(Thethaovanhoa.vn) - Năm
Ngọ nói chuyện Ngựa, câu hỏi đầu tiên là: chữ Ngọ - tên một trong mười
hai địa chi của âm lịch, có nguồn gốc từ lâu đời tại Trung Quốc, mang âm
vang hao hao với chữ Ngựa, tên của động vật tượng trưng cho địa chi ấy.
Vậy Ngọ, chữ Hán, và Ngựa, tiếng thuần Việt có họ hàng gì với nhau
không?
* Ngọ và Ngựa
Hai danh từ cận âm cận nghĩa, từ lâu ta vẫn cho là tình cờ. Như tên người phát thơ và chữ facteur, tên món phở và chữ pot au feu trong tiếng Pháp, cải bắp và cabbage trong tiếng Anh.
Nhưng sao nhiều trùng hợp quá: năm Mão, hay Mẹo gần với chữ Mèo, trong khi người Tàu gọi là năm Thỏ ?
Trước
đây, nhân một bài viết về Năm Thìn và con Rồng, giáo sư ngữ học Nguyễn
Tài Cẩn có đề xuất: chữ Thìn có thể là tên gọi một loài rồng rắn trong
ngôn ngữ Proto Việt Chứt, mà tiếng Việt Mường là một tiểu chi. "Giới ngữ
học quốc tế đang cố gắng tìm nguồn gốc tên gọi 12 năm ở những ngữ hệ,
Austro Thái, họ Nam Á ... cố gắng tìm xem Hợi có gần với Cúi, Sửu có gần
Trâu, Ngọ có gần với Ngựa hay không" ( ). Nên ghi nhận thêm: người ta
nói năm Ngựa, tuổi Ngựa, mà không nói "giờ Ngựa" thay cho giờ Ngọ. Chữ
Ngọ Môn không ai dịch thành "Cửa Ngựa". Vậy giữa Ngọ và Ngựa, tương quan
không phải chỉ là ngữ âm.
Dù sao, trước mắt, chúng ta vẫn có viễn tượng giải quyết một vấn đề văn hoá mà chúng ta ... không đặt ra.

Tranh ngựa của Văn Cao
Ngựa Hồ, gió bấc
Xưa nay, Việt Nam không có truyền thống sử dụng ngựa rộng rãi như Trung Quốc.
Ngay ở Trung Quốc thời xưa, cư dân lưu vực sông Hoàng Hà cũng không có ngựa hay, như các sắc tộc phía Tây hay phía Bắc.
Thời
nhà Thương, 2000 năm trước tây lịch, người Hoa (tạm gọi như thế) đã
biết sử dụng chiến xa do ngựa kéo. Nhưng chưa có kỵ binh và dường như
cũng chưa biết chăn nuôi ngựa nòi. Họ phải mua, hay cướp ngựa các dân
tộc phía Tây Bắc. Đến đời Tần-Hán, họ đã dùng chiến mã thuần thục, nên
mới có câu nói của Hán Cao Tổ "Ta ngồi trên lưng ngựa mà chiếm được thiên hạ, cần gì Thi Thư", và Lục Giả đã trả lời: "Ngồi trên lưng ngựa chiếm được thiên hạ, nhưng không trị được thiên hạ" và Hạng Võ, vào bước đường cùng ở bến Ô Giang mới làm thơ biệt Ngu Cơ "thời bất lợi hề, ngựa không đi".
Trong
di chỉ An Dương, mười thế kỷ trước Tây lịch, người ta đã thấy vết tích
ngựa kéo xe. Trong phần mộ đời Tần, có nhiều tượng ngựa bằng đất nung và
xương ngựa. Thời Đông Hán còn để lại những phù điêu tô màu, vẽ rõ nét
cảnh đi săn, người cưỡi ngựa và đoàn xe ngựa kéo. Người Tàu ưa vẽ ngựa,
càng ngày càng đẹp, như Hàn Cán đời Đường, tạo ra cả một trường phái qua
bức tranh lụa Một Trăm con Ngựa (27 cm x 300 cm) mô tả mọi sinh hoạt : ngựa phi, ngựa đùa, ngựa tắm... Có khi họ diễn đạt tình cảnh, tâm trạng ngựa, như Con Ngựa bị cột của Hàn Cán (720-780) hay Người và Ngựa trong cơn bão của Triệu Mộng Phu (1254-1322). Gần đây Từ Bi Hồng vẫn còn vẽ rất nhiều tư thế, tâm trạng Ngựa.
Tranh ngựa của Trung Quốc là cả một thế giới riêng, có quy luật, có giá trị mỹ thuật, tâm lý và nhân văn riêng.
Còn con ngựa trong văn thơ của họ, là một đề tài vô cùng tận.
Ngựa Việt, Phương Nam
Người
Việt đồng bằng ít dụng ngựa. Ngàn xưa đã vậy. Những khai quật các di
chỉ Đông Sơn, cho thấy nhiều xương trâu, bò, heo, gà, mà không thấy
xương ngựa. Chư vị sử gia đều nhất trí cho rằng thời Hùng Vương, tổ tiên
ta chưa sử dụng ngựa.
Dù rằng truyền thuyết vẫn nhắc đến ngựa:
Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc, thần Tản Viên cưỡi ngựa bạch, đi
trên mây, An Dương Vương đèo công chúa Mỵ Châu trên lưng ngựa... nhưng
đây là chuyện truyền khẩu, không lấy gì làm bằng cớ, do đời sau ghi lại
trong Lĩnh Nam Chích Quái.
Về
sau, ngựa cũng không mấy khi được ghi công vào những cuộc chiến đấu của
dân tộc như voi: Hưng Đạo Vương cưỡi voi qua sông Hoá, Bình Định Vương
cưỡi voi đánh Đông Đô, Quang Trung cưỡi voi tấn công vào Hà Hồi. Ngựa có
chiến tích là con NGỰA ĐÁ thời Trần, qua câu thơ Nhân Tông: "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã" (xã tắc hai lần bon ngựa đá). Điều đó không có nghĩa là thời xưa, người Việt không biết đến ngựa. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư kể
lại rằng: Năm 1134, có người dâng lên vua Lý Thần Tông con ngựa màu hoa
đào, đầu xanh, có sáu cựa, chân trước một, chân sau hai cựa.
Văn học dân gian cũng ít có ngựa. Trong tục ngữ, thành ngữ, ngựa là một biểu tượng mâu thuẫn: một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ,
ngựa là hình ảnh đoàn kết, tương thân tương ái; nhưng nó lại tượng
trưng cho lòng tham không đáy ở câu cạn tàu ráo máng. Khi nói: lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu là ca ngợi lòng trung thành của loài vật; nhưng nói ngựa quen đường cũ là chê thói hư tật xấu. Thân trâu ngựa, trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa, ngựa non háu đá, là những ẩn dụ miệt thị.
Thậm chí, những tính từ ngựa, đĩ ngựa, thường
chỉ áp đặt cho phụ nữ, chê bai lối sống tự do, phóng túng, là những từ
kỳ thị nữ giới, bất công và lạc hậu. Người Huế khi nói "con ngựa Thượng
Tứ" là phỉ báng nặng lời.
Trong ca dao, hình ảnh ngựa không nhiều và không rõ nét. Nguyễn Văn Ngọc, trong Tục Ngữ Phong Dao (1928) có sưu tập :
Rập rềnh nước chảy qua đèo,
Bà già tấp tểnh mua heo cưới chồng
Ý muốn nói sự việc khó khăn, trái với tự nhiên. Trong bộ sưu tập ca dao của Nguyễn Xuân Kính (1995) có câu rập khuôn :
Rung rinh nước chảy qua đèo
Ngựa đua xuống biển, thuyền chèo lên non
Có người giải thích là phản ánh thuyết vô thường của nhà Phật.
Ngựa thường là biểu tượng cho quyền thế, giàu sang :
Năm con ngựa bạch sang sông
Năm gian nhà ngói đèn trong đèn ngoài...
Đèn thương nhớ ai ...
Hoặc là :
Ngựa ô yên khấu bằng vàng
Chân nạm bằng bạc
Ba vuông nhiễu thắm
Một bộ áo gấm
Thiếp sắm cho chàng
Kinh lại hồi kinh
Những hình ảnh đó đã đi vào dân ca, qua điệu Lý Ngựa Ô :
Ngựa Ô anh thắng kiệu vàng
Anh tra khớp bạc
Lục lạc đồng đen ...
Văn
học thành văn trước kia chịu ảnh hưởng hán học, sau này chịu ảnh hưởng
phương Tây, cho nên đều có nhiều hình ảnh ngựa, hàm súc và thi vị. Nhưng
đây là đề tài quá rộng, cần một bài viết khác.
Chúng tôi muốn
dừng lại ở bóng dáng con ngựa trong câu ca dao Phú Yên, gọi là hò Phú
Ơn. Có lần, khoảng 1955, Nguyễn Tuân tiễn bạn, một đêm mưa gió. Nửa
khuya, quán nghèo. Nguyễn Tuân cầm ống thổi lửa, cảm khái gõ ngón tay
đánh nhịp và hò :
Chiều chiều mượn ngựa ông Đô
Mượn kiệu chú lính đưa cô tôi về
Ngựa ô đi đến quán Lau
Ngựa hồng đủng đỉnh đi sau gò Điền
Chuyện do Tô Hoài kể, không phải trong Chiều Chiều , mà trong Cát Bụi Chân Ai...
(1) Nguyễn Tài Cẩn, Về tên con Rồng của Người Việt, báo Diễn Đàn, số 94, Paris. In lại trong Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, tr. 27-28, NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 2001.
Đặng Tiến
Tết Giáp Ngọ, 2014
Thể thao & Văn hóa
)