Họ
Đỗ (Đậu) Việt Nam do cố GS Đỗ Tòng khởi xướng
thành lập Ban Liên Lạc (BLL) năm 1997. Mười bảy năm qua
họ Đỗ đã dày công đức giúp nhau tìm về cội nguồn.
Khám phá phả hệ. Khảo sát thực địa di tích. Công bố
tư liệu. Hiện đã tìm được trên 400 nhánh họ Đỗ
(Đậu). Điều kỳ diệu là họ Đỗ Việt Nam đã bảo
tồn được ngôi mộ Tổ Bát Bộ Kim Cương tại Gò Thiềm
Thừ (Gò Cóc Thần).
Ngày
22- 5- 2012. Nhà nước đã giao cho họ Đỗ Việt Nam bảo
tồn ngôi mộ Tổ Tiên Gò Thiềm Thừ (Hà Đông- Hà Nội)
trên 5000 năm lịch sử.
Ngày
8 và 9 tháng 3- 2014. Cuộc họp mặt truyền thống họ Đỗ
(Đậu) lần đầu tiên được diễn ra linh thiêng, hoành
tráng tại Gò Thiềm Thừ với sự tham dự của gần 2000
người con trai, gái, già trẻ, dâu rể họ Đỗ trên khắp
nước Việt Nam và nước ngoài cùng đại diện các dòng
họ Việt Nam: Nguyễn, Trần, Vũ, Lê, Mai… dâng tấm lòng
thành kính, tri ân Tổ Tiên Việt.
Lễ
dâng hương mộ cụ Đỗ Quý Thị- Hương Vân Cái Bồ Tát,
mộ các vị Bát Bộ Kim Cương và các vị Liệt tổ, Liệt
tông khói nhang thơm. Trời đầy chim và đất đầy hoa.
Tiếng cháu con đọc văn tế vang trầm hùng sông núi. Hào
quang tỏa rạng chín phương Trời, mười phương Phật.
Từ thuở
hồng hoang mới khai sinh lập địa
Tổ Tiên ta
đã bao phen dời non lấp bể
Cụ
Đỗ Quý Thị là con tể tướng Đỗ Thương và Mẫu Vụ
Tiên/ Công chúa Đoan Trang tên gọi Đỗ Quý Thị/ Tài đức
vẹn toàn, sáng ngời Mẫu Phật/ Là Quốc Mẫu Hương Vân
Cái Bồ Tát/ Đệ nhất Thiên Tiên Thánh Mẫu Việt trước
Công Nguyên/ Cụ kết hôn cùng Nguyễn Minh Khiết sinh ra
Lộc Tục/ Lên động Tiên Phi- Hòa Bình tu nhân tích đức/
Cùng tám người em trai Bát Bộ Kim Cương/ Nuôi dạy Lộc
Tục nên người/ Thay cha lên ngôi Kinh Dương Vương/ Vua
của Trời Nam, Quốc danh Xích Quỷ/ Dân tôn vua Ngọc Hoàng
Thượng đế/ Tôn Mẫu Phật- Đạo Mẫu Việt Nam.
Tám
vị Bát Bộ Kim Cương là tám Cụ Tổ, Tài Trí, Đức,
Dũng phi phàm được phong Phật hiệu. Đỗ Xương- Thanh
Trừ Tai Kim Cương. Đỗ Tiêu- Tịch Độc Thần Kim Cương.
Đỗ Hiệu- Hoàng Tùy Tai Kim Cương. Đỗ Cường- Bạch
Tịnh Thủy Kim Cương. Đỗ Chương- Xích Thanh Hỏa Kim
Cương. Đỗ Dũng- Tịnh Trừ Tai Kim Cương. Đỗ Bích- Từ
Hiền Thần Kim Cương. Đỗ Trọng- Đại Lực Thần Kim
Cương. Các Cụ Tổ được thờ tại những ngôi chùa làng
Việt cổ với tượng Bát Bộ Kim Cương, mỗi vị một
dáng vẻ, cầm một loại vũ khí đầy quyền năng trừ
giặc, tà ma.
Văn
tế Mộ Tổ Bát Bộ Kim Cương
Kể
từ buổi bình minh lịch sử, Tổ Tiên ta khởi nghiệp nơi
đây
Mở
bốn phương Nam, Bắc, Đông, Tây dựng cơ nghiệp trên
miền đất lụa
Đã
từng trải bao phen sóng gió, vẫn uy nghiêm trụ vững với
thời gian
Bắc,
Trung, Nam con cháu đàng hoàng, hơn tám triệu nối dòng họ
Đỗ
Gò
Thiềm Thừ đã hơn năm nghìn năm Tổ Tiên ta anh minh chọn
lựa
Đến
ngày nay vẫn là miền đất cổ giữa Thủ đô tươi đẹp
vô cùng
Mảnh
đất thiêng Rồng cuộn đất anh hùng, niềm tự hào của
cả dòng họ Đỗ
Tựa
núi Ba Vì bức trường thành thiên cổ, đạp biển Đông
sóng vỗ trùng khơi
Dẫu
có đi cuối Đất cùng Trời, chỉ có đất nơi đây là
đắc địa
Gò
Cóc Thần cả nước Nam không nơi nào có, đất anh linh
vạn thuở anh linh
Cụ
Tổ Đỗ Thương từ thuở bình sinh giữu ấn tiên phong
mang gươm đi mở cõi
Đã
viết lên những trang sử vàng chói lọi cho cháu con nối
dõi chí anh hùng
Bát
Bộ Kim Cương, bát trụ triều đình đã treo ấn từ quan
tu thành Phật
Mẫu
Đoan Trang đã bao phen nằm gai, nếm mật vẫn sáng ngời
phẩm chất Đoan Trang
Hơn
lầu son, gác tía, lọng vàng, hoa chi thơm nẻo cũ, cây
phần nức chốn xưa
Trang
nghiêm muôn thuở, còn mãi ngàn thu”.
(Đỗ
Văn Kiện)
“Tiền
nhân họ Đỗ cổ xưa nhất được biết đến, ghi trong
thư tịch là cụ Đỗ Quý Thị, húy là Ngoan, tên tự Đoan
Trang và tám người em trai được phong hiệu Bát Bộ Kim
Cương. Cụ tu theo đạo Sa Bà. Đạo của Đế Thiên Phục
Hy hiệu Hư Không giáo chủ cách đây 5000 năm. Cụ tu nhiều
năm tại hang Tiên Phi- Hòa Bình gọi là Sơn Trại Chúa
Mường, Tây Vương Mẫu, Mẫu Đầm Đa. Khi Lộc Tục được
cha truyền ngôi, xưng Kinh Dương Vương, lập đô ở Kẻ
Xốm, đã đón mẹ về tu ở chùa Đại Bi gần ngã ba Ba
La. Những người dân các dân tộc Bách Việt từ miền
núi đến đồng bằng đều tu Đạo Sa Bà cùng cụ.
Cụ
mất. Dân lập tượng thờ cụ tại chùa Đại Bi. Chùa bị
hủy hoại, dân làng Vân La chuyển tượng thờ ở chùa
Đại Bi về chùa Vân La, cách khu Gò Thiềm Thừ 200m”.
(Sách Đi Tìm Tổ
Tiên Việt- trang 79)
Dòng
họ Đỗ thề nguyện trước Tổ Tiên:
Đời
tiếp đời con cháu/ Nguyện bảo tồn Mộ Tổ/ Mãi mãi
với thời gian/ Sừng sững giữa Đất Trời/ Mộ Tổ
Việt trường tồn.
T.S
Trần Mạnh Quảng- Phó chủ tịch thường trực BLL Hội
đồng các dòng họ Việt Nam. Chủ tịch Hội Đồng Trần
tộc. Cùng K.S Vũ Mạnh Hà- Chủ tịch BLL Hội đồng các
dòng họ Việt Nam, là hai trong những người sáng lập BLL
các dòng họ Việt Nam năm 1995 tại 72- Thụy Khuê- Hà Nội.
Mười bảy năm qua, ông Quảng và ông Hà đã cùng dòng họ
Đỗ và các dòng họ Việt Nam tiến những bước dài nối
dòng chảy Tâm linh nặng tình, nặng nghĩa của người
Việt Nam hiện đại noi gương Tổ Tiên, giữ nước, giữ
nhà.
Trong
buổi hội ngộ dâng hương Tổ Tiên tại Mộ Hương Vân
Cái Bồ Tát và Mộ Bát Bộ Kim Cương Gò Thiềm Thừ, T.S
Trần Mạnh Quảng xúc động khơi dậy Tình thương huyết
thống, cùng hàng nghìn người lắng nghe lời răn dạy của
Tổ Tiên vọng về. Đó là Phúc lớn của Tình yêu giống
nòi. Ông hào sảng nói:
-
Bài ca họ Đỗ đã vang lừng ở nơi địa linh nhân kiệt
Gò Thiềm Thừ. Đỗ Quý Thị và Bát Bộ Kim Cương (tám
người em trai của Cụ) như đã hiện về đây chừng kiến
cảnh gặp mặt hào hùng, nghĩa tình sâu nặng, biết ơn
các vị Tiên liệt. Mộ Tổ là một di sản văn hóa dân
tộc. Mẫu Phật Đỗ Quý Thị, mang tầm Văn hóa Tâm linh
bất diệt. Cụ là Tổ Mẫu của dân tộc buổi bình minh
hình thành đất nước Văn Lang. Cụ tu thành Đạo Mẫu
Phật Việt chứng minh sự trường tồn của dân tộc
Việt. Một dân tộc sống có Đạo từ thuở sơ khai.
Uống nước nhớ nguồn. Một lòng thờ Mẹ kính
Cha. Máu chảy ruột mềm. Thương người như thể thương
thân…
Con
cháu dòng họ Đỗ (Đậu) hôm nay thấu hiểu giá trị lớn
lao của Tổ Tiên đoàn kết trong, ngoài nước, góp những
“Viên gạch hồng” để tôn tạo Miếu Mộ Đỗ Quý
Thị- Hương Vân Cái Bồ Tát và Bát Bộ Kim Cương Gò
Thiềm Thừ.
Gia
đình một doanh nhân Nghệ An đã cung tiến phiến đá quý,
cao, nặng trên 20 tấn để khắc chữ BIA MỘ TỔ
tại Gò Thiềm Thừ.
Mỗi
người dân Việt hôm nay, chung tay, góp sức bảo tồn Mộ
Tổ Tiên cầu mong Quốc thái- Dân an. Trăm họ một
nhà. Thỏa lòng đau đáu bấy lâu của người Việt.
Tiếng
lòng vang trong gió mưa Xuân:
Người
không có Tổ bơ vơ
Mênh mông
không biết bến bờ là đâu…
Mộ Tổ
như ánh trăng rằm
Sáng soi con
cháu ruột tằm bốn phương
Mộ Tổ
một chương sử vàng
Đạo Mẫu Tiên
Tổ dẫn đường non sông
Giữ gìn
Miếu Mộ Tổ Tông
Việt tộc
Nam- Bắc- Tây- Đông tụ về
Đạo Mẫu Thờ Tổ
Tiên Việt
Sách
Bản Sắc Văn Hóa Người Việt T.S Lã Duy Lan đã
phân tích Đạo Mẫu và các vị Thánh Thần Việt được
dân Việt thờ cúng trên 5000 năm qua chính là Nhân Thần.
Là các bậc Tổ Tiên đã sinh thành ra chúng ta ngày nay.
Việc
thờ cúng Nhân Thần với tính cách là những linh
hồn của Tổ Tiên oanh liệt của dân Việt bắt đầu có
từ thời Tiền sử. Bằng chứng là Đạo Sa- môn với Mẫu
Phật Hương Vân Cái Bồ Tát và Kinh Dương Vương được
tôn là Ngọc Hoàng Thượng đế. Bách Việt Triệu Tổ
Cổ Lục ghi các bộ Kinh cổ của Bách Việt: Kinh
Khâm Thiên giải ách Ngọc Hoàng cốt tủy, Kinh Ngũ Bách
Danh, và nhiều bộ Kinh cổ khác…
Đạo
Sa- môn tu nhân, tích thiện, kết nối vô tận, vô cùng vũ
trụ, khi đến Hương Vân Cái Bồ Tát kiêm luôn cả việc
thờ cúng ông bà, Tổ Tiên và nhanh chóng trở thành một
phong tục tập quán, tín ngưỡng phổ biến của nước ta
thời Bách Việt và các vua Hùng.
Theo
TS Lã Duy Lan Đạo Sa- môn có từ hai nguồn gốc.
1.
Ấn tượng về thời Cực Lạc ở chân núi Ba Vì thời Việt
cổ vẫn in dấu ấn mạnh mẽ lên tâm tư các thế hệ
Bách Việt. Đó là thời mọi người cùng ăn, cùng ở,
cùng vui chơi, sinh hoạt và ý thức cộng đồng hòa hợp.
2.
Cảm thức ân nghĩa đã thấm nhuần trong tâm tư các thế
hệ người Việt ngay từ thời sơ sử. Cảm thức này
được hình thành từ trong quá trình khai phá vùng đồng
bằng của họ, trong đó có sự bàn giao mang ý nghĩa trao
truyền giữa các thế hệ đã luôn được vun đắp liên
tục. Đi đến đâu người Việt cổ cũng trồng cây
đa, đắp các hang, đào giếng, ao, và trồng khoai lang, đỗ,
đậu, cà, lạc… khi chuyển nơi khác lại giao cho người
đến sau. (Bách Việt Triệu Tổ Cổ Lục)
Điều
đó tạo thành nét tâm lý phổ biến mang tính truyền
thống của cộng đồng. Uống nước nhớ nguồn. Ăn
quả nhớ kẻ trồng cây.
T.S
Lã Duy Lan và chúng tôi, theo phả cổ, đối chiếu với hệ
thống các bức tượng Phật trong các chùa làng Việt cổ
hiện nay (vùng tống Sốm- Thanh Oai- Hà Nội- Kinh Đô Phong
Châu cổ) và nhiều chùa đồng bằng Bắc bộ, thấy rõ
ngoài ba ngôi tượng Phật Tam Thế và một vị Phật Tổ
Ấn Độ, toàn bộ các tượng trong chùa đều là các bậc
Tổ Tiên Việt từ thời Bách Việt đến thời Hai Bà
Trưng.
Hệ
thống ấy phù hợp với hệ thống các bức tượng thờ
ở khu vực Đền Thượng, Đền Trung, trong 72 đền “Nam
Thiên thất thập nhị từ” vùng tổng Sốm.
Như
vậy Đạo Sa- môn do Mẫu Phật Hương Vân Cái Bồ Tát
truyền lại là Đạo Mẫu Phật, tu thân, tích thiện, kết
nối vũ trụ và Thờ cúng ông bà Tổ Tiên Việt đến
ngày nay vẫn còn hiện diện một cách trọn vẹn trong đời
sống Tâm linh của cộng đồng người Việt Nam. Đó là
kết quả của sự chuyển hóa tôn giáo nguyên thủy thờ
đá, thờ cây sang thờ con người, tu thành Đạo Mẫu Phật
Việt.
Đạo
Mẫu mang giá trị Văn hóa Tâm linh và Nhân văn cơ bản
của dân tộc Việt Nam, trường tồn, bất diệt.
Tổ
Tiên Việt được các thế hệ con cháu Việt cổ tôn thờ
chính là những người khai sơn, phá thạch, những người
mở ra một nghề nghiệp mới, tức là những ANH HÙNG VĂN
HÓA.
Các
vị Tổ Tiên như Phục Hy, Đế Viêm, Thần Nông, Kinh Dương
Vương, Mười tám vua Hùng… ngay từ thời sơ sử đã
được các thế hệ người Việt cổ xếp vào hàng Liệt
Thánh, Liệt Tổ, được cả cộng đồng tôn thờ. Đó là
sức mạnh bất diệt của giống nòi Bách Việt. Chiến
thắng mọi kẻ thù.
Tuy
nhiên trong mấy nghìn năm yêu dấu ấy, thù trong, giặc
ngoài liên tiếp. Nhân dân ta mưu trí, kiên cường bất
khuất, tránh con mắt soi mói giặc tà, thờ cúng Tổ Tiên
một cách khiêm tốn, bí ẩn bằng Thần phả, huyền tích,
cổ tích, huyền thoại truyền miệng trong dân gian.
Linh
thiêng thay! Các vị đã hóa Ngọc Hoàng Thượng đế, Tam
tòa Thánh Mẫu, Thánh, Thần, hồn quấn quyện, tỏa hào
quang từ những pho tượng trong các ngôi chùa cổ.
Sự
phát triển Đạo Mẫu Phật kể từ thời Kinh Dương Vương
trở đi đã được phân ra thành hai hướng. Một hướng
là hệ thống các tượng trong chùa và một hướng được
thờ tại các đền, miếu, đến thời Lê thờ cả trong
đình. Nhưng dù là Phật hay là Thần thì các bậc đó đều
là một gốc sinh ra, đều là những anh hùng Văn hóa, anh
hùng cứu quốc của dân tộc. Nhiều vị vừa là Phật,
vừa là Thần Đi Thần về Phật được dân xây đền
thờ, xây lăng, miếu ở nhiều nơi, mộ thật thì giấu
bí truyền trong dòng họ.
Hình
thức tín ngưỡng thờ cúng Tổ Tiên của người Việt cổ
rất phong phú đa dạng, xuyên suốt đến ngày nay.
Lễ
hội người Việt cổ thờ cúng Trời Đất- Tổ Tiên thời
sơ sử có thể tìm thấy trong các hình trạm khắc trên
mặt và tang Trống Đồng, thạp đồng văn hóa Đông Sơn,
thời các vua Hùng trị vì đất nước. Hình ảnh một đám
rước hay một cuộc dâng lễ diễn ra trên hai chiếc
thuyền nối nhau được khắc trên tang Trống Đồng Ngọc
Lũ. Một thuyền là lễ vật, còn một thuyền là nhân vật
được kính trọng, vì cả hai đều được ngự trên giá
cao. Đằng trước, sau, xung quanh lễ vật và nhân vật
kính trọng còn có nhiều người khác nữa, tay cầm những
vật trang trí bằng lông chim với động tác diễn tả sự
hân hoan, thành kính.
Trải
mấy nghìn năm Đạo Mẫu Phật- Thờ Tổ Tiên Việt vẫn
trường tồn với hình thức Hầu Bóng rực rỡ vào thế
kỷ XV, nay càng rực rỡ khắp năm châu bốn biển theo dấu
chân Đàn Chim Lạc.
Tổ
Tiên hiển linh trở về răn dạy cháu con trong những buổi
hầu bóng, lên đồng tưng bừng trống phách, đàn ca, nhảy
múa, hoành tráng ngũ sắc, tại các ngôi chùa Việt cổ,
miếu đền vùng đồng bằng Bắc Bộ, miền núi cao hẻo
lánh, biên cương sang tận California “Thủ phủ của
Hầu Bóng”.
Trong
lễ Hầu Bóng Tổ Tiên nhập về vui trần gian. Một hình
thức Văn hóa Tâm Linh tuyệt diệu của Đạo Mẫu Phật
Việt.
Tổ
Tiên hiển hiện trong Đạo Mẫu Phật Việt huyền diệu.
Tam
phủ công đồng là thờ ba vị cũng là ba anh em làm
vua ở thời mở đầu nước Xích Quỷ. Thái Khương Công
Nguyễn Minh Khiết, tức Đế Minh làm vua nước Xích Quỷ.
Nguyễn Nghi Nhân, làm vua nước Sở. Nguyễn Long Cảnh còn
gọi là Ba công Đại vương làm vua nước Đại Lý thuộc
miền đồi núi phía Tây nước Xích Quỷ. Ba vị này được
dân gian gọi là Ba vị Đức Chúa hay Đế Thiên
và Nam Tào, Bắc Đẩu.
Tam
Tòa Thánh Mẫu là thờ Tiên Thiên Thánh Mẫu- Hương
Vân Cái Bồ Tát- Vợ của Thái Khương Công Nguyễn Minh
Khiết. Mẫu Thượng Ngàn là Bà Hồng Đăng Ngàn vợ của
Kinh Dương Vương Nguyễn Lộc Tục, Mẫu Thủy hay Mẫu
Thoải là Bà Âu Cơ- Vợ của Lạc Long Quân Nguyễn Lâm.
Tứ
phủ Thần linh là thờ bốn đời Tổ kế tiếp làm
vua và đứng đầu Bách Việt: Thái Khương Công Nguyễn
Minh Khiết. Kinh Dương Vương Nguyễn Lộc Tục. Lạc Long
Quân Nguyễn Lâm. Hùng Quốc Quân Nguyễn Lân tức Hùng
Vương thứ nhất.
Tứ
vị chầu bà là thờ bốn vị Đệ nhất Tiên Thiên Đỗ
Thị Ngoan- Hương Vân Cái Bồ Tát. Đệ nhị Thượng Ngàn
Hồng Đăng Ngàn. Đệ Tam Thủy phủ Âu Cơ. Đệ Tứ Khâm
sai vợ Hùng Quốc Vương là con gái Lạc tướng Chu Diên.
Thờ
Bát Bộ Kim Cương là tám em trai Hương Vân Cái Bồ Tát.
Là tám ông Tổ các nghề rèn sắt, đúc đồng, chế tạo
gốm sứ, công cụ chiến đấu và sinh hoạt thường ngày…
Tám ông Cậu này có công nuôi dạy cháu Lộc Tục và cùng
cháu chiến thắng giặc.
Trong
72 ngôi đền vùng tổng Sốm Kinh đô cổ có hai ngôi đền
thờ liên quan đến câu ca dao:
Con Cóc là
Cậu Ông Trời
Ai mà đánh Cóc
thì Trời đánh cho
Ngôi
đền thờ vua cõi Trời là Kinh Dương Vương Ngọc Hoàng
Thượng đế là ngôi đền khang trang to đẹp nhất gọi
là Đền Thượng. Đến thời vua Thành Thái, thực dân
Pháp phá tổng Sốm, 72 ngôi đền được sơ tán khắp
nơi. Đền Thượng thờ Kinh Dương Vương dời lên làng La
Cả.
Đền
thờ Bát Bộ Kim Cương ở khu vực an tang tám vị họ Đỗ
cũng là một ngôi đền lớn, bề thế, có tượng của
tám vị Kim Cương. Ở sân đền có hai cột đá vuông, cao
tới đầu người. Trên mỗi cột đá có tạc một cụ
Cóc cũng bằng đá tạc liền cột. Để chạy giặc Pháp,
đền thờ Bát Bộ Kim Cương phân tán khắp nơi. Hai cột
đá trên có tượng hai cụ Cóc dựng ở ven sông Nhuệ- Hà
Nội. Nay hại cụ Cóc đã được con cháu họ Đỗ rước
về an vị tại Gò Thiềm Thừ như xưa.
Cóc
là vật linh của người Việt cổ trồng lúa nước. Khắp
đất Việt, loài Cóc vui sống cùng người, cảm nhận
được Trời sắp mưa, phát âm thanh báo. Dân Việt cổ
yêu mến Cóc- bạn hiền giúp gọi mưa. Khi Kinh Dương
Vương được tôn Ngọc Hoàng Thượng đế là “Vua cõi
Trời” thì tám Cậu được tôn vinh Bát Bộ Kim Cương
(kim loại trường tồn) mang biểu tượng Cóc là “Cậu
vua Trời” ban an bình và gọi mưa cho dân lấy nước uống
và cày ruộng. Cóc đã trở thành linh vật thiêng mà dân
trồng lúa nước, suốt đời mong mưa tôn thờ là Cậu
Ông Trời. Không ai được đụng đến Cóc. Trời sẽ đánh
cho.
Thập
vị quan hoàng là mười người con của Đế Minh, Đế
Nghi.
Ba
ông Phúc Lộc Thọ là do dân ta suy tôn, tạc bộ tượng
Ba Ông Phúc Lộc Thọ, lấy tên tự của ba ông vua Việt:
Vua Đế Minh là Phúc Đình. Vua Kinh Dương Vương là Phúc
Lộc. Vua Lạc Long Quân là Phúc Thọ.
Tòa
Cửu Long thờ chín Thủy Tổ, chín dòng giống Hùng
Vương. Các chùa cổ đều đặt trước Tam Bảo một tòa
tượng Cửu Long. Đó là chín con Rồng tượng trưng cho
chín con suối và chín ngôi mộ các vua Hùng đã sinh ra
chín họ Hùng Vương gọi là Thủy Tổ Cửu Tộc. Tòa
tượng Cửu Long còn là biểu tượng Rồng Tiên. Tượng
Hương Vân Cái Bồ Tát, hình một bà sư đầu trọc, mặc
váy, một tay chỉ lên Trời, một tay trỏ xuống Đất
đứng trong vòng Càn Khôn của Tòa tượng Cửu Long.
Bộ
tượng Bát Bộ Kim Cương trong các chùa Việt cổ là
tám người em trai của Mẫu Hương Vân Cái Bồ Tát.
Mười
tám vị La Hán là mười tám vị vua Hùng có công lớn,
được dân tôn thành mười tám vị Phật, thờ trong các
chùa. Các vị vẫn luôn đau đáu thương đời. Nhà thơ
Huy Cận hỏi Mười tám vị La Hán chùa Tây phương:
Đau đời
có cứu nổi đời không?
Đạo
Mẫu Phật Việt hướng con cháu vui sống Tâm Thiện, không
đòi hỏi cúng lễ vàng mã nhiều, tượng to, cỗ mặn,
xôi thịt linh đình “Miệng nam mô bụng một bồ dao
găm” mà khuyến nhủ mỗi người:
Tu Tâm, tích Thiện, nhân từ
Nhường cơm sẻ áo, đường trần lòng son
Một lòng vì nước, vì non
Trồng nên quả Phúc cho con cháu mình.