LTS:
Tiếp theo mạch bài về dạy và tiếp cận sử được đặt ra trong dịp cả nước
tôn vinh sự nghiệp trồng người 20/11, Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc
nhìn của TS Giáp Văn Dương về cách dạy sử ở nhà trường và việc bồi đắp
tình yêu nước.
Bài
học lớn nhất từ lịch sử chắc hẳn là bài học làm người văn minh. Chỉ có
như thế, những khổ đau đã xảy ra trong lịch mới không lặp lại và không
trở thành vô nghĩa.
 |
TS Giáp Văn Dương. Ảnh: Lê Anh Dũng
|
Lịch sử và diễn giải luôn là chủ đề
tranh luận của học thuật và đời sống. Phân định được lịch sử và diễn
giải, chúng ta sẽ tránh mắc kẹt vào những diễn giải cụ thể để làm che mờ
sự thật và ý nghĩa của lịch sử, và qua đó, bao dung được với những diễn
giải khác nhau, trong sự bình đẳng và tương kính.
Còn không, chúng ta mãi chìm đắm trong
những vết thương và mất mát đã xảy ra. Lịch sử trong trường hợp này trở
thành gánh nặng, là căn cớ của những chứng bệnh xã hội, thay vì là
trường học hay nguồn cội.
Theo cách của riêng mình, mỗi người mang trên mình gánh nặng của quá khứ, cả vinh quang lẫn khổ đau.
Đây là điều không tránh khỏi, và cũng
không nên tránh, vì chính việc này tạo ra sự gắn kết của cả dân tộc, khi
họ chia sẻ chung một quá khứ. Vậy nên, ứng xử với quá khứ như thế nào
là câu chuyện của cả dân tộc, chứ không phải là câu chuyện của một cá
nhân.
Trăm năm trên cõi đời này, mỗi cá nhân
đều vô cùng bé nhỏ. Nhưng nếu có thêm sự tiếp sức từ quá khứ, thì họ trở
nên giàu có và mạnh mẽ biết nhường nào. Theo cách nhìn đó, một dân tộc
không có lịch sử là một dân tộc nghèo. Một cá nhân không tiếp nhận được
sức mạnh của lịch sử dân tộc mình là một sự thất bại.
Vì thế, chúng ta cần lịch sử và hiểu
lịch sử. Chúng ta cần một sự tiếp nối để có thêm sức mạnh và để bớt cô
độc trên cõi đời này.
Nhưng lịch sử không ngọt ngào. Những
trang vui tươi trong lịch sử rất ít. Phần còn lại chủ yếu là khổ đau,
thù hận, máu và nước mắt.
Theo thống kê sơ bộ, trong khoảng 2250
năm trở lại đây nếu tính từ thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất, thời gian
Việt Nam ở trong tình trạng chiến tranh hoặc phụ thuộc chiếm gần gấp đôi
thời gian hòa bình. Đó là những khoảng thời gian đau đớn đầy máu và
nước mắt.
Vậy làm sao phải tiếp nhận một di sản đầy máu và nước mắt đó?
Việc này không dễ dàng chút nào. Tùy thuộc vào các hoàn cảnh cụ thể mà mỗi người có một lựa chọn.
Nhưng tựu chung có mấy cách phổ biến như sau:
• Quên nó đi, coi như không có, và nếu cần thì rũ bỏ
• Tự hào về nó, coi đó là vinh quang, cần tuyên truyền rộng rãi
• Thù ghét nó, coi đó là nguồn gốc của khổ đau, cần phê phán kịch liệt
Dù lựa chọn thế nào đi chăng nữa thì
những khổ đau và thương tổn đã xảy ra là có thật, còn lựa chọn và diễn
giải chỉ là chủ quan và thiên kiến của cá nhân hay một nhóm người.
Trên thực tế, lịch sử thường gắn liền
với chiến tranh. Mà đã là chiến tranh thì bao giờ cũng gắn liền với
thắng và bại. Phe thắng thì thường coi đó là niềm tự hào và chính nghĩa.
Còn phe bại thì coi đó là sự cay đắng hoặc bất công của lịch sử. Người
dân thường thì mất mát quá nhiều, hoặc không muốn nói đến, hoặc ngả
nghiêng theo tuyên truyền dòng chính, hoặc chẳng quan tâm vì họ phải lo
toan chuyện cơm áo gạo tiền.
Khi cuộc chiến kết thúc, di sản lớn nhất
mà nó để lại không hẳn là những tổn thất vật chất, mà là các diễn
giải, hoặc khổ đau hoặc tự mãn, được lồng ghép với nhiều ý đồ khác nhau
của người diễn giải, tạo ra những vòng xoáy vô tận.
Kết quả của các diễn giải thiên kiến, dù
mang trên mình những chiếc áo mỹ miều của lòng yêu nước hay bản sắc
quốc gia, cũng làm những đổ vỡ trong lịch sử, máu và nước mắt, sẽ theo
những vòng xoáy này tàn phá lòng người, tàn phá thế hệ hiện tại. Qua
cách đó, cuộc chiến sẽ không bao giờ kết thúc. Cuộc chiến chỉ chuyển
sang một dạng khác, duy trì dưới một mầm mống khác có thể bùng phát bất
cứ lúc nào.
Những cái giá quá đắt mà thế hệ đi trước
phải trả đã không mang lại điều gì cho các thế hệ sau. Cũng không có
bài học nào của lịch sử được rút ra.
Muốn thoát ra khỏi vòng xoáy thì chỉ có hai cách: đứng ngoài vòng xoáy hoặc đứng cao hơn vòng xoáy.
Đứng ngoài vòng xoáy có ưu điểm của nó
là sự đơn giản. Đó là cách dễ nhất, nhưng không giải quyết được gốc rễ
của vấn đề. Vì khi chọn cách đứng ngoài, anh tuy tránh được những khổ
đau, nhưng cũng đánh mất cơ hội tiếp nhận sức mạnh mà lịch sử mang lại.
Vậy chỉ còn cách đứng trên vòng xoáy, để
vượt thoát và phá vỡ nó để tập hợp và hướng sức mạnh của lịch sử vào
những việc có ích cho cuộc sống hiện tại, hoặc chí ít cũng là để hạn chế
sự tàn phá của nó đối với hiện tại. Chỉ có như thế mới có thể có được
một hiện tại yên bình. Chỉ có như thế một cuộc chiến mới có thể kết
thúc.
Lịch sử dĩ nhiên không phải để làm cảnh
hoặc để trang hoàng cho oách. Lịch sử là trường học. Lịch sử cũng là bãi
chiến trường. Ngay cả khi các cuộc chiến đã qua đi, thì lịch sử vẫn là
nơi các diễn giải tranh đấu với nhau để tìm ra sự thật.
Như vậy, lịch sử không phải để lên bàn
thờ, cũng không để hắt hủi hoặc trốn tránh, mà để thảo luận và dưới
nhiều góc nhìn khác nhau của hậu thế. Đó cũng là cách tôn trọng nhất đối
với lịch sử, với di sản của thế hệ trước để lại.
Chiếc cốc nhìn từ hai góc nhìn khác nhau
Cùng là một vật thể: chiếc cốc, nhìn từ
bên cạnh là hình nón cụt, nhìn thẳng vào lòng cốc là hình tròn. Từ hai
góc nhìn khác nhau đã có hai hình dạng khác hẳn nhau. Ai đúng, ai sai?
 |
| Đang có nhiều quan điểm khác nhau về việc giảng dạy môn Sử trong nhà trường. Ảnh: Phạm Hải |
Câu trả lời tất nhiên là không có ai
đúng, mà cũng chẳng ai sai. Cả hai đều đúng, và cả hai đều sai. Đúng,
theo góc nhìn của mình, nhưng sai do diễn giải của mình về cái cốc là
phiến diện.
Với trường hợp cái cốc, chúng ta chấp
nhận việc thấy cái cốc là hình nón hay hình tròn tùy theo góc nhìn là
điều hiển nhiên. Nhưng với các sự kiện lịch sử, chúng ta lại thường
không chấp nhận điều đó, và có xu hướng cho rằng chỉ có một diễn giải
đúng. Diễn giải đó thường được coi là chính thống, được sự hỗ trợ của
hệ thống, đặc biệt là truyền thông và giáo dục, nên được cho là chân lý,
lấn át mọi diễn giải khác.
Các sự thật này đều bình đẳng với nhau
theo cách riêng của chúng. Nhưng sự thật đúng nhất là sự tổ hợp của các
sự thật cá nhân này. Không có cách nào tránh khỏi điều này, vì nếu
không, sẽ rơi vào phiến diện và tranh cãi triền miên, như câu chuyện về
cái cốc hình nón hay hình tròn đã nói.
Bởi thế, cần phải chấp nhận một sự thật
rằng, mọi diễn giải đều bình đẳng như nhau, miễn sao chúng được hỗ trợ
bởi các bằng chứng lịch sử. Chính các bằng chứng này là yếu tố quyết
định diễn giải nào có nghĩa, và diễn giải nào là ngụy biện.
Đối lập là bổ trợ
Sự phát triển của khoa học, đặc biệt là
vật lý học, đã cho thấy sự vật có thể mang những đặc tính hoàn toàn
trái ngược nhau, như lưỡng tính sóng-hạt của ánh sáng chẳng hạn. Chính
vì thế, Niels Bohr, một trong những nhà vật lý học vĩ đại của thế kỷ
20, đã phải thốt lên rằng: Đối lập là bổ trợ. Điều này có nghĩa, những
diễn giải đối lập nhau không phải là để triệt tiêu nhau, mà bổ trợ nhau
trong việc hình thành một nhận thức đúng của chúng ta về sự vật, tức
càng giúp chúng ta tiến gần sự thật. Các góc nhìn càng phong phú thì cơ
hội tiếp cận sự thật càng nhiều.
Quan niệm “đối lập là bổ trợ” này chính
là nội dung của một nguyên lý quan trọng: nguyên lý bổ sung trong nhận
thức luận, và ngày càng được thừa nhận rộng rãi, trong mọi lĩnh vực của
đời sống. Nhờ nó mà sự phán xét với các quan niệm khác nhau, thậm chí
trái ngược nhau trở nên bớt khắt khe hơn.
Với các hiện tượng khoa học khách quan,
có thể đo đạc và lặp lại được, việc thừa nhận những diễn giải trái
ngược nhau đã được coi là thiết yếu để hiểu rõ sự thật, thì với cá hiện
tượng lịch sử luôn gắn liền với con người, nặng tính chủ quan và không
lặp lại, thì việc chấp nhận các diễn giải khác nhau, hoặc trái ngược
nhau, cần phải được coi là bình thường và cần thiết để tiến gần sự thật.
Khi đó, sự tiếp nhận các quan điểm khác
nhau, những diễn giải trái ngược nhau trở nên bình thường. Con người
trở nên bao dung hơn. Sự bao dung đó có mục đích trước hết là để làm
sáng tỏ sự thật, sau đó mới là giúp cho cuộc sống được đa dạng, an
toàn.
Không lẽ những sai lầm của lịch sử cứ
lặp đi lặp lại, mà một trong những nguyên nhân của việc này là những
bài học lịch sử đã không được rút ra. Vì sự thật lịch sử đã bị che đậy
bởi những diễn giải một chiều
Bao dung hơn nữa
Với Việt Nam, một đất nước trải qua
nhiều cuộc chiến liên miên, và nhiều vết thương vẫn còn gỉ máu, thì sự
bao dung trong việc diễn giải lịch sử còn trở nên cần thiết hơn bao giờ
hết. Vì chỉ có cách đó, chúng ta mới có thể chấp nhận được các diễn
giải khác nhau về cùng một sự kiện. Và cũng chỉ có cách đó, sự thật của
lịch sử mới được làm sáng tỏ phần nào.
Sự bao dung này cần phải được coi là một
tất yếu của nhận thức, vì nhận thức, chứ không phải sự ban phát hoặc
thỏa hiệp giữa bất cứ phe phái nào. Mục đích cao nhất của nó là tiếp cận
sự thật lịch sử thông qua các diễn giải khác nhau, dưới những góc nhìn
và quan niệm khác nhau. Còn các hệ quả khác, như bồi đắp sự chín chắn
trong nhận thức, loại bỏ thù hận, hòa hợp hòa giải… sẽ tự đến một cách
tự nhiên.
Chỉ khi nào tiếp cận được gần sự thật,
thì con người ta mới rút ra được những bài học có ích cho mình. Nếu
không, những sai lầm của lịch sử sẽ có nguy cơ lặp lại bất cứ khi nào.
Dư chấn của những đổ vỡ và chia cắt trong quá khứ sẽ không được giải
tỏa mà tiếp tục phá hoại cuộc sống hiện tại qua những vòng xoáy của
định kiến và diễn giải phiến diện.
Khi đó, những cái giá quá đắt mà thế hệ
trước đã trả trong quá khứ: máu và nước mắt, hàng chục năm tụt hậu,
chia cắt và đổ vỡ, hàng triệu gia đình mất mát chia ly… sẽ chỉ mang lại
những vòng xoáy cãi vã và cuồng nộ trong lòng người, những điều vô
nghĩa đối với cuộc sống hiện tại này.
Bởi lẽ đó, khi đánh giá bất cứ sự kiện
nào, chúng ta cần tự nhắc nhở phải bao dung. Với các sự kiện lịch sử,
lại càng phải bao dung hơn. Với người Việt Nam, lại càng phải bao dung
hơn nữa.
Không phải các lý thuyết về xã hội, cũng
không phải các chiến dịch tuyên truyền, mà chính sự bao dung mới là
câu thần chú của mọi sự hòa hợp, là nước cam lồ rửa sạch vết đâu, là
chìa khóa để mở ra sự phát triển.
Mầm thiện sẽ mở ra với người bao dung,
còn mầm ác sẽ nảy nở trong lòng kẻ định kiến. Bao dung hay định kiến,
đó là lựa chọn là của chúng ta, không ai thay thế được.