. Xây  dựng một nền GD của một nước độc lập,...  ...

    Qua cuộc bàn thảo rộng rãi về TLGD, đã có rất nhiều ý kiến tâm huyết và  sâu sắc. Những ý kiến này ít hay nhiều đều có sự gặp gỡ với những quan niệm của HCM, ít hay nhiều đều là kết quả tiếp thu một cách khoa học những chỉ bảo xác đáng của Người. Trong nhiều ý kiến bàn thảo mà chúng tôi được đọc, nổi lên là cụm ý kiến hướng về TL : phải xây dựng một nền GD thực học, một nền GD nhân văn, một nền GD lấy giá trị bản thân làm hạt nhân, phải phát triển GD như một quốc sách,… 

   Chúng ta hy vọng về một TLGD đích thực và chuẩn xác của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và bước vào nền KT tri thức ! Nhưng mọi người phải luôn nhớ đến một lời nhắc nhở thẳng thắn và tâm huyết : Tìm được TLGD rồi thì phải làm theo nó, đừng bàn xong rồi để đấy, hoặc chỉ để trưng ra như một đồ trang sức !

 Mặc dù chúng ta biết rất rõ là thực tiễn GD nước nhà đang ở tình trạng trì trệ và yếu kém nặng nề, khó lòng thay đổi được, chuyển biến được trong “một sớm, một chiều”. Nhưng với những tấm lòng trong sáng, nhiệt thành “Vì đất nước, vì thế hệ trẻ”, chúng ta vẫn tin tưởng là sẽ hoàn thành được trách nhiệm này, để góp phần vào công cuộc chấn hưng GD và đất nước.

         Chúng tôi, những người chấp bút bài viết này, rất mong được trao đổi những ý kiến nêu trên với đông đảo các đồng nghiệp và bạn đọc !

                                   Tháng 8 năm 2013

                                                                                                       T T

(1)     Sự lạc hậu và yếu kém của GD&ĐT Việt Nam thì có rất rất nhiều biểu hiện, và cũng rất căn bản và toàn diện, thực trạng này đang ở mức độ trầm trọng, rất khó được thực tiễn KT-XH chấp nhận và chịu đựng, chờ đợi lâu hơn được nữa !

                       Xin được nêu lại một cách cô đọng vài nét như sau :

        1- Nhìn vào chất lượng và hiệu quả : Chất lượng thấp so với chuẩn đào tạo ở mọi

ngành/bậc/cấp học, và nhất là so với nhu cầu của KT-XH.

                                - Với GD phổ thông thì chất lượng phân loại và tốt nghiệp hàng năm được công bố chỉ là con số ảo, cách xa, thậm chí rất xa, con số chất lượng đích thực qua những đánh giá nghiêm túc. Với cái nền phổ thông như vậy thì đương nhiên không thể có chất lượng ĐT nghề nghiệp và đại học tốt được, và do đó các sứ mệnh dân trí, nhân lực, nhân tài, xây dựng nền văn hóa và con người,...cũng đều thực sự đang ở ngoài tầm tay !

                                - Với chất lượng của GD đại học thì nhìn chung là không đáp ứng được yêu cầu của nguồn nhân lực cho sự phát triển KT-XH, thị trường lao động đều lắc đầu chê bai và không chấp nhận, đa số SV ra trường đều khó tìm được việc làm ngay và phù hợp, làm tăng thêm con số lao động thất nghiệp hàng năm (đặc biệt là với các hình thức ĐT tại chức, từ xa, liên kết, liên thông,...). Trình độ ĐT của đại học VN còn một khoảng cách xa so với khu vực, và chưa được thế giới công nhận một cách rộng rãi và chính thức.             

                                - Với chất lượng của GD sau đại học thì cũng là một mảng tối, nhất là gần đây, khi nhu cầu của trình độ ĐT này tăng lên (trong đó có cả nhu cầu thật và nhu cầu giả, cho các trường đại học, các ngành KT,...và cho cả các quy hoạch cán bộ lãnh đạo và quản lý). Thực tế đang có xu hướng là coi trọng số lượng hơn chất lượng, là thương mại hóa, là không cần học thật,..., nhất là đối với ĐT trong nước. Chất lượng ĐT sau đại học vủa VN cũng còn một khoảng cách xa so với thế giới (Như chính chúng ta đã tự thừa nhận, coi TS trong nước chỉ ngang với PTS của nước ngoài đó sao ! Nên có người nói vui rằng : TS của Việt Nam chỉ là TS, chứ không được là Tiến sỹ khoa học TSKH, tức là Tiến sỹ không có khoa học !)...       

               2- Nhìn vào một số yếu kém và bất cập khác :

 - Phân luồng học sinh phổ thông không làm từ sau THCS, dẫn đến phát triển THPT quá nhiều, đào tạo nghề quá ít so với nhu cầu.

 - Phát triển CĐ và ĐH quá bừa và nhảm, quy hoạch phát triển vô lối, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Phát triển bát nháo và quản lý vô trách nhiệm các hình thức đào tạo không chính quy, không tập trung, đặc biệt là các hình thức ĐT từ xa, tại chức, liên kết, liên thông,...

  - Buông lỏng quản lý chất lượng dạy và học ở cả phổ thông và CĐ, ĐH, dẫn đến chất lượng thực chất thì thấp và phải đánh giá chất lượng ảo bằng toàn  những con số “trên trời” !

  - Để tồn tại quá lâu tình trạng phát triển chênh lệch về GD giữa các vùng miền, còn coi nhẹ GD vùng dân tộc thiểu số, chưa quan tâm đúng mức việc học của con em nghèo.          

của kiểu GD ứng thí, thiên về dạy chữ, còn coi nhẹ GD đạo đức và lối sống.

 - Định hướng sai lệch trong công tác xây dựng đội ngũ, vừa chưa coi trọng năng lực thực chất, vừa coi nhẹ tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp. Chuyển biến quá chậm về chất lượng đội ngũ (cả giáo viên và cán bộ quản lý),...                                          

  - Quản lý trường học và quản lý ngành nhìn chung còn rất yếu kém, thể hiện ra ở năng lực và phẩm chất của cán bộ quản lý, và ở cơ chế quản lý. Có một nguyên nhân sâu xa, gốc rễ là trong ngành chưa có được văn hóa quản lý chuẩn xác và trong sáng, bệnh thành tích và thói gian dối còn rất nặng nề, trong nhiều mảng của hoạt động đang bị nhiễm bẩn nặng bởi xu hướng thương mại hóa, còn thiếu dân chủ và minh bạch !... ...

                3- Xem xét đến nguyên nhân : Nguyên nhân bao trùm và cốt lõi nhất là toàn bộ hoạt động GD&ĐT chưa quán triệt đúng Triết lý GD, nên GD&ĐT không được phát triển theo đúng quy luật. Biểu hiện tập trung của sai lệch cốt tử đó là ở chỗ : Mơ hồ về mục tiêu đào tạo (mục tiêu chung và mục tiêu từng ngành/bậc/cấp học), Quá coi nhẹ và coi thường Nội lực, nhất là nội lực tự học ở mỗi người học, Bị khuynh đảo bởi mục đích Lợi nhuận. Và nhìn khái quát trên bình diện tổng thể thì có thể nói Tư duy GD&ĐT Việt Nam vẫn như đang bị “cầm tù” trong cái “cái vòng kim cô” méo mó, bệnh hoạn của một thứ triết lý GD ứng thí, chỉ nhằm đến mục tiêu “dạy chữ”, coi trang bị tri thức là chủ yếu. Và với tư duy đó thì đương nhiên GD&ĐT Việt Nam chưa dám và chưa thể bứt phá lên để chuyển mạnh sang yêu cầu chủ đạo là Rèn luyện năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, kỹ năng tự đào tạo cho người học, theo đúng đòi hỏi của thực tiễn !

     Mặc dù không thể phủ nhận hoặc quên đi những điểm sáng về một vài mặt nào đó, ở đâu đó, thi thoảng lóe lên, nhưng rõ ràng là những đốm sáng đó không thể đủ sức làm bừng hửng lại cái diện mạo GD lâu nay đã bị che phủ bởi một màu tối xám ! Những đốm sáng đó chưa thể nói lên bản chất của xu hướng phát triển tốt lên của nền GD Việt Nam !

(2)      Những đoạn in nghiêng với cỡ chữ thường (không nhỏ) và có ghi kèm là ý kiến của Bác thì đều được trích ra từ các bức thư mà Bác gửi cho ngành GD, hoặc lược ghi trong các tư liệu đáng tin cậy có nguồn gốc từ “HCM tuyển tập”.

(3)      Luận về Đức trong Nhân cách, Bác Hồ nói :

Trời có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông              

 Đất có bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc        

Người có bốn đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính      

Thiếu một mùa thì không thành Trời

Thiếu một phương thì không thành Đất

Thiếu một đức thì không thành Người !                     

(4)      Gần đây UNESCO có điều chỉnh tên gọi và nội dung của 4 trụ cột GD toàn cầu : đưa trụ cột “học để Sáng Tạo” thay thế cho 1 trong 4 trụ cột cũ. Chúng tôi chưa tìm được nguồn thông tin đầy đủ và chính xác về sự thay đổi này. Xin cứ nêu ra đây các ý kiên còn khác nhau để mọi người cùng tra cứu và tìm hiểu thêm cho sáng tỏ :

- GS Nguyễn Cảnh Toàn nói trụ cột “học để Sáng Tạo” thay thế cho trụ cột “học để Làm Người”, với cái lý là trong  nền KT tri thức thì yêu cầu Sáng Tạo trùm lên yêu cầu Làm Người.

 - Một tác giả khác nói trụ cột “học để Sáng Tạo” thay thế cho trụ cột “học để Làm”, với cái lý là trong nền KT tri thức thì yêu cầu Làm phải là Sáng Tạo, chứ không chỉ là tái tạo, là bắt chước, tức là loại năng lực phẩm cấp cao. Sự thay thế như vậy càng nhấn mạnh được đòi hỏi đặc trưng này của nền KT tri thức, đó là một sự thay thế hợp lý. Yêu cầu này thường được hiểu là Tài, trong khi yêu cầu Làm Người lại thường được hiểu là Đức, nghĩa là Sáng Tạo không thể thay thế cho Làm Người.

(5)    Nội lực tự học của con người thường được hiểu như là một phẩm chất của nhân cách, nó vừa là Đức và cũng vừa là Tài. Ở đây Học được hiểu là sự tôi rèn nhân cách (rèn Đức, luyện Tài). Nội lực tự học thường bao gồm hai nhóm thành tố chính sau đây :

- Nhóm thành tố về tinh thần tự học : ý chí vươn lên, lòng say mê, ham học, khát vọng học để làm Người, ý thức tự lực, chủ động sáng tạo, không ỷ lại ngoại lực,…

- Nhóm thành tố về năng lực tự học : biết phương pháp tự học trong tất cả các khâu của quá trình học trên lớp cũng như học ở nhà, học văn hóa, chuyên môn cũng như tu dưỡng  đạo đức, biết kế hoạch hóa việc học, biết cách khai thác các yếu tố hõ trợ,…Những sự biết này đạt đến mức kỹ năng thành thạo,…

 


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn