Thói hư tật xấu người Việt: Giả dối lừa lọc
22/12/2013 11:14
(Thethaovanhoa.vn) - Khi
khái quát tính dân tộc của người Trung Quốc, trong cuốn Ẩm băng thất
văn tập (1904), nhà tư tưởng cận đại Lương Khải Siêu đã nhấn mạnh nhiều
nhược điểm như thiếu tư tưởng độc lập, thiếu ý thức công cộng hoặc thói
quen làm đầy tớ, chỉ biết chăm sóc lợi riêng. Ông còn cho rằng, đồng bào
mình thường võ đoán giả dối, đã ngu muội nhút nhát song lại thích lừa
đảo.
Tôi đọc trích dẫn trên từ cuốn Tìm hiểu văn hóa người Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc
của Kim Văn Học (bản dịch tiếng việt của NXB VH-TT, 2004). Ông này là
một giáo sư người Trung Quốc, dạy học ở Nhật. Trong những cuốn sách sưu
tầm tài liệu về dân tộc tính của người Trung Quốc, in ra ở các nhà xuất
bản ở Bắc Kinh, Thượng Hải, cũng thường thấy trích dẫn lời ông.
Bệnh lừa đảo được bản thân Kim Văn Học đưa lên thành thói xấu số một trong cuốn sách mang tên Chí hướng phản văn hóa của người Trung Quốc (cuốn này in cả ở Hàn Quốc và Nhật Bản).
Cũng
nói tới căn bệnh nan ý này, ngoài những trí thức trong nước, Kim Văn
Học còn dẫn ra ý kiến tương tự của người nước ngoài như A.H.Smith, hoặc
M.Weber – nhà xã hội học cỡ số một thế giới. Dù chưa tới Trung Quốc bao
giờ, M. Weber cũng nói một cách quyết đoán: “Người Trung Quốc là một dân
tộc không thành thật nhất trên thế giới”.
Tôi dẫn ra những dẫn
chứng trên để cùng hiểu là chúng ta không việc gì phải khó chịu khi nghe
nói rằng thói giả dối đổ bóng lên mọi mối quan hệ giữa người với người
trong xã hội Việt Nam.
Giả dối, điêu ngoa, phỉnh phờ, bịa đặt,
lường gạt, bố vờ, điêu xảo, gian lận, lừa lọc, bịp bợm, xạo, xảo trá,
man trá, trí trá… những từ ngữ đó đã miêu tả đầy đủ mọi cung bậc của một
căn bệnh vốn có sức lây lan rất nhanh và hàng ngày trình ra muôn vàn bộ
mặt kỳ lạ trong cuộc sống quanh ta.
Nhân vật Cuội trong Thằng Cuội ngồi gốc cây đa mở
đầu cho hàng loạt nhân vật lang thang trong văn học dân gian. Điều đáng
nói là ở đây đã gặp sự có mặt thường xuyên của dối trá. Cuội nói dối
như một thói quen bẩm sinh. Bố mẹ mất sớm, phải ở với cậu mợ, Cuội thực
thi cách sống dối trá ngay trong gia đình. Sự lừa lọc cứ thế đi từ hồn
nhiên sang mục đích vụ lợi, cuối cùng biến thành tội ác (dẫn đến cái
chết của cả cậu lẫn mợ).
E.Nordemann, người Pháp đã ghi lại câu chuyện về Cuội như thế trong sách Quảng tập viêm văn,
một thứ văn tuyển đầu tiên của văn học Việt Nam in ra từ 1898 (bản dịch
tiếng Việt 2006). Trong phần từ vựng về văn hóa Việt Nam, ông nói rõ sự
bóc lột quá đáng của nhà nước và tình trạng rối loạn của xã hội đã là
những nguyên nhân dẫn đến một số thói xấu thường trực. Theo lời ông,
chúng in dấu vào đặc tính của dòng giống. Mà một khuynh hướng có tính
bản năng về nói dối, về giấu giếm và cả ăn cắp, là những thói xấu được
Nordemann nêu lên đầu tiên.
Trong một bài viết in trên báo Văn Nghệ số
ra 10/01/1974, một nhà báo mỹ là Lady Borton kể rằng lúc đầu đến Việt
Nam, bà có phần choáng ngợp trước một xã hội lành mạnh, mọi người rất
ham đọc sách, rõ ra một xã hội có giáo dục. Còn giờ đây, bà được chứng
kiến muôn điều tồi tệ. Một lần, tại một trong những trường đại học nổi
tiếng nhất Hà Nội, bà dự buổi kiểm tra ở một lớp tiếng Pháp. Mọi sinh
viên còn rất trẻ, người nào cũng lanh lợi. Thế mà lúc làm bài thi, chỉ
thấy họ trổ ra mọi mánh lới man trá. Trong một giờ bà đã nhìn thấy những
mánh lới nhiều hơn cả quãng đời trước đó của bà cộng lại, Lady Borton
xem đây như một điều khủng khiếp.
Và khủng khiếp hơn, nhà báo Mỹ
ghi tiếp, là hôm đó có một ông thầy tiếng Pháp trông lớp, ông ta ngồi đó
suốt thời gian thi và chẳng nói gì. Cảm thấy không thể hiểu được nữa,
Lady Borton chỉ có cách đạp vội xe về văn phòng, mặt mũi nhợt nhạt.
Vậy ta có thể bảo đặc tính lớn nhất của sự gian dối ở người Việt là tình trạng phổ biến của nó? Có lẽ đành phải nói vậy!.
Còn
như lý do khiến cho sự gian dối đó kéo dài, một phần là vì người ta
thường nương nhẹ với mình và luôn luôn tìm ra lý do để biện hộ.
Câu chuyện Trí khôn của ta đây là một trong những câu truyện dân gian phổ biến được đưa vào Quốc văn giáo khoa thư,
dạy cho học sinh lớp dự bị, thời Pháp thuộc. Nhưng ta hãy để ý chính là
ở đây còn người đã nói dối con cọp để tự chứng tỏ sự khôn ngoan của
mình. Trí khôn được định nghĩa không phải là sự hiểu biết, sự đào sâu
suy nghĩ mà là sự gian dối.
(còn tiếp)
Vương Trí Nhàn
Thói hư tật xấu người Việt: Cái còn lại sau bất lực là ảo tưởng
24/12/2013 10:18
(Thethaovanhoa.vn) - Sách Việt sử cương mục tiết yếu của Đặng Xuân Bảng có đoạn viết về một sự việc xảy ra thời Trịnh Doanh:
“Doanh
để tâm xem xét mọi việc, đặt ống đồng ở cửa phủ, cho ai có việc gì,
hoặc bị oan khuất, được bỏ thư vào đó, cứ năm ngày một lần trình lên
Chúa. Nhưng sau đó điều tra lại những điều dân chúng mật cáo quan lại
tham nhũng, thấy phần nhiều không đúng. Một viên quan là Lê Trọng Thứ,
cha Lê Quý Đôn khải rằng: Lòng người ngày nay khác xưa, yêu ghét khen
chê chưa chắc đã công bằng cả… Nếu muốn phân biệt hay hèn, thì nên cho
trình bày bằng lời nói, thử tài bằng việc làm, khảo sát thực tế bằng
công trạng, chứ không nên làm lối cáo giác bí mật, vì chỉ tăng thêm cái
tội kèn cựa nhau”.
Theo ngôn ngữ hiện đại, trước mắt chúng ta là
một quá trình dân chủ, nhà cầm quyền muốn được nghe ý dân để tiện quản
lý xã hội. Nhưng người dân làm hỏng nó một cách tự nhiên. Đằng sau thất
vọng về một sáng kiến là nỗi thất vọng chung về những con người.
Sự
tình nói trên nếu không phải là câu chuyện riêng của thời Lê Trịnh. Vài
nhà viết sử đôi khi từng đưa ra câu chuyện dân chủ ở nông thôn. Nhưng
các công trình nghiên cứu kỹ càng hơn cho biết làng xóm người Việt chủ
yếu do các dòng họ thao túng, cái gọi là dân chủ ở đây chỉ làm phép. Bản
thân người dân không đủ trình độ tham gia công việc của cộng đồng.
Thường họ chỉ nhìn ra rất nhanh cái gì có lợi là trụ bám thật kiên trì
để giành phần hơn, ngoài ra sẵn sàng dửng dưng chây bửa. Không ai bảo ai
mà tự nhiên ai cũng tự nhủ trốn được việc gì hay việc ấy. Cha chung
không ai khóc, ngại đóng góp vào việc chung đã thành một lẽ sống. Những
cuộc bàn cãi ở làng xưa thường diễn ra vô nghĩa, nhiều khi những ý kiến
lăng nhăng tùy tiện lại trở thành tiếng nói cuối cùng.
Đây cũng
là tình trạng chi phối xã hội. Càng sống, càng tiếp xúc với thiên hạ,
các thế hệ nối tiếp đặt ra cho mình biết bao hoài vọng. Song sự nhân từ
nhiều khi lại là một cách “diệu” nhất để khuyến khích sự lười biếng, sự
tin cậy biến thành chỗ dựa cho dối lừa, và lòng tốt thì không bao giờ đủ
sức đương đầu với thói vụ lợi. Cứ thế, biết bao sáng kiến bị chôn vùi,
các phần tử tinh hoa, càng cụ cựa, càng sầy vẩy và cảm giác bất lực đến
cả với những người còn rất trẻ.
Học là gì? Nói cho gọn, học là
cách con người muốn sống một cách có ý thức, muốn vượt lên những tầm
thường dại dột để tự đào tạo, để bản thân trưởng thành mà xã hộ ngày một
thịnh trị. “Người mình ai cũng ham học”, một nhận xét như thế đã thành
câu cửa miệng. Nhưng nhìn kỹ thấy quan niệm chung về học lại quá sơ sài,
người ta chỉ cầu nhàn và bằng lòng dừng lại ở những kiến thức sơ đẳng.
Ham học nhát chỉ là những người muốn đi làm quan. Chuyện sôi kinh nấu sử
cũng như quên mình thi cử rốt cuộc là động tác của kẻ muốn có mảnh bằng
để gõ cửa quan trường, còn như con người ham học thì ngày càng mất hút.
Dân
tộc nào thì cũng vậy thôi, bi kịch chung của nhân loại là sự phân ly
thường trực giữa nguyện vọng và khả năng thực tế. Nhưng ở người Việt,
tấn bi kịch này có một sắc thái riêng mà câu tục ngữ Miệng khôn trôn dại
đã nói được gần đủ. Thế nào là đẹp, thế nào là hay nhiều khi không phải
ta không biết. Nhưng còi cọc yếu ớt, con người lý trí ở ta nhanh chóng
bị con người bản năng tầm thường kéo lùi trở lại. Miệng thì khôn mà trôn
thì dại, ta bị cuốn vào những hành động tầm thường, hư hỏng. Để tan vỡ
mọi ước ao. Để trôi tuột khỏi tay mọi cơ hội.
Sau bao bất lực,
con người có nản lòng cũng không lạ. Một sự bi quan bao trùm dai dẳng.
Nó ngấm sâu vào tâm trí, nó âm thầm di truyền, và trong một ít trường
hợp hiếm hoi làm nên sự biết điều, sự nhẫn nhục rất đáng vì nể.
Song
phổ biến hơn, là sự xuất hiện thường trực của ảo tưởng. Ta sẵn sàng
khoác cho những công việc bé nhỏ những ý nghĩa đâu đâu. Những mỹ từ thật
kêu được lạm phát để phong tặng cho những con người và đồ vật loàng
xoàng. Khái niệm sáng tạo bị hạ giá. Nhiều người trở nên thích làm bộ
làm tịch phô trương khoe mẽ. Họ sống như diễn trò. Họ kỳ công tìm kiếm
và khoác cho mình những danh hiệu hão huyền chỉ cốt lừa mị xung quanh.
Thói sĩ diện đang được tha bổng vì ngày một phổ biến.
Khi đi vào
nông thôn Việt Nam, cả các nhà xã hội học lẫn các nhà văn hiện đại từng
ghi lại một hủ tục: người Việt ở các làng xóm thường hám danh. Họ sẵn
sàng dốc tiền cả đời dành dụm và bán nhà bán cửa để mua nhêu mua xã; sau
một lần khao vọng thì đẩy vợ con đi làm thuê.
Còn tệ làm hồ sơ
giả để vinh danh cho quê hương thì kéo dài đến hiện nay, xưa là xin sắc
chỉ vua ban và ngày nay là xin bằng di sản văn hóa. Lúc này cái gì người
ta cũng sẵn sàng làm, sự dối trá bao phủ, khiến cho thiện chí và ảo
tưởng chỉ còn hiện ra với bộ mặt thảm hại.
(còn tiếp)
Vương Trí Nhàn
Thói hư tật xấu người Việt: Khôn lỏi – Ranh vặt – Tinh tướng
27/12/2013 09:32
(Thethaovanhoa.vn) - Một
người đã sống qua ở Nhật cho biết người Nhật trong khi giao thiệp, nhất
là trong khi làm kinh tế cũng có nhiều quái chiêu không thể thương
được. Đầu cơ, móc ngoặc, hối lộ, nói chung là đi đường tắt…trò gì cũng
có cả.
Nhiều người trong đám dân đi chào mời tiếp thị (gọi
là “mizu shobai”), như có bùa mê thuốc lú, làm cho người ta phải xiêu
lòng, rồi sau mới biết mình bị lừa.
Bài viết so sánh: “Cái tinh
ma thâm độc của họ khác với cách xảo trá ngô nghê hay dối quanh của
người Việt, nên lúc đầu rất khó nhận ra”.
Có chút gì đó vừa “vui”
vừa buồn khi nghe nhận xét trên đây. “Vui” vì không phải chỉ người Việt
thích lừa lọc nhau, thiên hạ cũng xấu chẳng kém gì ta. Mà buồn vì hóa
ra người Việt mình rút cục chỉ biết mẹo vặt, chứ không có cái mưu đồ sâu
xa, cái thâm trầm như thiên hạ.
Hơn bù kém, thấy đáng buồn hơn
vui. Người bị lừa vừa bật cười vừa bực mình – đến lừa mà cũng vụng dại
hớ hênh, thì còn làm được cái gì nên hồn (!).
Người nước ngoài
thường nhận xét nói chung người Việt mình thông minh lanh lợi. Nhưng họ
cũng thấy ngay sự nhạy cảm nhanh nhẹn trong phản ứng này không dựa trên
một sự suy nghĩ chắc chắn mà có gì đó nông nổi vội vã. Trong sự chủ động
lại như mang sẵn yếu tố thị động.
Bản thân chúng ta không phải không biết điều đó.
Trong
tiếng Việt từ “khôn” không hàm ý sâu sắc trong tư duy và uyên bác trong
kiến thức, mà ngã sang một sự tính toán lặt vặt dễ gây phản cảm.
Đó
là nghĩa của “khôn” trong những câu tục ngữ “khôn ăn người, dại người
ăn”, “khôn văn tế, dại văn bia”, “khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua
lời”, “khôn sống, mống chết”, “khôn nên quan, gan nên giàu”, “khôn ngoan
chẳng lọ thật thà – lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy”…
Theo
từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “khôn” là khả năng suy xét để một
người tìm ra một cách xử sự có lợi nhất, tránh được những gì có hại đến
quyền lợi các mặt của anh ta. Khôn lỏi – ranh ma – láu cá… đều là thực
dụng và vụ lợi.
Tuy không dùng đến từ khôn, nhưng câu “Ăn cỗ đi
trước, lội nước đi sau” thật đã thâu tóm đủ cái tài tính toán của người
mình và minh họa cho định nghĩa nói trên.
Tồn tại trong suốt lịch
sử, công thức này đã thành một thứ “chân lý mặc định”, người Việt dùng
nó để “minh triết bảo thân” và việc truyền dạy trong các gia đình được
xem là hoàn toàn tự nhiên. Không ai mang nó ra phê phán bao giờ. Gặp một
người hành động theo nguyên tắc đó, chúng ta hoàn toàn thông cảm, trong
bụng hiểu rằng ai cũng phải xử sự thế thôi, trông người khôn ta phải
học theo để khi khác áp dụng.
Cả trong truyện kể dân gian lẫn
trong chính sử, người xưa còn ghi lại nhiều mưu mẹo vặt của người mình
trước sứ Tàu. Nguyễn Văn Tố trong Đại Nam dật sử (1944)
kể khi tiếp Tống Cảo, Lê Hoàn cho xua trâu bò của dân ra để dọa, gọi là
quan ngưu, không đầy một nghìn nói khoe là mười vạn. Đấy là khi cần
khoa trương thế lực. Còn nói tới việc khoe trí khôn, hẳn ai cũng nhớ sự
tích Trạng Quỳnh thi vẽ: Quỳnh chấm cả mười đầu ngón tay vào mực để vẽ
giun.
Về khoản khôn ngoan ranh vặt thì Trạng Quỳnh là cả một
tượng đài vĩnh viễn. Trong danh sách những điển hình của tính cách Việt,
nhân vật này bao giờ cũng đứng đầu sổ.
Thời xã hội mới bước sang
giai đoạn xã hội hóa, Nguyễn Công Hoan được biết tới như một ngòi bút
giàu chất An Nam bậc nhất. Người Việt trong các tác phẩm của ông đôi khi
cũng ngớ ngẩn, ngờ nghệch, nhưng phổ biến và được ông diễn tả hơn cả là
loại láu cá và rất giỏi biến báo trong đối xử. Như viên tri châu nọ,
trong truyện sáu mạng người, sau khi bắn nhầm mấy người dân đi hái
thuốc, thì vu cho người ta là giặc khách để báo lên quan trên lấy
thưởng. Như gã nhà giàu nọ, có ông chú từ quê lên chơi, muốn đuổi, liền
kêu ầm lên mất ví để buộc ông ta phải bỏ về sớm. Và như trường hợp cụ
Chánh Bá có đôi giày cũ, nhân đi ăn giỗ, bắt thằng nhỏ vứt béng ra sau
vườn, để bắt vạ nhà chủ, buộc người ta mua đền đôi giày mới.
Các
nhân vật nông dân của Nguyễn Khải loại như Tuy Kiền cũng nổi tiếng là
ranh ma. Trong việc tính toán giành lấy một chút lợi riêng, họ ở vào thế
yếu. Luôn luôn họ phải che giấu, lẩn tránh và tìm ra mưu mẹo để tự
khẳng định. Họ thường hiện ra vừa đáng yêu, vừa đáng ghét.
So với
“khôn lỏi, “ranh vặt”, thì “tinh tướng” có nghĩa hơi khác một chút, nó
được dùng để chỉ những người không những đã khôn mà còn muốn phô ra để
cho người khác biết. Đọc Ngô Tất Tố hẳn ai cũng nhớ mẩu chuyện Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập.
Cái việc khoe rằng, mình có sáng kiến chế biến đất ra đủ các loại thức
ăn chính là dấu hiệu của một lối xử thế tinh tướng, dù ở đây, người ta
thấy ghét thì ít mà tội nghiệp nhiều hơn.
(còn tiếp)
Vương Trí Nhàn
|