Thứ sáu, 24/04/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Thói hư tật xấu người Việt E-mail
27/12/2013

Thói hư tật xấu người Việt: Giả dối lừa lọc

22/12/2013 11:14
(Thethaovanhoa.vn) - Khi khái quát tính dân tộc của người Trung Quốc, trong cuốn Ẩm băng thất văn tập (1904), nhà tư tưởng cận đại Lương Khải Siêu đã nhấn mạnh nhiều nhược điểm như thiếu tư tưởng độc lập, thiếu ý thức công cộng hoặc thói quen làm đầy tớ, chỉ biết chăm sóc lợi riêng. Ông còn cho rằng, đồng bào mình thường võ đoán giả dối, đã ngu muội nhút nhát song lại thích lừa đảo.

Tôi đọc trích dẫn trên từ cuốn Tìm hiểu văn hóa người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc của Kim Văn Học (bản dịch tiếng việt của NXB VH-TT, 2004). Ông này là một giáo sư người Trung Quốc, dạy học ở Nhật. Trong những cuốn sách sưu tầm tài liệu về dân tộc tính của người Trung Quốc, in ra ở các nhà xuất bản ở Bắc Kinh, Thượng Hải, cũng thường thấy trích dẫn lời ông.

Bệnh lừa đảo được bản thân Kim Văn Học đưa lên thành thói xấu số một trong cuốn sách mang tên Chí hướng phản văn hóa của người Trung Quốc (cuốn này in cả ở Hàn Quốc và Nhật Bản).


Cũng nói tới căn bệnh nan  ý này, ngoài những trí thức trong nước, Kim Văn Học còn dẫn ra ý kiến tương tự của người nước ngoài như A.H.Smith, hoặc M.Weber – nhà xã hội học cỡ số một thế giới. Dù chưa tới Trung Quốc bao giờ, M. Weber cũng nói một cách quyết đoán: “Người Trung Quốc là một dân tộc không thành thật nhất trên thế giới”.

Tôi dẫn ra những dẫn chứng trên để cùng hiểu là chúng ta không việc gì phải khó chịu khi nghe nói rằng thói giả dối đổ bóng lên mọi mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Việt Nam.

Giả dối, điêu ngoa, phỉnh phờ, bịa đặt, lường gạt, bố vờ, điêu xảo, gian lận, lừa lọc, bịp bợm, xạo, xảo trá, man trá, trí trá… những từ ngữ đó đã miêu tả đầy đủ mọi cung bậc của một căn bệnh vốn có sức lây lan rất nhanh và hàng ngày trình ra muôn vàn bộ mặt kỳ lạ trong cuộc sống quanh ta.

Nhân vật Cuội trong Thằng Cuội ngồi gốc cây đa mở đầu cho hàng loạt nhân vật lang thang trong văn học dân gian. Điều đáng nói là ở đây đã gặp sự có mặt thường xuyên của dối trá. Cuội nói dối như một thói quen bẩm sinh. Bố mẹ mất sớm, phải ở với cậu mợ, Cuội thực thi cách sống dối trá ngay trong gia đình. Sự lừa lọc cứ thế đi từ hồn nhiên sang mục đích vụ lợi, cuối cùng biến thành tội ác (dẫn đến cái chết của cả cậu lẫn mợ).

E.Nordemann, người Pháp đã ghi lại câu chuyện về Cuội như thế trong sách Quảng tập viêm văn, một thứ văn tuyển đầu tiên của văn học Việt Nam in ra từ 1898 (bản dịch tiếng Việt 2006). Trong phần từ vựng về văn hóa Việt Nam, ông nói rõ sự bóc lột quá đáng của nhà nước và tình trạng rối loạn của xã hội đã là những nguyên nhân dẫn đến một số thói xấu thường trực. Theo lời ông, chúng in dấu vào đặc tính của dòng giống. Mà một khuynh hướng có tính bản năng về nói dối, về giấu giếm và cả ăn cắp, là những thói xấu được Nordemann nêu lên đầu tiên.

Trong một bài viết in trên báo Văn Nghệ số ra 10/01/1974, một nhà báo mỹ là Lady Borton kể rằng lúc đầu đến Việt Nam, bà có phần choáng ngợp trước một xã hội lành mạnh, mọi người rất ham đọc sách, rõ ra một xã hội có giáo dục. Còn giờ đây, bà được chứng kiến muôn điều tồi tệ. Một lần, tại một trong những trường đại học nổi tiếng nhất Hà Nội, bà dự buổi kiểm tra ở một lớp tiếng Pháp. Mọi sinh viên còn rất trẻ, người nào cũng lanh lợi. Thế mà lúc làm bài thi, chỉ thấy họ trổ ra mọi mánh lới man trá. Trong một giờ bà đã nhìn thấy những mánh lới nhiều hơn cả quãng đời trước đó của bà cộng lại, Lady Borton xem đây như một điều khủng khiếp.

Và khủng khiếp hơn, nhà báo Mỹ ghi tiếp, là hôm đó có một ông thầy tiếng Pháp trông lớp, ông ta ngồi đó suốt thời gian thi và chẳng nói gì. Cảm thấy không thể hiểu được nữa, Lady Borton chỉ có cách đạp vội xe về văn phòng, mặt mũi nhợt nhạt.

Vậy ta có thể bảo đặc tính lớn nhất của sự gian dối ở người Việt là tình trạng phổ biến của nó? Có lẽ đành phải nói vậy!.

Còn như lý do khiến cho sự gian dối đó kéo dài, một phần là vì người ta thường nương nhẹ với mình và luôn luôn tìm ra lý do để biện hộ.

Câu chuyện Trí khôn của ta đây là một trong những câu truyện dân gian phổ biến được đưa vào Quốc văn giáo khoa thư, dạy cho học sinh lớp dự bị, thời Pháp thuộc. Nhưng ta hãy để ý chính là ở đây còn người đã nói dối con cọp để tự chứng tỏ sự khôn ngoan của mình. Trí khôn được định nghĩa không phải là sự hiểu biết, sự đào sâu suy nghĩ mà là sự gian dối.

(còn tiếp)

Vương Trí Nhàn

Thói hư tật xấu người Việt: Cái còn lại sau bất lực là ảo tưởng

24/12/2013 10:18
(Thethaovanhoa.vn) - Sách Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng có đoạn viết về một sự việc xảy ra thời Trịnh Doanh:

“Doanh để tâm xem xét mọi việc, đặt ống đồng ở cửa phủ, cho ai có việc gì, hoặc bị oan khuất, được bỏ thư vào đó, cứ năm ngày một lần trình lên Chúa. Nhưng sau đó điều tra lại những điều dân chúng mật cáo quan lại tham nhũng, thấy phần nhiều không đúng. Một viên quan là Lê Trọng Thứ, cha Lê Quý Đôn khải rằng: Lòng người ngày nay khác xưa, yêu ghét khen chê chưa chắc đã công bằng cả… Nếu muốn phân biệt hay hèn, thì nên cho trình bày bằng lời nói, thử tài bằng việc làm, khảo sát thực tế bằng công trạng, chứ không nên làm lối cáo giác bí mật, vì chỉ tăng thêm cái tội kèn cựa nhau”.

Theo ngôn ngữ hiện đại, trước mắt chúng ta là một quá trình dân chủ, nhà cầm quyền muốn được nghe ý dân để tiện quản lý xã hội. Nhưng người dân làm hỏng nó một cách tự nhiên. Đằng sau thất vọng về một sáng kiến là nỗi thất vọng chung về những con người.

Sự tình nói trên nếu không phải là câu chuyện riêng của thời Lê Trịnh. Vài nhà viết sử đôi khi từng đưa ra câu chuyện dân chủ ở nông thôn. Nhưng các công trình nghiên cứu kỹ càng hơn cho biết làng xóm người Việt chủ yếu do các dòng họ thao túng, cái gọi là dân chủ ở đây chỉ làm phép. Bản thân người dân không đủ trình độ tham gia công việc của cộng đồng. Thường họ chỉ nhìn ra rất nhanh cái gì có lợi là trụ bám thật kiên trì để giành phần hơn, ngoài ra sẵn sàng dửng dưng chây bửa. Không ai bảo ai mà tự nhiên ai cũng tự nhủ trốn được việc gì hay việc ấy. Cha chung không ai khóc, ngại đóng góp vào việc chung đã thành một lẽ sống. Những cuộc bàn cãi ở làng xưa thường diễn ra vô nghĩa, nhiều khi những ý kiến lăng nhăng tùy tiện lại trở thành tiếng nói cuối cùng.

Đây cũng là tình trạng chi phối xã hội. Càng sống, càng tiếp xúc với thiên hạ, các thế hệ nối tiếp đặt ra cho mình biết bao hoài vọng. Song sự nhân từ nhiều khi lại là một cách “diệu” nhất để khuyến khích sự lười biếng, sự tin cậy biến thành chỗ dựa cho dối lừa, và lòng tốt thì không bao giờ đủ sức đương đầu với thói vụ lợi. Cứ thế, biết bao sáng kiến bị chôn vùi, các phần tử tinh hoa, càng cụ cựa, càng sầy vẩy và cảm giác bất lực đến cả với những người còn rất trẻ.

Học là gì? Nói cho gọn, học là cách con người muốn sống một cách có ý thức, muốn vượt lên những tầm thường dại dột để tự đào tạo, để bản thân trưởng thành mà xã hộ ngày một thịnh trị. “Người mình ai cũng ham học”, một nhận xét như thế đã thành câu cửa miệng. Nhưng nhìn kỹ thấy quan niệm chung về học lại quá sơ sài, người ta chỉ cầu nhàn và bằng lòng dừng lại ở những kiến thức sơ đẳng. Ham học nhát chỉ là những người muốn đi làm quan. Chuyện sôi kinh nấu sử cũng như quên mình thi cử rốt cuộc là động tác của kẻ muốn có mảnh bằng để gõ cửa quan trường, còn như con người ham học thì ngày càng mất hút.

Dân tộc nào thì cũng vậy thôi, bi kịch chung của nhân loại là sự phân ly thường trực giữa nguyện vọng và khả năng thực tế. Nhưng ở người Việt, tấn bi kịch này có một sắc thái riêng mà câu tục ngữ Miệng khôn trôn dại đã nói được gần đủ. Thế nào là đẹp, thế nào là hay nhiều khi không phải ta không biết. Nhưng còi cọc yếu ớt, con người lý trí ở ta nhanh chóng bị con người bản năng tầm thường kéo lùi trở lại. Miệng thì khôn mà trôn thì dại, ta bị cuốn vào những hành động tầm thường, hư hỏng. Để tan vỡ mọi ước ao. Để trôi tuột khỏi tay mọi cơ hội.

Sau bao bất lực, con người có nản lòng cũng không lạ. Một sự bi quan bao trùm dai dẳng. Nó ngấm sâu vào tâm trí, nó âm thầm di truyền, và trong một ít trường hợp hiếm hoi làm nên sự biết điều, sự nhẫn nhục rất đáng vì nể.

Song phổ biến hơn, là sự xuất hiện thường trực của ảo tưởng. Ta sẵn sàng khoác cho những công việc bé nhỏ những ý nghĩa đâu đâu. Những mỹ từ thật kêu được lạm phát để phong tặng cho những con người và đồ vật loàng xoàng. Khái niệm sáng tạo bị hạ giá. Nhiều người trở nên thích làm bộ làm tịch phô trương khoe mẽ. Họ sống như diễn trò. Họ kỳ công tìm kiếm và khoác cho mình những danh hiệu hão huyền chỉ cốt lừa mị xung quanh. Thói sĩ diện đang được tha bổng vì ngày một phổ biến.

Khi đi vào nông thôn Việt Nam, cả các nhà xã hội học lẫn các nhà văn hiện đại từng ghi lại một hủ tục: người Việt ở các làng xóm thường hám danh. Họ sẵn sàng dốc tiền cả đời dành dụm và bán nhà bán cửa để mua nhêu mua xã; sau một lần khao vọng thì đẩy vợ con đi làm thuê.

Còn tệ làm hồ sơ giả để vinh danh cho quê hương thì kéo dài đến hiện nay, xưa là xin sắc chỉ vua ban và ngày nay là xin bằng di sản văn hóa. Lúc này cái gì người ta cũng sẵn sàng làm, sự dối trá bao phủ, khiến cho thiện chí và ảo tưởng chỉ còn hiện ra với bộ mặt thảm hại.

(còn tiếp)

Vương Trí Nhàn

 

Thói hư tật xấu người Việt: Khôn lỏi – Ranh vặt – Tinh tướng

27/12/2013 09:32
(Thethaovanhoa.vn) - Một người đã sống qua ở Nhật cho biết người Nhật trong khi giao thiệp, nhất là trong khi làm kinh tế cũng có nhiều quái chiêu không thể thương được. Đầu cơ, móc ngoặc, hối lộ, nói chung là đi đường tắt…trò gì cũng có cả.

Nhiều người trong đám dân đi chào mời tiếp thị (gọi là “mizu shobai”), như có bùa mê thuốc lú, làm cho người ta phải xiêu lòng, rồi sau mới biết mình bị lừa.

Bài viết so sánh: “Cái tinh ma thâm độc của họ khác với cách xảo trá ngô nghê hay dối quanh của người Việt, nên lúc đầu rất khó nhận ra”.

Có chút gì đó vừa “vui” vừa buồn khi nghe nhận xét trên đây. “Vui” vì không phải chỉ người Việt thích lừa lọc nhau, thiên hạ cũng xấu chẳng kém gì ta. Mà buồn vì hóa ra người Việt mình rút cục chỉ biết mẹo vặt, chứ không có cái mưu đồ sâu xa, cái thâm trầm như thiên hạ.

Hơn bù kém, thấy đáng buồn hơn vui. Người bị lừa vừa bật cười vừa bực mình – đến lừa mà cũng vụng dại hớ hênh, thì còn làm được cái gì nên hồn (!).

Người nước ngoài thường nhận xét nói chung người Việt mình thông minh lanh lợi. Nhưng họ cũng thấy ngay sự nhạy cảm nhanh nhẹn trong phản ứng này không dựa trên một sự suy nghĩ chắc chắn mà có gì đó nông nổi vội vã. Trong sự chủ động lại như mang sẵn yếu tố thị động.

Bản thân chúng ta không phải không biết điều đó.

Trong tiếng Việt từ “khôn” không hàm ý sâu sắc trong tư duy và uyên bác trong kiến thức, mà ngã sang một sự tính toán lặt vặt dễ gây phản cảm.

Đó là nghĩa của “khôn” trong những câu tục ngữ “khôn ăn người, dại người ăn”, “khôn văn tế, dại văn bia”, “khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”, “khôn sống, mống chết”, “khôn nên quan, gan nên giàu”, “khôn ngoan chẳng lọ thật thà – lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy”…

Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “khôn” là khả năng suy xét để một người tìm ra một cách xử sự có lợi nhất, tránh được những gì có hại đến quyền lợi các mặt của anh ta. Khôn lỏi – ranh ma – láu cá… đều là thực dụng và vụ lợi.

Tuy không dùng đến từ khôn, nhưng câu “Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau” thật đã thâu tóm đủ cái tài tính toán của người mình và minh họa cho định nghĩa nói trên.

Tồn tại trong suốt lịch sử, công thức này đã thành một thứ “chân lý mặc định”, người Việt dùng nó để “minh triết bảo thân” và việc truyền dạy trong các gia đình được xem là hoàn toàn tự nhiên. Không ai mang nó ra phê phán bao giờ. Gặp một người hành động theo nguyên tắc đó, chúng ta hoàn toàn thông cảm, trong bụng hiểu rằng ai cũng phải xử sự thế thôi, trông người khôn ta phải học theo để khi khác áp dụng.

Cả trong truyện kể dân gian lẫn trong chính sử, người xưa còn ghi lại nhiều mưu mẹo vặt của người mình trước sứ Tàu. Nguyễn Văn Tố trong Đại Nam dật sử (1944) kể khi tiếp Tống Cảo, Lê Hoàn cho xua trâu bò của dân ra để dọa, gọi là quan ngưu, không đầy một nghìn nói khoe là mười vạn. Đấy là khi cần khoa trương thế lực. Còn nói tới việc khoe trí khôn, hẳn ai cũng nhớ sự tích Trạng Quỳnh thi vẽ: Quỳnh chấm cả mười đầu ngón tay vào mực để vẽ giun.

Về khoản khôn ngoan ranh vặt thì Trạng Quỳnh là cả một tượng đài vĩnh viễn. Trong danh sách những điển hình của tính cách Việt, nhân vật này bao giờ cũng đứng đầu sổ.

Thời xã hội mới bước sang giai đoạn xã hội hóa, Nguyễn Công Hoan được biết tới như một ngòi bút giàu chất An Nam bậc nhất. Người Việt trong các tác phẩm của ông đôi khi cũng ngớ ngẩn, ngờ nghệch, nhưng phổ biến và được ông diễn tả hơn cả là loại láu cá và rất giỏi biến báo trong đối xử. Như viên tri châu nọ, trong truyện sáu mạng người, sau khi bắn nhầm mấy người dân đi hái thuốc, thì vu cho người ta là giặc khách để báo lên quan trên lấy thưởng. Như gã nhà giàu nọ, có ông chú từ quê lên chơi, muốn đuổi, liền kêu ầm lên mất ví để buộc ông ta phải bỏ về sớm. Và như trường hợp cụ Chánh Bá có đôi giày cũ, nhân đi ăn giỗ, bắt thằng nhỏ vứt béng ra sau vườn, để bắt vạ nhà chủ, buộc người ta mua đền đôi giày mới.

Các nhân vật nông dân của Nguyễn Khải loại như Tuy Kiền cũng nổi tiếng là ranh ma. Trong việc tính toán giành lấy một chút lợi riêng, họ ở vào thế yếu. Luôn luôn họ phải che giấu, lẩn tránh và tìm ra mưu mẹo để tự khẳng định. Họ thường hiện ra vừa đáng yêu, vừa đáng ghét.

So với “khôn lỏi, “ranh vặt”, thì “tinh tướng” có nghĩa hơi khác một chút, nó được dùng để chỉ những người không những đã khôn mà còn muốn phô ra để cho người khác biết. Đọc Ngô Tất Tố hẳn ai cũng nhớ mẩu chuyện Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập. Cái việc khoe rằng, mình có sáng kiến chế biến đất ra đủ các loại thức ăn chính là dấu hiệu của một lối xử thế tinh tướng, dù ở đây, người ta thấy ghét thì ít mà tội nghiệp nhiều hơn.

(còn tiếp)

Vương Trí Nhàn

 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn