Thờ cúng tổ tiên: Nét văn hóa truyền thống của người Việt
Nhân
dân ta có câu: “Uống nước nhớ nguồn” hàm ý nhắc nhở con cháu hưởng thụ
thành quả phải nhớ ơn tổ tiên, ông, bà, cha, mẹ - những người đã đổ mồ
hôi nước mắt để làm ra thành quả. Một trong những biểu hiện biết nhớ ơn
tổ tiên là việc thờ cúng trong mỗi gia đình. Người Việt Nam
quan niệm rằng chết không phải là hết. Đó chỉ là mất đi phần xác còn
phần hồn vẫn tồn tại. Cho nên các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ mất đi
nhưng hồn vẫn dõi theo con cháu, giúp đỡ con cháu, thậm chí quở trách
con cháu nếu con cháu sai phạm. Vì vậy con cháu phải thờ cúng và qua
hàng ngàn đời, việc thờ cúng tổ tiên đã thành tín ngưỡng của toàn dân.
Ngày xưa các cụ thờ cúng rất cẩn thận. Bàn thờ phải đặt ở gian giữa
nhà, trên bàn thờ nhà khá giả thường bày nhiều đồ thờ như bài vị, mâm
bồng, cây đèn, đài gỗ, lọ hoa, đỉnh đồng, hạc đồng, bát hương. Trên
tường có treo bức đại tự, hai bên cột có đôi câu đối, nhà nghèo nhất
cũng có cái bàn gỗ để bát hương. Ngày Tết trên bàn thờ có mâm ngũ quả,
đèn nến sáng trưng, bánh chưng, mứt kẹo, rượu chè cùng hương thơm tạo
một cảm giác ấm cúng, thịnh vượng, một không khí làm ăn phát đạt, khi
nấu cỗ cũng không được nếm, bát đũa thật sạch sẽ, người sắp cỗ phải là
đàn ông. Sắp cỗ xong các cụ rửa chân tay, mặt mũi, mặc quần áo, đội khăn
đàng hoàng rồi mới cúng. Thông thường mỗi lần cúng phải cháy hết hương
mới coi là xong. Lúc ấy mới xin phép tổ tiên hạ mâm cho con cháu hưởng
lộc. Trong cỗ cúng nhất thiết phải có trầu cau, đèn hoặc nến và khi cúng
phải mở cửa. Ngày tết thường cúng tổ tiên ba lần: cúng tất niên vào
ngày ba mươi, cúng đầu năm vào sáng mồng một và cúng hóa vàng vào mồng
ba Tết (có nhà cúng hóa vàng vào mồng hai hoặc mồng bốn). Sau cúng là
đốt tiền vàng cho tổ tiên nhận để chi tiêu trong năm.
Ngày
nay do cuộc sống quá sôi động theo nhịp độ công nghiệp, trong mỗi gia
đình thường có sự phân tán mỗi người làm một nơi, một việc khác nhau, sự
khắc nghiệt của thời gian trong lao động và do cả nhận thức nữa nên
việc thờ cúng tổ tiên có nhiều điều hạn chế. Có nhà đặt bàn thờ mãi trên
tầng ba hoặc bốn. Có nhà gắn lên tường một miếng gỗ ở mức quá cao. Có
người để bát hương trên nóc tủ tường khiến việc thắp hương không thuận
lợi, bàn thờ không ấm cúng. Lại có nhà khá giả sắm toàn đồ Hàn Quốc,
Thái Lan, đắt tiền, tốn kém, trong khi đó không hướng dẫn con cháu phải
biết lau chùi bàn thờ, biết thắp hương, biết sửa lễ cúng. Nhất là khi
làm cỗ cúng có người lấy một phần cho trẻ con ăn trước. Có người châm
hương vừa cháy được nửa nén đã vội bê mâm xuống ăn. Và có khá nhiều nhà
dùng đèn điện thay lửa thắp đèn hoặc đốt nến. Nhiều người làm cỗ rất to
nhưng lại quên trầu cau...
Việc thờ cúng tổ tiên không đòi hỏi mâm cao cỗ đầy, đặc sản này đặc sản
nọ. Cũng không đòi hỏi đồ thờ phải hào nhoáng xa hoa tốn phí mà cái cốt
lõi là ở sự thành tâm và kính cẩn không chỉ của riêng người chủ gia
đình mà là thái độ của tất cả mọi người con, em, cháu, chắt. Thờ cúng tổ
tiên mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Mà đã là giáo dục thì phải có sự
dạy bảo con cháu hiểu cúng ai, thờ ai, người ấy là gì trong gia tộc,
thái độ con cháu phải như thế nào. Trước khi cúng phải làm gì? chuẩn bị
cỗ cúng ra sao? cúng thì mặc thế nào? lời cúng thế nào? khi hạ cỗ phải
làm gì? Mỗi lần như vậy giúp cho con cháu hiểu thêm ý nghĩa và việc phải
làm của mình khi thờ cúng tổ tiên, đó cũng là văn hóa.
Ngày xưa con trưởng mới được cúng, con gái, con thứ phải lệ thuộc vào
con trưởng. Ngày nay nhiều gia đình con cháu mỗi người một phương nên
việc cúng cũng cần linh hoạt. Vả lại có nhà không có con trai thì con
gái, con rể cúng cũng được, con nào chả là con. Việc cúng giỗ cũng nên
nhỏ nhẹ trong nội bộ gia đình, tránh mời mọc khách khứa rầm rộ, vừa đỡ
lãng phí công sức và tiền của, vừa đỡ phiền cho mọi người được mời...
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã thành truyền thống của người Việt. Đó
chính là đạo lý, là nếp nhà, là biểu hiện lòng nhân ái, là nét văn hóa
đẹp mà mọi gia đình phải biết chăm lo, hướng dẫn con cháu giữ gìn.
Ban Biên tập
(Nguồn: Theo Báo Hải Dương 2014)
|