Thứ bảy, 25/04/2026
Chào mừng các bạn đến với Website Họ Đỗ Việt Nam.
Trang chủ
Thông tin việc họ
Lịch sử Họ Đỗ Việt Nam
Truyền thống
Sức khoẻ – Trí tuệ – Hữu ích
Thông tin hai chiều
Tài trợ và đóng góp
Thông tin họ bạn
Câu lạc bộ họ Đỗ
Trang thông tin họ đỗ mới
Điểm tin các báo
Thời tiết
Bài ca dòng họ Đỗ Việt Nam
RSS
Quang Cao
Quang Cao
Tin tiêu điểm
Số lượt người truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1
mod_vvisit_counterHôm trước0
Hà Nội
Du bao thoi tiet - Thu do Ha Noi
Huế
Du bao thoi tiet - Co do Hue
Đà Nẵng
Du bao thoi tiet - Thanh pho Ho Chi Minh
TP - Hồ Chí Minh
Du bao thoi tiet - Thanh pho Da Nang
 
 
Năm Giáp Ngọ nói chuyện ngựa E-mail
03/02/2014
 

Năm Giáp Ngọ nói chuyện ngựa

Trong số 12 con vật biểu tượng của 12 con giáp, con ngựa là một trong những con vật được con người coi trọng và sử dụng nhiều nhất.

Năm Giáp Ngọ nói chuyện ngựa - Ảnh 1

 
Ngựa có dáng vẻ đẹp đẽ, oai vệ mà thanh nhã, hiền lành. Ngựa có nhiều màu do đó có những tên gọi khác nhau tùy theo sắc lông: Tuyền màu trắng gọi là ngựa bạch; trắng chen một ít đen gọi là ngựạ kim; đen tuyền gọi là ngựa ô; đen pha tí đỏ gọi là ngựa khứu; đen pha nhiều đỏ gọi là ngựa hởi; đen pha đỏ tươi là ngựa vang; đen pha đỏ đậm là ngựa hồng; trắng đen pha chút đỏ là ngựa đạm; tím đỏ pha đen là ngựa tía; trắng sọc đen là ngựa vằn...

Năm Giáp Ngọ nói chuyện ngựa - Ảnh 2

 
Về cách đi đứng của con ngựa có đến hơn một tá động từ để diễn tả như: đi, bước, rảo, chạy, nhảy, kiệu, phóng, vút, phi (bay), tế, sải, lao, vọt, phốc...
Từ thượng cổ đến nay, khắp nơi trên thế giới, hầu hết các dân tộc đều dùng ngựa để cưỡi, đi chơi, làm việc, ra trận, kéo xe, kéo cày, chở thư, thi thể thao, biểu diễn nghệ thuật, trang trí lễ hội...
Khi xe cơ giới chưa ra đời thì con ngựa là phương tiện hành luân nhanh nhất. Rất nhiều đội kỵ binh đã vượt hàng vạn dặm đất đai mệnh mông, núi non hiểm trở, từ nước này sang nước khác như những đội kỵ binh của các đế chế La Mã, Mông Cổ lừng danh trong lịch sử.

Năm Giáp Ngọ nói chuyện ngựa - Ảnh 3

 
Trong ngôn ngữ xuất hiện cụm từ thiên lý mã để chỉ những con ngựa chạy nhanh nghìn dặm, phi ngựa là cưỡi ngựa chạy như bay. Có cả cụm từ lạm phát phi mã để chỉ nạn lạm phát không kiềm chế nổi. Ngày nay, máy móc đã phát triển đến trình độ rất cao, người ta vẫn lấy sức ngựa (mã lực) làm tiêu chuẩn tính sức mạnh của động cơ...
Rất nhiều nhà điêu khắc tài hoa, họa sĩ nổi tiếng đã tạc tượng, vẽ tranh ngựa in trên sách báo, trưng bày các viện bảo tàng, đền đài, lăng tẩm. Hầu hết các thành phố lớn trên thế giới đều có tượng danh nhân ngồi trên lưng ngựa đặt trang trọng ở các quảng trường, công viên hay trong những lâu đài đồ sộ như tượng của Peter Đại Đế ở St Petersburg, tượng vua Quang Trung ở thành phố Quy Nhơn.

Năm Giáp Ngọ nói chuyện ngựa - Ảnh 4

Tượng của Peter Đại Đế ở St Petersburg
Họa sĩ Trung Quốc Từ Bi Hồng vẽ ngựa nổi tiếng vào bậc nhất thế giới, đã vẽ hàng trăm bức tranh ngựa với tư thế khác nhau cực kỳ sinh động. Kiệt tác tranh ngựa của ông có mặt ở khắp Trung Quốc và hàng trăm nước khác.
Hàng thế kỷ nay, các phương tiện giao thông cơ giới phát triển ở trình độ cao, người ta vẫn thích dùng ngựa kéo xe tang trong những lễ quốc tang trọng thể, hoặc dùng ngựa để diễu binh, duyệt binh.
Có hai sự kiện về con ngựa ở Châu Á liên quan đến nước ta thật là thú vị.
Đầu thế kỷ 13, hoàng tử Lý Long Tường con vua Lý Anh Tông, vì hoàn cảnh lịch sử, đã chạy sang nước Cao Ly (Hàn Quốc) cư trú. ở Cao Ly, Lý Long Tường đã làm nên nhiều việc lớn giúp nhân dân nước này như xây Đài Vọng Quốc, mở trường dạy học. Đặc biệt, ông đã tổ chức chỉ huy quân đội góp phần đánh thắng quân xâm lược, được vua Cao Ly rất khen ngợi, phong làm tướng, thưởng một con ngựa trắng và tặng danh hiệu “Bạch mã tướng quân”.

Năm Giáp Ngọ nói chuyện ngựa - Ảnh 5

Tượng đài Thánh Gióng diệt giặc Ân
Ở Việt Nam hình tượng con ngựa sắt của Thánh Gióng vừa bay vừa phun lửa diệt giặc Ân và sau khi phá tan giặc, liền bay vút lên trời xanh, không chờ lĩnh thưởng, không đợi ghi công...
Theo  báo Nhân dân
 ---------------
 

Năm Ngọ nói chuyện Ngựa

(Thethaovanhoa.vn) - Năm Ngọ nói chuyện Ngựa, câu hỏi đầu tiên là: chữ Ngọ - tên một trong mười hai địa chi của âm lịch, có nguồn gốc từ lâu đời tại Trung Quốc, mang âm vang hao hao với chữ Ngựa, tên của động vật tượng trưng cho địa chi ấy. Vậy Ngọ, chữ Hán, và Ngựa, tiếng thuần Việt  có họ hàng gì với nhau không?

* Ngọ và Ngựa

Hai danh từ cận âm cận nghĩa, từ lâu ta vẫn cho là tình cờ. Như tên người phát thơ và chữ facteur, tên món phở và chữ pot au feu trong tiếng Pháp, cải bắp cabbage trong tiếng Anh.

Nhưng sao nhiều trùng hợp quá: năm Mão, hay Mẹo gần với chữ Mèo, trong khi người Tàu gọi là năm Thỏ ?

Trước đây, nhân một bài viết về Năm Thìn và con Rồng, giáo sư ngữ học Nguyễn Tài Cẩn có đề xuất: chữ Thìn có thể là tên gọi một loài rồng rắn trong ngôn ngữ Proto Việt Chứt, mà tiếng Việt Mường là một tiểu chi. "Giới ngữ học quốc tế đang cố gắng tìm nguồn gốc tên gọi 12 năm ở những ngữ hệ, Austro Thái, họ Nam Á ... cố gắng tìm xem Hợi có gần với Cúi, Sửu có gần Trâu, Ngọ có gần với Ngựa hay không" ( ). Nên ghi nhận thêm: người ta nói năm Ngựa, tuổi Ngựa, mà không nói "giờ Ngựa" thay cho giờ Ngọ. Chữ Ngọ Môn không ai dịch thành "Cửa Ngựa". Vậy giữa Ngọ và Ngựa, tương quan không phải chỉ là ngữ âm.

Dù sao, trước mắt, chúng ta vẫn có viễn tượng giải quyết một vấn đề văn hoá mà chúng ta ... không đặt ra.


Tranh ngựa của Văn Cao

Ngựa Hồ, gió bấc

Xưa nay, Việt Nam không có truyền thống sử dụng ngựa rộng rãi như Trung Quốc.

Ngay ở Trung Quốc thời xưa, cư dân lưu vực sông Hoàng Hà cũng không có ngựa hay, như các sắc tộc phía Tây hay phía Bắc.

Thời nhà Thương, 2000 năm trước tây lịch, người Hoa (tạm gọi như thế) đã biết sử dụng chiến xa do ngựa kéo.  Nhưng chưa có kỵ binh và dường như cũng chưa biết chăn nuôi ngựa nòi. Họ phải mua, hay cướp ngựa các dân tộc phía Tây Bắc. Đến đời Tần-Hán, họ đã dùng chiến mã thuần thục, nên mới có câu nói của Hán Cao Tổ "Ta ngồi trên lưng ngựa mà chiếm được thiên hạ, cần gì Thi Thư", và Lục Giả đã trả lời: "Ngồi trên lưng ngựa chiếm được thiên hạ, nhưng không trị được thiên hạ" và Hạng Võ, vào bước đường cùng ở bến Ô Giang mới làm thơ biệt Ngu Cơ "thời bất lợi hề, ngựa không đi".

Trong di chỉ An Dương, mười thế kỷ trước Tây lịch, người ta đã thấy vết tích ngựa kéo xe. Trong phần mộ đời Tần, có nhiều tượng ngựa bằng đất nung và xương ngựa. Thời Đông Hán còn để lại những phù điêu tô màu, vẽ rõ nét cảnh đi săn, người cưỡi ngựa và đoàn xe ngựa kéo. Người Tàu ưa vẽ ngựa, càng ngày càng đẹp, như Hàn Cán đời Đường, tạo ra cả một trường phái qua bức tranh lụa Một Trăm con Ngựa (27 cm x 300 cm) mô tả mọi sinh hoạt : ngựa phi, ngựa đùa, ngựa tắm...  Có khi họ diễn đạt tình cảnh, tâm trạng ngựa, như Con Ngựa bị cột của Hàn Cán (720-780) hay Người và Ngựa trong cơn bão của Triệu Mộng Phu (1254-1322). Gần đây Từ Bi Hồng vẫn còn vẽ rất nhiều tư thế, tâm trạng Ngựa.

Tranh ngựa của Trung Quốc là cả một thế giới riêng, có quy luật, có giá trị mỹ thuật, tâm lý và nhân văn riêng.

Còn con ngựa trong văn thơ của họ, là một đề tài vô cùng tận.

Ngựa Việt, Phương Nam

Người Việt đồng bằng ít dụng ngựa. Ngàn xưa đã vậy. Những khai quật các di chỉ Đông Sơn, cho thấy nhiều xương trâu, bò, heo, gà, mà không thấy xương ngựa. Chư vị sử gia đều nhất trí cho rằng thời Hùng Vương, tổ tiên ta chưa sử dụng ngựa.

Dù rằng truyền thuyết vẫn nhắc đến ngựa: Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc, thần Tản Viên cưỡi ngựa bạch, đi trên mây, An Dương Vương đèo công chúa Mỵ Châu trên lưng ngựa... nhưng đây là chuyện truyền khẩu, không lấy gì làm bằng cớ, do đời sau ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái.

Về sau, ngựa cũng không mấy khi được ghi công vào những cuộc chiến đấu của dân tộc như voi: Hưng Đạo Vương cưỡi voi qua sông Hoá, Bình Định Vương cưỡi voi đánh Đông Đô, Quang Trung cưỡi voi tấn công vào Hà Hồi. Ngựa có chiến tích là con NGỰA ĐÁ thời Trần, qua câu thơ Nhân Tông:  "Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã" (xã tắc hai lần bon ngựa đá). Điều đó không có nghĩa là thời xưa, người Việt không biết đến ngựa. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư kể lại rằng: Năm 1134, có người dâng lên vua Lý Thần Tông con ngựa màu hoa đào, đầu xanh, có sáu cựa, chân trước một, chân sau hai cựa.

Văn học dân gian cũng ít có ngựa. Trong tục ngữ, thành ngữ, ngựa là một biểu tượng mâu thuẫn: một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ, ngựa là hình ảnh đoàn kết, tương thân tương ái; nhưng nó lại tượng trưng cho lòng tham không đáy ở câu cạn tàu ráo máng. Khi nói: lạc đường nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu là ca ngợi lòng trung thành của loài vật; nhưng nói ngựa quen đường cũ  là chê thói hư tật xấu. Thân trâu ngựa, trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa, ngựa non háu đá, là những ẩn dụ miệt thị.

Thậm chí, những tính từ ngựa, đĩ ngựa, thường chỉ áp đặt cho phụ nữ, chê bai lối sống tự do, phóng túng, là những từ kỳ thị nữ giới, bất công và lạc hậu. Người Huế khi nói "con ngựa Thượng Tứ" là phỉ báng nặng lời.

Trong ca dao, hình ảnh ngựa không nhiều và không rõ nét. Nguyễn Văn Ngọc, trong Tục Ngữ Phong Dao (1928) có sưu tập :

Rập rềnh nước chảy qua đèo,

Bà già tấp tểnh mua heo cưới chồng

Ý muốn nói sự việc khó khăn, trái với tự nhiên. Trong bộ sưu tập ca dao của Nguyễn Xuân Kính (1995) có câu rập khuôn :

Rung rinh nước chảy qua đèo

Ngựa đua xuống biển, thuyền chèo lên non

Có người giải thích là phản ánh thuyết vô thường của nhà Phật.

Ngựa thường là biểu tượng cho quyền thế, giàu sang :

Năm con ngựa bạch sang sông

Năm gian nhà ngói đèn trong đèn ngoài...

Đèn thương nhớ ai ...

Hoặc là :

Ngựa ô yên khấu bằng vàng

Chân nạm bằng bạc

Ba vuông nhiễu thắm

Một bộ áo gấm

Thiếp sắm cho chàng

Kinh lại hồi kinh

Những hình ảnh đó đã đi vào dân ca, qua điệu Lý Ngựa Ô :

Ngựa Ô anh thắng kiệu vàng

Anh tra khớp bạc

Lục lạc đồng đen ...

Văn học thành văn trước kia chịu ảnh hưởng hán học, sau này chịu ảnh hưởng phương Tây, cho nên đều có nhiều hình ảnh ngựa, hàm súc và thi vị. Nhưng đây là đề tài quá rộng, cần một bài viết khác.

Chúng tôi muốn dừng lại ở bóng dáng con ngựa trong câu ca dao Phú Yên, gọi là hò Phú Ơn. Có lần, khoảng 1955, Nguyễn Tuân tiễn bạn, một đêm mưa gió. Nửa khuya, quán nghèo. Nguyễn Tuân cầm ống thổi lửa, cảm khái gõ ngón tay đánh nhịp và hò :

Chiều chiều mượn ngựa ông Đô

Mượn kiệu chú lính đưa cô tôi về

Ngựa ô đi đến quán Lau

Ngựa hồng đủng đỉnh đi sau gò Điền

Chuyện do Tô Hoài kể, không phải trong Chiều Chiều , mà trong Cát Bụi Chân Ai...

(1) Nguyễn Tài Cẩn, Về tên con Rồng của Người Việt, báo Diễn Đàn, số 94,  Paris. In lại trong Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, tr. 27-28, NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 2001.

Đặng Tiến
Tết Giáp Ngọ, 2014
Thể thao & Văn hóa

)


 
< Trước   Tiếp >
 
 
Múi giờ

Trang ảnh










 
 
Copyright © 2006 Ho Do Viet Nam. All rights reserved.
Đ/c :111 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nôi
Khu Đô Thị Tây Nam Linh Đàm
Hotline:091.8830808.
Website: www.hodovietnam.vn - Email: banlienlac@hodovietnam.vn