Nghị
trường Quốc hội đang nóng về vấn đề ngân sách, tiếp tục đi vay, nâng
trần nợ công là chuyện đang được thảo luận. Giáo dục đào tạo đương nhiên
cũng chia sẻ nỗi lo cùng các nghị sĩ. Nhất là trong tuần qua, Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban
Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi
mới căn bản, toàn diện GD-ĐT.
Một
trong các tiêu chí của đổi mới triệt để giáo dục là dạy cho người học
biết: “yêu gia đình, yêu tổ quốc…”. Để có thể yêu cái gia đình “giáo
dục” của mình, ngành giáo dục có lẽ nên dành thời gian lắng nghe ý kiến
đóng góp của các nhà giáo, nhà khoa học.
Tự
tìm con đường cứu ngành là trách nhiệm của tư lệnh ngành, không nên học
một vài địa phương, hễ có thiên tai là yêu cầu TW cứu trợ.
Đầu tiên không ở chỗ “tiền đâu”
Về
bài toán ngân sách giáo dục, GS. Trần Phương nêu ý kiến: “cần phải xem
lại trường công có đáng phải bao cấp 70% học phí nữa không, vì thực tế
đất nước chỉ dành 20% ngân sách cho giáo dục, con số đó là tối đa không
thể hơn được, chúng ta cũng phải xem lại tiêu tiền vào việc gì cho hợp
lí, và nếu dùng tiền như hiện nay nền giáo dục đất nước khó tiến lên
được” [1].
 |
| Ảnh: Văn Chung |
Trong bài “ Chùm khế ngọt ngân sách là nguyên nhân chính làm giáo
dục tụt hậu” người viết đã nêu quan điểm: “đầu tư một cách thông minh
cho giáo dục mới là điều chúng ta cần bàn chứ không phải vấn đề đầu tiên
là “tiền đâu”. [2]
Theo số liệu công bố của chính phủ
tại quyết định số 3299-QĐ-BTC ngày 27/12/2012, ngân sách chi cho Giáo
dục – đào tạo, dạy nghề (gọi chung là GD) năm 2013 là 194.416 tỷ (tương
đương hơn 9 tỷ đô la Mỹ), trong đó chi thường xuyên: 164.401 tỷ, chi
đầu tư phát triển: 30.015 tỷ (chiếm 15.4% tổng ngân sách).
Ông Lê Văn Học - Phó Chủ nhiệm Ủy
ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội
cho biết hệ thống giáo dục Đại học nhận được khoảng 10% trong tổng số
ngân sách nhà nước dành cho giáo dục [3], nghĩa là gần 20 nghìn tỷ, con
số này bằng khoảng 2/3 tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển giáo dục
- đào tạo, dạy nghề.
Với 20% ngân sách dành cho giáo dục,
chia ra các mảng: phổ thông, đại học, chính trị, quốc phòng, an ninh,
thực chất đó là một số tiền quá nhỏ so với nhu cầu nhưng lai rất lớn so
với ngân khố quốc gia. Triển khai đổi mới toàn diện giáo dục cần rất
nhiều tiền trong khi ngân sách đã cạn kiệt, vậy lấy tiền ở đâu? Câu trả
lời nằm ở chủ trương xã hội hóa giáo dục.
Trước mắt triển khai ở khối CĐ-ĐH sau đó có thể tiếp tục ở khối THPT, khối THCS nhà nước cần bao cấp hoàn toàn.
Nếu nhà nước chỉ bao cấp một số
trường, ngành đào tạo theo hướng nghiên cứu, đào tạo nhân tài, nghĩa là
dành khoảng 5.000 tỷ cho các đối tượng này thì đương nhiên sẽ có 15
nghìn tỷ cho đầu tư phát triển, đấy là chưa nói quá trình cổ phần hóa
các trường công cũng mang lại một nguồn thu không nhỏ. Con số 5.000 và
15.000 tỷ sẽ được giải thích ở phần sau.
Có nhiều số liệu thống kê về đóng
góp của hệ thống trường NCL, GS. Đặng Ứng Vận (ĐH Hòa Bình) cho rằng:
“Khối trường ngoài công lập từ mẫu giáo đến đại học, thu hút xã hội hóa
giáo dục với nguồn vốn đầu tư lên tới 10.000 tỷ đồng”.
Còn nguyên Thứ trưởng Bộ GD&ĐT
Trần Xuân Nhĩ thì cho rằng: “từ năm 2000 đến nay các trường Đại học, Cao
đẳng ngoài công lập đã đóng góp cho nhà nước khoảng hơn 30 nghìn tỉ”
[4]. Số liệu của các vị GS nêu trên có sự chênh lệch đáng kể, xin nêu
một cách tính toán đơn giản nhưng chắc chắn không thể phản bác:
Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo
dục đại học năm 2013, như đã nêu là khoảng 20.000 tỷ. Theo thống kê của
Bộ GD&ĐT, sinh viên các trường CĐ-ĐH NCL chiếm khoảng 13% tổng sinh
viên cả nước, 87% sinh viên công lập tiêu tốn 20.000 tỷ, bằng phép tính
tỷ lệ thuận dễ dàng suy ra 13% sinh viên NCL sẽ tiêu tốn 2988.506 tỷ.
Nói khác đi khối trường CĐ-ĐH NCL đã đóng góp cho xã hội số tiền tương
đương 13% ngân sách dành cho GDĐH, tức là khoảng 3.000 tỷ/năm.
Ngược dòng thời gian, ngày 9/9/2004
tại buổi lễ thành lập Hiệp hội các trường CĐ-ĐH NCL, nguyên phó thủ
tướng Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh: “Để đáp ứng nhu cầu học tập của người
dân, phải chuyển giáo dục ĐH từ tinh hoa sang đại chúng. Tới năm 2010,
nâng tỷ lệ sinh viên học tại các trường ngoài công lập là 40%, thậm chí
50%, hiện nay mới chỉ chiếm 12%“ [5].
Có thể thấy trong vòng 10 năm qua,
tỷ lệ sinh viên NCL tuy có lúc lên, lúc xuống nhưng vẫn chỉ quanh con số
12-13%, điều này có nghĩa là trong 10 năm, số tiền khối NCL đóng góp
cho giáo dục vào khoảng 30 nghìn tỷ.
Nếu mục tiêu 50% sinh viên học tại các trường NCL đưa ra năm 2004 được thực hiện thì chắc chắn ngân sách sẽ dôi ra 10.000 tỷ.
Trong khi các ngành kinh doanh khác,
lỗ lãi vẫn là chuyện tù mù, thì lợi ích của xã hội hóa giáo dục lại là
điều hiển nhiên không phải bàn luận. Nếu có thể nâng tỷ lệ này tương
đương Nhật Bản, Hàn Quốc, nghĩa là 70-80% sinh viên theo học các trường
NCL thì con số tiết kiệm sẽ là 15.000 tỷ.
Đến đây một câu hỏi luôn khiến người
viết trăn trở là: “Cứ một năm kéo dài tình trạng bao cấp giáo dục đại
học, ngân sách sẽ tiêu tốn khoảng 20.000 tỷ. Vậy thì tại sao chúng ta
không mạnh dạn xóa bỏ bao cấp?".
Ai ngăn cản xã hội hóa?
Một trong các lý do được Bộ trưởng
Phạm Vũ Luận nhấn mạnh là: "Những trường ĐH ngoài công lập tuyển sinh
được ít là những trường chưa quan tâm đúng mức đến xây dựng và phát
triển đội ngũ giảng viên, chưa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, chất
lượng đào tạo còn hạn chế, chưa tạo được uy tín trong xã hội. Cá biệt,
có một số trường nội bộ mất đoàn kết, mâu thuẫn kéo dài…”[6].
 |
| Ảnh: Phạm Hải |
Nhận định của Bộ trưởng không sai, nhưng nói đi thì cũng phải nói
lại. Điểm mặt các trường mất đoàn kết, mâu thuẫn thì đều thấy bóng dáng
các doanh nhân, những người đến sau nhưng bằng tiền họ đã thâu tóm
quyền lãnh đạo nhà trường. Các nhà sư phạm, các thầy giáo, những người
sáng lập bị đẩy ra khỏi trường, thậm chí còn bị cấm không được vào
trường.
Vì sao lại xảy ra cơ sự này? Vì theo
Luật Giáo dục đại học, theo đó hiệu trưởng trường đại học không cần
phải là nhà giáo (chỉ cần bằng TS và 05 năm quản lý cấp phòng, khoa).
Với một tấm bằng tiến sĩ có thể mua
từ nước ngoài, năm năm làm trưởng phòng (bất kể trưởng phòng gì, kể cả
phòng Bảo vệ, Y tế…) là đủ tiêu chuẩn làm hiệu trưởng trường đại học. Ai
và nhóm người nào đã vận động hành lang để đưa vào luật một điều khoản
thiếu tính giáo dục như vậy?
Câu hỏi đặt ra là liệu có “nhóm lợi
ích” nào đang cố tình cản trở tiến trình xã hội hóa giáo dục? Ai sẽ
hưởng lợi nếu duy trì tình trạng hiện tại?
Không khó để tìm câu trả lời, báo An
ninh Thủ đô điện tử, ngày 17/9/2013 cho biết: “Trần học phí theo quy
định của Chính phủ năm 2013-2014, thấp nhất là 4.85 triệu đồng/năm và
cao nhất là 6.85 triệu đồng/năm. ĐH Mỏ - Địa thông báo học phí cao đẳng
là 448.000 đồng/tháng/sinh viên, đại học: 560.000 đồng/tháng/sinh viên.
ĐH Nông Nghiệp Hà Nội quy định mức học phí từ 480.000 đến 560.000
đ/tháng/sinh viên”.
Đa số trường NCL học phí trình độ đại học khoảng 600.000 – 650.000 đồng/tháng/sinh viên.
Trường công lập được ngân sách bao
cấp hoàn toàn, học phí thu xấp xỉ các trường NCL, miếng bánh ngon làm
sao có thể chia? Tội gì xã hội hóa để mất nguồn ngân sách “trời cho” mà
không phải làm gì? Lẽ ra với mức thu học phí như vậy, với cơ sở vật chất
và đội ngũ giảng viên được nhà nước đầu tư hoàn chỉnh, các trường công
lập không được hưởng một đồng nào từ ngân sách mới là công bằng trong
nền giáo dục đa thành phần hiện nay.
Điều này không nói ra thì các ĐBQH
cũng biết, lãnh đạo lại càng biết. Người dân mong chờ những nghị quyết
của Quốc hội, còn Quốc hội thì chờ gì?
------------------
Tài liệu tham khảo:
[1]http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/GS-Tran-Phuong-Dut-khoat-xoa-bo-bao-cap-truong-cong/320255.gd
[2]http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Chum-khe-ngot-ngan-sach-la-nguyen-nhan-chinh-lam-giao-duc-tut-hau/318376.gd
[3]http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Mot-so-co-che-CS-voi-cac-truong-dai-hoc-cao-dang-NCL-xa-thuc-te/316302.gd
[4]http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/Khong-the-choi-bo-suc-dong-gop-cua-he-thong-giao-duc-dai-hoc-NCL/316174.gd
[5]http://vietbao.vn/Giao-duc/Sau-nam-toi-se-co-50-sinh-vien-ngoai-cong-lap/20257381/202/
[6]http://m.vtc.vn/539-444039/tin-tuc-su-kien/vi-sao-truong-ngoai-cong-lap-ngac-ngoai-doi-sinh-vien.htm